Lỷ Thị Hồng
Giới thiệu về bản thân
The pie charts compare the main news sources for teenagers, young adults and old people according to a survey in 2022. Overall, television was a very popular source of news for all age groups. It was the top news source for old and young adults, chosen by 42 percent of old people and more than one third of young adults and teenagers. Meanwhile, online news sites were most chosen by teenagers, with more than 50 percent. By contrast, the Internet was the least common news source for old people, with just 6 percent. On the other hand, printed newspapers were the top news source for 29 percent of old people while only fewer than 10 percent of young adults and teenagers reported getting their news from them.
As for other sources of news, around a quarter of young adults and old people relied on other sources for news, as opposed to only 4 percent of teenagers.
Dear Sir or Madam, Re: Applying for a part-time receptionist I am writing to apply for the part-time position of Receptionist that you advertised on vietnamworks.com. I am in my final year of secondary school and have some experience in the hospitality industry. Last summer, I worked as a part-time receptionist for a local restaurant. My responsibilities included meeting and greeting the customers and taking them to their tables. I also answered the phone and took bookings.
I consider myself to be reliable, hardworking, and enthusiastic. I can speak English fluently so I can communicate with foreign guests quite comfortably. I would be delighted to meet you in person to discuss my application. I am available for an interview on any afternoon. If my application is successful, I will be able to start work after the 15th of August when I finish my exams. I look forward to hearing from you soon. Yours faithfully, Ly Thi Hồng
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên. Luận đề: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp (cụ thể: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện, vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên). --- ❖ Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản. Có thể chọn một trong các câu sau (chỉ cần một câu): “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.” Hoặc: “Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật.” (Chỉ cần viết một câu là đủ.) --- ❖ Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản. Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” nêu trực tiếp chủ đề nghiên cứu; nội dung bài viết triển khai, phân tích đúng chủ đề ấy. → Nhan đề gợi mở, định hướng đúng trọng tâm phân tích, giúp người đọc nhận ra ngay vấn đề mà văn bản bàn luận. Nội dung văn bản làm sáng tỏ hoàn toàn nhan đề. --- ❖ Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn. Biện pháp liệt kê giúp: Khắc họa rõ nét vẻ đẹp phong phú, đa dạng, hùng vĩ của thiên nhiên rừng núi (muông thú, cây rừng, núi non, hang động). Tạo sự đối lập mạnh mẽ giữa vẻ đẹp thiên nhiên với tiếng súng, sự chết chóc. Gợi suy nghĩ về sự tàn nhẫn của việc săn bắn và sự thức tỉnh của nhân vật ông Diểu. → Nhờ đó, làm nổi bật thông điệp: thiên nhiên có sức cảm hóa con người. --- ❖ Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản. Mục đích: Làm nổi bật vẻ đẹp trong truyện Muối của rừng, chỉ ra giá trị nhân văn và thông điệp bảo vệ thiên nhiên trong tác phẩm. Quan điểm: Người viết đề cao: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp tâm hồn hướng thiện của con người, mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên. Tình cảm: Người viết bộc lộ: sự trân trọng thiên nhiên, sự đồng cảm với nhân vật ông Diểu, thái độ ngợi ca vẻ đẹp của tâm hồn con người khi biết hướng thiện, sự tin tưởng vào điều tốt đẹp trong cuộc sống. → Văn bản thể hiện một cảm hứng nhân đạo và tình yêu thiên nhiên sâu sắc. ---
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên. Luận đề: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp (cụ thể: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện, vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên). --- ❖ Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản. Có thể chọn một trong các câu sau (chỉ cần một câu): “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.” Hoặc: “Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật.” (Chỉ cần viết một câu là đủ.) --- ❖ Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản. Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” nêu trực tiếp chủ đề nghiên cứu; nội dung bài viết triển khai, phân tích đúng chủ đề ấy. → Nhan đề gợi mở, định hướng đúng trọng tâm phân tích, giúp người đọc nhận ra ngay vấn đề mà văn bản bàn luận. Nội dung văn bản làm sáng tỏ hoàn toàn nhan đề. --- ❖ Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn. Biện pháp liệt kê giúp: Khắc họa rõ nét vẻ đẹp phong phú, đa dạng, hùng vĩ của thiên nhiên rừng núi (muông thú, cây rừng, núi non, hang động). Tạo sự đối lập mạnh mẽ giữa vẻ đẹp thiên nhiên với tiếng súng, sự chết chóc. Gợi suy nghĩ về sự tàn nhẫn của việc săn bắn và sự thức tỉnh của nhân vật ông Diểu. → Nhờ đó, làm nổi bật thông điệp: thiên nhiên có sức cảm hóa con người. --- ❖ Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản. Mục đích: Làm nổi bật vẻ đẹp trong truyện Muối của rừng, chỉ ra giá trị nhân văn và thông điệp bảo vệ thiên nhiên trong tác phẩm. Quan điểm: Người viết đề cao: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp tâm hồn hướng thiện của con người, mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên. Tình cảm: Người viết bộc lộ: sự trân trọng thiên nhiên, sự đồng cảm với nhân vật ông Diểu, thái độ ngợi ca vẻ đẹp của tâm hồn con người khi biết hướng thiện, sự tin tưởng vào điều tốt đẹp trong cuộc sống. → Văn bản thể hiện một cảm hứng nhân đạo và tình yêu thiên nhiên sâu sắc. ---
Ẩn dụ: "Hương đồng gió nội
Biện pháp ẩn dụ giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về những giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị mai một. Hình ảnh "hương đồng gió nội" vốn rất quen thuộc, gợi lên những cảm xúc tích cực về quê hương, xứ sở, nay lại "bay đi", tạo nên sự tương phản, gây ấn tượng mạnh mẽ
Thông điệp bài thơ là ta cần có tình yêu quê hương.
Trong dòng chảy hối hả của xã hội hiện đại, khi những giá trị mới không ngừng được du nhập và lan tỏa, việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống trở thành một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Văn hóa truyền thống, kết tinh từ bao đời nay những kinh nghiệm, phong tục, tập quán, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của một quốc gia.
Trong bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, nhân vật "em" hiện lên như một hình ảnh đầy biến động, tượng trưng cho sự thay đổi của xã hội nông thôn trước làn sóng đô thị hóa [1][2]. Ban đầu, "em" được gợi nhắc qua nỗi mong chờ của chàng trai nơi đầu làng, nhưng khi trở về, "em" mang trên mình "khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, áo cài khuy bấm", những biểu tượng của sự xa hoa nơi tỉnh thành [3]. Sự thay đổi này không chỉ ở trang phục mà còn là dấu hiệu của sự biến đổi trong tâm hồn, khiến chàng trai không khỏi ngỡ ngàng và xót xa [2]. "Em" đánh mất "cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân", những kỷ niệm thân thương của tình yêu quê mùa, để khoác lên mình vẻ ngoài hào nhoáng, xa lạ [1]. Tuy nhiên, đằng sau sự thay đổi ấy, có lẽ là khao khát được đổi mới, được hòa nhập vào cuộc sống hiện đại hơn [6]. Dù vậy, nhân vật "em" cũng mang đến một nỗi buồn man mác, bởi sự "đi tỉnh về" đã làm phai nhạt "hương đồng gió nội", gợi lên sự mất mát những giá trị truyền thống [5]. "Em" là hình ảnh đại diện cho sự giằng xé giữa cái cũ và cái mới, giữa "chân quê" và "tỉnh thành", một bi kịch của những tâm hồn quê trước sự đổi thay của thời đại
Trong bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, nhân vật "em" hiện lên như một hình ảnh đầy biến động, tượng trưng cho sự thay đổi của xã hội nông thôn trước làn sóng đô thị hóa [1][2]. Ban đầu, "em" được gợi nhắc qua nỗi mong chờ của chàng trai nơi đầu làng, nhưng khi trở về, "em" mang trên mình "khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, áo cài khuy bấm", những biểu tượng của sự xa hoa nơi tỉnh thành [3]. Sự thay đổi này không chỉ ở trang phục mà còn là dấu hiệu của sự biến đổi trong tâm hồn, khiến chàng trai không khỏi ngỡ ngàng và xót xa [2]. "Em" đánh mất "cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân", những kỷ niệm thân thương của tình yêu quê mùa, để khoác lên mình vẻ ngoài hào nhoáng, xa lạ [1]. Tuy nhiên, đằng sau sự thay đổi ấy, có lẽ là khao khát được đổi mới, được hòa nhập vào cuộc sống hiện đại hơn [6]. Dù vậy, nhân vật "em" cũng mang đến một nỗi buồn man mác, bởi sự "đi tỉnh về" đã làm phai nhạt "hương đồng gió nội", gợi lên sự mất mát những giá trị truyền thống [5]. "Em" là hình ảnh đại diện cho sự giằng xé giữa cái cũ và cái mới, giữa "chân quê" và "tỉnh thành", một bi kịch của những tâm hồn quê trước sự đổi thay của thời đại[3].
Tình yêu quê hương
Khăn nhung ,quần lĩnh
Áo, yếm lụa
Dây lưng
Khăn mỏ quạ
quần nái đen