Phạm Trần Khánh Ly

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Trần Khánh Ly
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

  • 1
  • 4


  • PTPhạm Trần Khánh Ly


OLM App phiên bản mới, cập nhật trải nghiệm ngay!

PT Phạm Trần Khánh Ly

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

CK Cô Kiều Nga Manager VIP9 tháng 2 - olm

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.

MÙA CỎ NỞ HOA

Con yêu ơi!
Nếu mẹ là cánh đồng
Con là cỏ nở hoa trong lòng mẹ
Dẫu chẳng đủ rộng dài như sông bể
Vẫn chứa chan ngày nắng dưới mặt trời
Khi đêm về hứng muôn ánh sao rơi
Sương lấp lánh đọng trong ngần mỗi sớm
Cỏ yêu nhé cứ hồn nhiên mà lớn
Phủ xanh non lên đất mẹ hiền hoà
Rồi một ngày cỏ nở thắm muôn hoa
Cánh đồng mẹ rộn ràng cùng gió mát
Cỏ thơm thảo toả hương đồng bát ngát
Và rì rào cỏ hát khúc mùa xuân
Những mạch ngầm trong đất mãi trào dâng
Dòng nước mát ngọt ngào nuôi dưỡng cỏ
Niềm hạnh phúc giản đơn và bé nhỏ
Được bên con mãi mãi đến vô cùng.

(Hồng Vũ, Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3 năm 2019, trang 44)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Bài thơ "Mùa cỏ nở hoa" được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai?

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ dưới đây.

"Cỏ thơm thảo toả hương đồng bát ngát
Và rì rào cỏ hát khúc mùa xuân"

Câu 4. Những dòng thơ dưới đây cho thấy người mẹ có mong ước như thế nào đối với con?

"Cỏ yêu nhé cứ hồn nhiên mà lớn
Phủ xanh non lên đất mẹ hiền hoà"

Câu 5. Hãy đề xuất một số việc bản thân có thể làm để gìn giữ và vun đắp tình mẫu tử cao quý. (Trình bày khoảng 5 − 7 dòng)

#Hỏi cộng đồng OLM#Ngữ văn lớp 8    1 PT DM ༒☬Đăng Minh☬༒ (Meokonhonguongthuoc) CTVHS 9 tháng 2

Câu 1.
Bài thơ “Mùa cỏ nở hoa” được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Chủ thể trữ tình trong bài thơ là người mẹ, đang trực tiếp bày tỏ tình yêu thương, suy nghĩ và ước mong dành cho con.

Câu 3.
– Biện pháp tu từ nhân hoá thể hiện ở các từ ngữ: “cỏ thơm thảo”, “cỏ hát”.
– Tác dụng: làm cho hình ảnh cỏ trở nên sống động, có hồn như con người; qua đó thể hiện vẻ đẹp trong trẻo, tươi vui của sự sống và gián tiếp bộc lộ niềm tự hào, hạnh phúc dịu dàng của người mẹ khi nghĩ về con.

Câu 4.
Những dòng thơ cho thấy người mẹ mong con lớn lên một cách hồn nhiên, trong sáng, phát triển tự nhiên, khỏe mạnh và mang lại niềm vui, sức sống cho cuộc đời, cho “đất mẹ” hiền hòa.

Câu 5.
Để gìn giữ và vun đắp tình mẫu tử cao quý, em cần biết yêu thương, kính trọng và nghe lời mẹ. Em nên quan tâm, chia sẻ với mẹ từ những việc nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Cố gắng học tập tốt, sống tốt để mẹ yên lòng và tự hào. Khi mẹ mệt mỏi, em cần biết cảm thông, giúp đỡ mẹ. Quan trọng nhất là luôn trân trọng và biết ơn tình yêu bao la mà mẹ dành cho mình.

 Đúng(0) Các câu hỏi dưới đây có thể giống với câu hỏi trên PH Phạm Hà Ngân 7 tháng 9 2025 - olm KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi... Đọc tiếp #Hỏi cộng đồng OLM#Ngữ văn lớp 8    1 PT NV Nguyễn Việt Dũng CTVVIP 8 tháng 9 2025

Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232

 Đúng(1) PH Phạm Hà Ngân 7 tháng 9 2025 - olm KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi... Đọc tiếp #Hỏi cộng đồng OLM#Ngữ văn lớp 8    5 PT NV Nguyễn Việt Dũng CTVVIP 8 tháng 9 2025

Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).

 Đúng(0) NV Nguyễn Việt Dũng CTVVIP 8 tháng 9 2025

Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).

 Đúng(0) NN Nguyễn Nhật Minh 1 tháng 10 2025 - olm Hai câu thơ khiến em ấn tượng nhất trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là:"Cá đâu đớp động dưới chân bèo,Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."Hai câu thơ gợi lên không gian mùa thu vô cùng yên ả, tĩnh lặng và đậm chất làng quê Bắc Bộ. Hình ảnh "cá đâu đớp động" dưới làn nước tưởng như phẳng lặng làm hiện rõ sự tĩnh mịch đến mức chỉ một âm thanh nhỏ cũng trở nên nổi bật.... Đọc tiếp #Viết đoạn văn#Ngữ văn lớp 8    0 PT ND Nguyễn Dung 18 tháng 10 2017 Đọc bài thơ mẹ và quả của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Mẹ và Quả - Nguyễn Khoa Điềm- Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi Và chúng tôi, một thứ quả trên... Đọc tiếp #Hỏi cộng đồng OLM#Ngữ văn lớp 8    2 PT NT nguyễn thị hoàng lan 18 tháng 10 2017

Câu C :Mẹ và Quả
- Nguyễn Khoa Điềm -


Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời khi như mặt trăng
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.


Bài thơ là một hiện minh thuyết phục về luật nhân - quả trong cuộc sống con người - thế giới khách quan với tính biện chứng sâu sắc của nó. Hình tượng Mẹ và Quả xuyên suốt toàn bài thơ làm sáng rõ thêm cho luật nhân - quả (nhân nào thì quả ấy...) đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi chúng ta.

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

Hai câu thơ mở đầu là một sự khẳng định, định hướng tính biện chứng về luật nhân - quả. Vì sao như vậy? Vì:

"Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng"

chứ không trông chờ, cậy nhờ vào tay của ai khác. Dẫu tay của ai khác có thể khoẻ, chắc (!) hơn tay mẹ nhưng phẩm chất của mẹ là tự lực cánh sinh. Là người từng trải mẹ không thiếu kinh nghiệm về sự trả giá đó. Mẹ chỉ thu hoạch được, hái được những mùa quả từ tay mẹ vun trồng mà thôi. Những mùa quả với mẹ cần thiết biết bao, không thể thiếu nó được. Và nữa, những mùa quả không phải lúc nào cũng có, thậm chí có khi "thất bát" trắng tay nhưng thường là tuần tự theo một chu kỳ nhất định, lặn rồi lại mọc – như mặt trời khi như mặt trăng. Cho nên theo mẹ không thể “Đại Lãn chờ sung" mà được, phải có thời gian vun trồng, chăm sóc và chờ đợi. Sự “vun trồng” của mẹ phụ thuộc vào mẹ, vun trồng chu đáo kỹ lưỡng ắt sẽ được quả tốt, ngược lại, thì...

Thời gian chăm sóc - chờ đợi là thời gian quả lặn. Còn khi thu hoạch (quả chín, quả đến kỳ hái được), chính là thời gian quả mọc. Hai từ "lặn" và "mọc" thật ấn tượng. Đây là một ẩn dụ đầy tính sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khi nói về luật nhân - quả trong chu kỳ trồng trọt của nhà nông.

Nhưng vấn đề không dừng lại ở quy luật trồng trọt của nhà nông. Điều chính yếu là trong bài thơ này là Nguyễn Khoa Điềm nói đến công lao dưỡng dục sinh thành của người mẹ đối với con cái. Tay mẹ như có phép thần nên "lũ chúng tôi" (là con của mẹ) cứ thế lớn lên qua sự chăm sóc nuôi dưỡng của mẹ.

"Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi".

Các câu thơ đọc lên nghe thật ấm áp, dân giã, tưởng như không có gì dân giã hơn, bởi đó là lời ăn tiếng nói hàng ngày gắn bó thân thiết của nhà nông. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn quả bí, quả bầu với đặc trưng của nó là "lớn xuống", hình dáng lại "mang dáng giọt mô hôi mặn" nhằm diễn tả nỗi khổ nhọc, vất vả của mẹ. Biết bao giọt mồ hôi mặn của mẹ đã nhỏ xuống âm thầm, lặng lẽ để “kết nên” những quả bí, quả bầu.

Điều thiết thực là, chính những quả bí, quả bầu này (có thể còn nhiều loại hoa màu khác) lại là nguồn sống nuôi dưỡng cho "lũ chúng tôi" lớn lên. Hẳn là mẹ rất vui và tin tưởng vào sự "vun trồng" của mình sẽ được đền bù xứng đáng. Không có người mẹ nào nuôi con mà kể công lao. Trái lại, con cái nhiều khi... Thế nên, dân gian mới truyền đời

"Mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi mẹ tính tháng ngày công".

Ngẫm thật chạnh lòng phải không bạn?! Chính vậy mà cha ông vẫn luôn răn dạy con trẻ rằng:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Như vậy, đủ thấy các bậc làm cha làm mẹ luôn mong muốn gì ở các con? Nguyễn Khoa Điềm đã lý giải điều đó một cách chân thành, mộc mạc và thấm thía qua khổ thơ cuối của bài. Từ chuyện quả thật do cây tạo ra đến quả - con người do dưỡng dục mà thành – là một chuyển ý bất ngờ độc đáo của nhà thơ:

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái

Tứ của bài thơ chính là ở hai câu này. Đời của mẹ đã bao lần hái được quả nhưng điều để mẹ toại nguyện hơn cả là mong muốn các con trở thành một thứ "quả lành có ích" cho đời vì mẹ đã "thất thập cổ lai hy" rồi. Tưởng thế là đủ không cần phải nói gì thêm. Đọc tiếp hai câu cuối của bài thơ mới thấy chữ HIẾU của đứa con đặt ra vượt hẳn trên sự nghĩ bình thường của mẹ, của nhân gian:

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

Thật là tài tình. Đứa con Nguyễn Khoa Điềm nghĩ được như vậy quả là đại hiếu đối với mẹ. Đằng sau nỗi day dứt thường niên đó là một tấm lòng "cho tròn chữ hiếu mới là đạo con" của nhà thơ. Rằng, bất cứ ai đọc Mẹ và Quả, hẳn đều cảm ơn mẹ - chính mẹ đã có công sinh thành, dưỡng dục nên một người con tuyệt vời là tác giả của bài thơ trên.
Dẫu không phải xếp lớp "tập này tập nọ" nhưng công chúng yêu thơ đã "đọc anh" là "bắt mắt" liền.

Âm hưởng sử thi và trữ tình công dân là hai cảm hứng chủ đạo, thông qua bút pháp tả thực và điển hình hoá cao độ trên cái nền cuộc sống đầy biến động được tinh lọc qua nhãn quan sáng suốt, nên Nguyễn Khoa Điềm luôn trụ vững với thời gian, tạo một vị thế xứng đáng trong nền thơ dân tộc. Mẹ và Quả trên đây là một trong rất nhiều bài thơ hay "không thể kể hết" của nhà thơ.

 

Câu 1. Thể thơ tự do.

Câu 2. 

– Người bộc lộ cảm xúc: nhân vật “tôi” (người lính).

– Cuộc gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và bà cụ (một người mẹ Việt Nam anh hùng).

Câu 3.

– Biện pháp so sánh.

– Tác dụng:

+ Giúp người đọc hình dung sự ấm áp của “ổ rơm” do chính tay bà cụ chuẩn bị cho người lính, tuy đơn sơ nhưng ấm hơn cả chăn đệm. Qua đó, cho thấy được tình cảm yêu thương, che chở của bà mẹ Việt Nam anh hùng dành cho những người lính.

+ Giúp câu thơ gợi hình, gợi cảm, diễn đạt mượt mà hơn.

Câu 4. 

– Học sinh nhận xét về hình ảnh “ổ rơm” trong bài thơ:

+ Hình ảnh chân thực, thân thuộc trong đời sống của những gia đình nghèo khó, lấy rơm lót ấm chỗ nằm khi không có chăn đệm.

+ Hình ảnh khơi gợi trong lòng tác giả tình yêu thương, sự biết ơn sâu sắc.

+ Hình ảnh thể hiện tình cảm yêu thương, sự bảo bọc, chở che của người mẹ Việt Nam anh hùng. Người mẹ luôn lo lắng, chăm sóc cho những chiến sĩ bằng tất cả những gì họ có, không ngại hiểm nguy.

Câu 5. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm yêu thương, sự biết ơn sâu sắc của nhân vật “tôi” (người lính) dành cho bà mẹ Việt Nam đã giúp đỡ, cưu mang mình trong một lần lỡ đường giữa đồng chiêm.

Câu 6. 

Học sinh trình bày cảm nhận của mình sau khi đọc bài thơ.

– Đảm bảo về hình thức của đoạn văn.

– Trình bày được cảm nhận của bản thân sau khi đọc bài thơ.

Truyện ngắn "Trở về" của Thạch Lam không chỉ ghi dấu ấn bởi phong cách viết giàu chất trữ tình mà còn chứa đựng bài học nhân văn sâu sắc. Đoạn trích tràn đầy cảm xúc, tập trung miêu tả cuộc trở về thăm mẹ của nhân vật Tâm - một câu chuyện thấm đẫm tình cảm gia đình nhưng lại chất chứa những khoảng cách và vô cảm.

Ngay từ đầu đoạn trích, tác giả đã khéo léo xây dựng bối cảnh làng quê nghèo nàn, với căn nhà cũ kĩ, mái gianh xơ xác, như một sự phản chiếu chân thực về cuộc sống của người mẹ già. Bà là hiện thân của sự hy sinh thầm lặng, suốt đời tần tảo vì con, nhưng đổi lại, bà chỉ nhận được sự xa cách, lạnh lùng từ người con trai. Cuộc gặp gỡ đầy xúc động khi “bà cụ ứa nước mắt” nhận ra con trai, càng khiến người đọc chạnh lòng bởi niềm vui của bà không được trọn vẹn. Thái độ của Tâm - cộc lốc, hời hợt - dường như vô tình giẫm lên lòng yêu thương chân thành của người mẹ già.

Đoạn trích nhấn mạnh vào sự đối lập trong cảm xúc của hai nhân vật chính: bà mẹ và Tâm. Người mẹ, dù đã già nua và yếu đuối, vẫn luôn dành sự ân cần chăm sóc, lo lắng cho con. Những câu hỏi như “Năm ngoái bác Cả lên tỉnh bảo cậu ốm, tôi lo quá…” là biểu hiện rõ nét của tình mẫu tử ấm áp. Trái ngược với đó, Tâm chỉ trả lời qua loa, lãnh đạm và không mảy may để tâm đến những gì mẹ nói. Sự thờ ơ của anh là minh chứng cho những giá trị bị mai một nơi con người sống trong nhịp sống vội vã của thành phố.

Hình ảnh nhân vật Tâm còn được khắc họa rõ hơn qua hành động vội vã rời đi, mang theo vẻ tự mãn khi để lại số tiền cho mẹ. Tiền bạc, dẫu lớn lao, không thể bù đắp cho tình cảm đã bị rạn nứt, càng khiến nỗi cô đơn của bà mẹ thêm rõ ràng. Chi tiết “bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt” đã nói lên tất cả sự đau lòng và bất lực của một người mẹ đối với đứa con trai xa cách cả về tình cảm lẫn tâm hồn.

Bút pháp trữ tình của Thạch Lam trong đoạn trích này được thể hiện qua những hình ảnh tinh tế, giàu sức gợi. Tác giả không cần dùng những lời lẽ hoa mỹ, mà chỉ qua những chi tiết giản dị như tiếng guốc thong thả hay sự ẩm thấp của căn nhà, đã dựng lên một bức tranh chân thực về cuộc sống khó khăn, cô quạnh của bà mẹ già. Đồng thời, cảm giác lạnh lẽo thấm vào người nhân vật Tâm cũng là một ẩn dụ, gợi sự lạnh nhạt, vô cảm trong mối quan hệ mẹ con.

Qua đoạn trích, Thạch Lam gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: Tình yêu thương gia đình là giá trị thiêng liêng, không thể thay thế bằng tiền bạc hay vật chất. Những người con, dù đi xa đến đâu, cũng không nên quên đi nguồn cội, nơi có những bàn tay luôn chờ đợi và trái tim luôn mong nhớ. Tác phẩm khơi dậy trong lòng người đọc sự đồng cảm với bà mẹ già và nhắc nhở về trách nhiệm của con người.

 


**a) Tứ giác BHCK là hình gì?**

* **Bước 1:** Xét tứ giác BHCK có: \(\hat{B H C} = \hat{B K C} = 9 0^{\circ}\) (BE, CF là đường cao)

* **Bước 2:** Suy ra tứ giác BHCK nội tiếp đường tròn đường kính BC.

* **Bước 3:** Vì BHCK nội tiếp đường tròn đường kính BC nên \(\hat{H K B} = \hat{H C B}\) (cùng chắn cung HB).

* **Bước 4:** Mặt khác, \(\hat{H C B} = \hat{H A B}\) (cùng phụ với \(\hat{A B C}\)).

* **Bước 5:** Từ bước 3 và bước 4 suy ra \(\hat{H K B} = \hat{H A B}\).

* **Bước 6:** Xét tam giác HKB và tam giác HAB có:

    * \(\hat{H K B} = \hat{H A B}\) (chứng minh trên)

    * \(\hat{K H B} = \hat{A H B} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) \(\triangle H K B sim \triangle H A B\) (g.g)

* **Bước 7:** Từ bước 6 suy ra \(\frac{H K}{H A} = \frac{H B}{H B} = 1 \Rightarrow H K = H A\).

* **Bước 8:** Xét tam giác HKA có HK = HA nên tam giác HKA cân tại H.

* **Bước 9:** Do đó, \(\hat{H A K} = \hat{H K A}\).

* **Bước 10:** Mặt khác, \(\hat{H K A} = \hat{H C B}\) (cùng chắn cung HB).

* **Bước 11:** Từ bước 9 và bước 10 suy ra \(\hat{H A K} = \hat{H C B}\).

* **Bước 12:** Xét tam giác HAK và tam giác HCB có:

    * \(\hat{H A K} = \hat{H C B}\) (chứng minh trên)

    * \(\hat{A H K} = \hat{C H B} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) \(\triangle H A K sim \triangle H C B\) (g.g)

* **Bước 13:** Từ bước 12 suy ra \(\frac{H K}{H C} = \frac{H A}{H B} = 1 \Rightarrow H K = H C\).

* **Bước 14:** Từ bước 7 và bước 13 suy ra HK = HA = HC.

* **Bước 15:** Xét tứ giác BHCK có:

    * HK = HA = HC (chứng minh trên)

    * \(\Rightarrow\) Tứ giác BHCK là hình thoi.

**b) Gọi M là trung điểm của BC. Chứng minh H, M, K thẳng hàng.**

* **Bước 1:** Vì M là trung điểm của BC nên HM là đường trung tuyến của tam giác HBC.

* **Bước 2:** Mặt khác, BHCK là hình thoi nên HM cũng là đường cao của tam giác HBC.

* **Bước 3:** Do đó, HM vuông góc với BC.

* **Bước 4:** Vì HK = HC nên HK là đường trung tuyến của tam giác HKC.

* **Bước 5:** Mặt khác, \(\hat{H K C} = 9 0^{\circ}\) nên HK cũng là đường cao của tam giác HKC.

* **Bước 6:** Do đó, HK vuông góc với KC.

* **Bước 7:** Từ bước 3 và bước 6 suy ra H, M, K thẳng hàng.

**c) Từ H kẻ HG vuông góc với BC (G thuộc BC). Lấy điểm I thuộc tia đối của tia GH sao cho GH = GI. Chứng minh tứ giác BCKI là hình thang cân.**

* **Bước 1:** Xét tứ giác BCKI có:

    * \(\hat{B K I} = \hat{C K I} = 9 0^{\circ}\) (BK, CK vuông góc với AB, AC)

    * \(\Rightarrow\) Tứ giác BCKI nội tiếp đường tròn đường kính BC.

* **Bước 2:** Vì BCKI nội tiếp đường tròn đường kính BC nên \(\hat{B I K} = \hat{B C K}\) (cùng chắn cung BK).

* **Bước 3:** Mặt khác, \(\hat{B C K} = \hat{H K B}\) (cùng chắn cung HB).

* **Bước 4:** Từ bước 2 và bước 3 suy ra \(\hat{B I K} = \hat{H K B}\).

* **Bước 5:** Xét tam giác BIK và tam giác BHK có:

    * \(\hat{B I K} = \hat{H K B}\) (chứng minh trên)

    * \(\hat{B K I} = \hat{B K H} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) \(\triangle B I K sim \triangle B H K\) (g.g)

* **Bước 6:** Từ bước 5 suy ra \(\frac{B I}{B H} = \frac{B K}{B K} = 1 \Rightarrow B I = B H\).

* **Bước 7:** Mặt khác, GH = GI nên BH = BI = GH + HI = GI + HI = HI.

* **Bước 8:** Do đó, BH = HI.

* **Bước 9:** Xét tứ giác BCKI có:

    * BI = BH (chứng minh trên)

    * \(\hat{B K I} = \hat{C K I} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) Tứ giác BCKI là hình thang cân.

**Kết luận:**

* a) Tứ giác BHCK là hình thoi.

* b) H, M, K thẳng hàng.

* c) Tứ giác BCKI là hình thang cân.

**a) Tứ giác BHCK là hình gì?**

* **Bước 1:** Xét tứ giác BHCK có: \(\hat{B H C} = \hat{B K C} = 9 0^{\circ}\) (BE, CF là đường cao)

* **Bước 2:** Suy ra tứ giác BHCK nội tiếp đường tròn đường kính BC.

* **Bước 3:** Vì BHCK nội tiếp đường tròn đường kính BC nên \(\hat{H K B} = \hat{H C B}\) (cùng chắn cung HB).

* **Bước 4:** Mặt khác, \(\hat{H C B} = \hat{H A B}\) (cùng phụ với \(\hat{A B C}\)).

* **Bước 5:** Từ bước 3 và bước 4 suy ra \(\hat{H K B} = \hat{H A B}\).

* **Bước 6:** Xét tam giác HKB và tam giác HAB có:

    * \(\hat{H K B} = \hat{H A B}\) (chứng minh trên)

    * \(\hat{K H B} = \hat{A H B} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) \(\triangle H K B sim \triangle H A B\) (g.g)

* **Bước 7:** Từ bước 6 suy ra \(\frac{H K}{H A} = \frac{H B}{H B} = 1 \Rightarrow H K = H A\).

* **Bước 8:** Xét tam giác HKA có HK = HA nên tam giác HKA cân tại H.

* **Bước 9:** Do đó, \(\hat{H A K} = \hat{H K A}\).

* **Bước 10:** Mặt khác, \(\hat{H K A} = \hat{H C B}\) (cùng chắn cung HB).

* **Bước 11:** Từ bước 9 và bước 10 suy ra \(\hat{H A K} = \hat{H C B}\).

* **Bước 12:** Xét tam giác HAK và tam giác HCB có:

    * \(\hat{H A K} = \hat{H C B}\) (chứng minh trên)

    * \(\hat{A H K} = \hat{C H B} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) \(\triangle H A K sim \triangle H C B\) (g.g)

* **Bước 13:** Từ bước 12 suy ra \(\frac{H K}{H C} = \frac{H A}{H B} = 1 \Rightarrow H K = H C\).

* **Bước 14:** Từ bước 7 và bước 13 suy ra HK = HA = HC.

* **Bước 15:** Xét tứ giác BHCK có:

    * HK = HA = HC (chứng minh trên)

    * \(\Rightarrow\) Tứ giác BHCK là hình thoi.

**b) Gọi M là trung điểm của BC. Chứng minh H, M, K thẳng hàng.**

* **Bước 1:** Vì M là trung điểm của BC nên HM là đường trung tuyến của tam giác HBC.

* **Bước 2:** Mặt khác, BHCK là hình thoi nên HM cũng là đường cao của tam giác HBC.

* **Bước 3:** Do đó, HM vuông góc với BC.

* **Bước 4:** Vì HK = HC nên HK là đường trung tuyến của tam giác HKC.

* **Bước 5:** Mặt khác, \(\hat{H K C} = 9 0^{\circ}\) nên HK cũng là đường cao của tam giác HKC.

* **Bước 6:** Do đó, HK vuông góc với KC.

* **Bước 7:** Từ bước 3 và bước 6 suy ra H, M, K thẳng hàng.

**c) Từ H kẻ HG vuông góc với BC (G thuộc BC). Lấy điểm I thuộc tia đối của tia GH sao cho GH = GI. Chứng minh tứ giác BCKI là hình thang cân.**

* **Bước 1:** Xét tứ giác BCKI có:

    * \(\hat{B K I} = \hat{C K I} = 9 0^{\circ}\) (BK, CK vuông góc với AB, AC)

    * \(\Rightarrow\) Tứ giác BCKI nội tiếp đường tròn đường kính BC.

* **Bước 2:** Vì BCKI nội tiếp đường tròn đường kính BC nên \(\hat{B I K} = \hat{B C K}\) (cùng chắn cung BK).

* **Bước 3:** Mặt khác, \(\hat{B C K} = \hat{H K B}\) (cùng chắn cung HB).

* **Bước 4:** Từ bước 2 và bước 3 suy ra \(\hat{B I K} = \hat{H K B}\).

* **Bước 5:** Xét tam giác BIK và tam giác BHK có:

    * \(\hat{B I K} = \hat{H K B}\) (chứng minh trên)

    * \(\hat{B K I} = \hat{B K H} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) \(\triangle B I K sim \triangle B H K\) (g.g)

* **Bước 6:** Từ bước 5 suy ra \(\frac{B I}{B H} = \frac{B K}{B K} = 1 \Rightarrow B I = B H\).

* **Bước 7:** Mặt khác, GH = GI nên BH = BI = GH + HI = GI + HI = HI.

* **Bước 8:** Do đó, BH = HI.

* **Bước 9:** Xét tứ giác BCKI có:

    * BI = BH (chứng minh trên)

    * \(\hat{B K I} = \hat{C K I} = 9 0^{\circ}\)

    * \(\Rightarrow\) Tứ giác BCKI là hình thang cân.

**Kết luận:**

* a) Tứ giác BHCK là hình thoi.

* b) H, M, K thẳng hàng.

* c) Tứ giác BCKI là hình thang cân.

a) 2(3x - 1) = 10

3x - 1 = 10 : 2

3x - 1 = 5

3x = 5 + 1

3x = 6

x = 6 : 3

x = 2

b) (3x + 4)² - (3x - 1)(3x + 1) = 49

9x² + 24x + 16 - 9x² + 1 = 49

24x + 17 = 49

24x = 49 - 17

24x = 32

x = 32 : 24

x = 4/3


a) (5x³y² - 3x²y + xy) : xy

= 5x³y² : xy + (-3x²y : xy) + xy : xy

= 5x²y - 3x + 1

b) A + 2M = P

A = P - 2M

= 3x³ - 2x²y - xy + 3 - 2.(x³ - x²y + 2xy + 3)

= 3x³ - 2x²y - xy + 3 - 2x³ + 2x²y - 4xy - 6

= (3x³ - 2x³) + (-2x²y + 2x²y) + (-xy - 4xy) + (3 - 6)

= x³ - 5xy - 3

Vậy A = x³ - 5xy - 3

Hệ vận động ở người có cấu tạo gồm bộ xương và hệ cơ.

- Xương được cấu tạo từ chất hữu cơ và chất khoáng. Bộ xương ở người được chia thành ba phần: xương đầu, xương thân, xương chi. Nơi tiếp giáp giữa các đầu xương là khớp xương.

- Cơ bám vào xương nhờ các mô liên kết như dây chằng, gân.

b. Tập thể dục, thể thao vừa sức, đều đặn giúp nâng cao sức khỏe và hệ vận động.

- Tăng lưu lượng máu và oxygen tới não → hệ thần kinh linh hoạt hơn.

- Tăng thể tích oxygen khuếch tán vào máu và tăng tốc độ vận động của các cơ hô hấp → tăng sức khỏe hệ hô hấp.

- Tăng phân giải → duy trì cân nặng hợp lí.

- Kích thích tạo tế bào cơ, tăng hấp thu glucose và sử dụng oxygen, tăng lưu lượng máu đến cơ → tăng sức bền của cơ và tăng khối lượng cơ.

- Tim đập nhanh hơn và máu chảy nhanh hơn → cơ tim và thành mạch khỏe hơn.

- Màng hoạt dịch tiết chất nhầy đầy đủ, dây chằng vững chắc, dẻo dai hơn → khớp khỏe hơn.

- Kích thích các tế bào tạo xương, sụn ở đầu xương → tăng khối lượng và kích thước xương.

Đun bếp than trong phòng kín dễ gây ra hiện tượng ngạt thở vì:

- Do phòng kín nên không khí khó lưu thông được với bên ngoài (thậm chí không thể lưu thông với bên ngoài). Khi đun bếp than thì lượng O2 có trong phòng đã tham gia vào phản ứng cháy, đồng thời tạo ra khí CO2 và CO. Kết quả hàm lượng khí O2 giảm, hàm lượng CO và CO2 tăng.

- CO dễ dàng kết hợp với hemoglobin trong máu tạo thành carboxyhemoglobin qua phản ứng:Hb + CO → HbCO. HbCO là một hợp chất rất bền, khó bị phân tách, do đó máu thiếu Hb tự do chuyên chở O2 dẫn đến tế bào thiếu O2 nên gây ra hiện tượng ngạt thở.


a) bàn nhôm lạnh hơn vì nhôm có tính dẫn nhiệt tốt hơ gỗ

Khi sờ tay vào,nhiệt từ tay truyền sang bàn nhôm nhanh hơn so với bàn gỗ do nhôm là vật liệu dẫn nhiệt tốt.sự mất nhiệt nahnh chóng ày khiế tay có cảm giác bàn nhôm lạnh hơn,mặc dù 2 bàn có cùng nhiệt độ

b)đổ nước tới vạch max để tránh nước trào ra ngoài khi sôi

Khi đun sôi,nước giãn nở thể tích và có thể giãn nở bùng lên.việc tuân thủ vạch max giúp đảm bảo an toàn,tránh nước sôi trào ra gây nguy hiểm (chẳng hạn như gây bỏng hoặc chập điện nếu nước bùng lên)