Hoàng Như Hải
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Đoạn trích ở phần Đọc hiểu gây ấn tượng trước hết bởi nghệ thuật biểu đạt giàu cảm xúc và giàu sức gợi. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng tinh tế, lựa chọn những hình ảnh quen thuộc mà giàu giá trị biểu tượng, qua đó làm nổi bật chủ đề tư tưởng của văn bản. Biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ (nếu có) được vận dụng linh hoạt, giúp ý tưởng trở nên sinh động, cụ thể hơn thay vì khô khan, trừu tượng. Giọng điệu khi thì tha thiết, trầm lắng, khi lại mạnh mẽ, suy tư, tạo nên chiều sâu cảm xúc và tác động tích cực đến người đọc. Bên cạnh đó, cách lập luận chặt chẽ, kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng đã làm tăng tính thuyết phục cho thông điệp được gửi gắm. Tất cả những yếu tố nghệ thuật ấy không chỉ góp phần thể hiện rõ nội dung tư tưởng của đoạn trích mà còn khơi gợi trong người đọc những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống và con người.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Lòng tốt từ lâu đã được xem là một trong những phẩm chất đẹp đẽ nhất của con người. Ý kiến: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh” đã gợi ra một cách nhìn toàn diện và sâu sắc về giá trị cũng như cách thể hiện lòng tốt trong cuộc sống.
Trước hết, lòng tốt là sự yêu thương, sẻ chia, là mong muốn đem lại điều tích cực cho người khác mà không toan tính thiệt hơn. Trong cuộc sống đầy những áp lực và tổn thương, một lời động viên chân thành, một hành động giúp đỡ đúng lúc có thể trở thành liều thuốc tinh thần quý giá. Lòng tốt giúp hàn gắn những rạn nứt trong các mối quan hệ, xoa dịu nỗi đau, tiếp thêm niềm tin để con người vượt qua khó khăn. Nhiều người từng đứng bên bờ tuyệt vọng đã tìm lại được ánh sáng nhờ sự quan tâm và yêu thương từ người khác. Rõ ràng, lòng tốt có sức mạnh chữa lành, bởi nó xuất phát từ trái tim và chạm đến trái tim.
Tuy nhiên, ý kiến trên không dừng lại ở việc khẳng định giá trị của lòng tốt mà còn nhấn mạnh: lòng tốt cần “đôi phần sắc sảo”. Sắc sảo ở đây không phải là sự lạnh lùng hay toan tính, mà là sự tỉnh táo, sáng suốt khi trao đi yêu thương. Nếu thiếu sự cân nhắc, lòng tốt có thể bị lợi dụng, thậm chí vô tình tiếp tay cho điều xấu. Chẳng hạn, giúp đỡ một người lười biếng bằng cách bao bọc, làm thay mọi việc cho họ lâu dài sẽ khiến họ ỷ lại, mất đi ý chí vươn lên. Khi đó, hành động tưởng như tốt đẹp lại mang đến hệ quả tiêu cực. Lòng tốt thiếu hiểu biết và nguyên tắc sẽ trở nên mù quáng, giống như “con số không tròn trĩnh” – nhìn thì đầy đặn nhưng thực chất không mang giá trị.
Vì vậy, lòng tốt cần đi cùng trí tuệ. Sự sắc sảo giúp ta biết giúp ai, giúp như thế nào và giúp đến mức độ nào. Đó là khả năng đặt ra giới hạn, biết nói “không” khi cần thiết, biết phân biệt giữa sự cảm thông và sự dung túng. Một người thực sự tốt bụng không chỉ cho đi mà còn hướng người khác đến sự trưởng thành, tự lập. Lòng tốt đúng nghĩa là trao cần câu chứ không chỉ cho con cá; là nâng đỡ để người khác tự đứng vững chứ không phải giữ họ mãi trong vòng tay che chở.
Trong xã hội hiện đại, khi các mối quan hệ ngày càng phức tạp, việc giữ được lòng tốt đã khó, giữ được lòng tốt một cách thông minh lại càng quan trọng hơn. Mỗi người cần học cách cân bằng giữa trái tim và lí trí. Hãy sống nhân ái nhưng đừng cả tin; hãy sẵn sàng giúp đỡ nhưng cũng phải tôn trọng giá trị bản thân và nguyên tắc sống của mình.
Tóm lại, lòng tốt là món quà quý giá mà con người dành cho nhau, có khả năng chữa lành và kết nối. Tuy nhiên, để lòng tốt thực sự phát huy ý nghĩa, nó cần được soi sáng bởi sự tỉnh táo và hiểu biết. Khi trái tim ấm áp song hành cùng trí tuệ sáng suốt, lòng tốt mới trở thành sức mạnh bền vững, góp phần làm cho cuộc sống trở nên nhân văn và tốt đẹp hơn.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
– Tình cảm/cảm xúc của bản thân:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân.