Từ Trang Uyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Từ Trang Uyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Nồng độ phần trăm của dung dịch FeCl₃ bão hòa ở 20 °C là khoảng 35,6%.

1. Mg + Cl₂ → MgCl₂

2. MgCl₂ + H₂O → Mg(OH)₂ + HCl

3. Mg(OH)₂ → MgO + H₂O

4. MgO + H₂SO₄ → MgSO₄ + H₂O

Trong công nghiệp, kim loại có thể được điều chế qua các phương pháp chính sau:

1. Phương pháp nhiệt luyện (Nhiệt phân)

Nguyên lý: Sử dụng nhiệt độ cao để tách kim loại ra khỏi hợp chất của nó.

Ví dụ:

Điều chế nhôm từ quặng bauxite: Quặng bauxite chứa Al₂O₃ (oxit nhôm), được xử lý bằng phương pháp nhiệt phân. Đầu tiên, nhôm oxit được điện phân trong dung dịch criolit (Na₃AlF₆) ở nhiệt độ cao để thu được nhôm nguyên chất.

2. Phương pháp điện phân

Nguyên lý: Sử dụng dòng điện một chiều để tách kim loại ra khỏi hợp chất của nó.

Ví dụ:

Điều chế nhôm từ Al₂O₃: Như đã nói ở trên, nhôm được điều chế từ Al₂O₃ bằng phương pháp điện phân, trong đó Al₂O₃ được hòa tan trong criolit và điện phân ở nhiệt độ cao.

Điều chế đồng từ CuSO₄: Trong ngành luyện kim, đồng cũng có thể được điều chế từ dung dịch muối đồng (CuSO₄) bằng phương pháp điện phân.

3. Phương pháp khử hóa học

Nguyên lý: Dùng các chất khử để tách kim loại ra khỏi hợp chất của nó.

Ví dụ:

Điều chế sắt từ Fe₂O₃ (quặng hematit): Quặng hematit được khử bằng cacbon (than cốc) trong lò cao để thu được sắt.

Điều chế kẽm từ ZnO: Kẽm có thể được khử bằng cacbon hoặc hydrosunfua trong lò luyện.

4. Phương pháp chưng cất

Nguyên lý: Sử dụng sự khác biệt về điểm sôi giữa các chất để tách kim loại khỏi hợp chất của nó.

Ví dụ:

Điều chế thủy ngân (Hg): Thủy ngân có thể được tách ra khỏi quặng cinnabar (HgS) bằng phương pháp chưng cất, do thủy ngân có điểm sôi thấp hơn so với nhiều hợp chất khác.

5. Phương pháp hấp thụ

Nguyên lý: Sử dụng chất hấp thụ để tách kim loại từ dung dịch hoặc hợp chất rắn.

Ví dụ:

Điều chế vàng từ quặng: Vàng có thể được tách ra khỏi quặng bằng phương pháp hấp thụ, sử dụng các dung dịch cyanua (NaCN) để hòa tan vàng, sau đó kim loại vàng được tách ra từ dung dịch.

6. Phương pháp hòa tan

Nguyên lý: Kim loại được hòa tan trong dung dịch axit hoặc kiềm và sau đó được tách ra thông qua các phản ứng hóa học.

Ví dụ:

Điều chế bạc từ quặng argentit (Ag₂S): Sử dụng dung dịch axit nitric (HNO₃) để hòa tan bạc từ quặng argentit, sau đó bạc được tách ra dưới dạng kim loại.


a. Đối tác chiến lược toàn diện là quan hệ ngoại giao song phương giữa hai nước. Danh sách 12 Đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam bao gồm các quốc gia:

(1) Trung Quốc, thiết lập vào tháng 5/2008

(2) Liên Bang Nga, thiết lập vào tháng 7/2012

(3) Ấn Độ, thiết lập vào tháng 9/2016

(4) Hàn Quốc, thiết lập vào tháng 12/2022

(5) Hoa Kỳ, thiết lập vào tháng 9/2023

(6) Nhật Bản, thiết lập vào tháng 11/2023

(7) Australia, thiết lập vào tháng 3/2024

(8) Pháp, thiết lập vào tháng 10/2024

(9) Malaysia, thiết lập vào tháng 11/2024

(10) New Zealand, thiết lập vào tháng 02/2025

(11) Indonesia, thiết lập vào ngày 10/3/2025

(12) Singapore, thiết lập vào ngày 12/3/2025

b. 1. Đẩy mạnh hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa:

- 1975 Việt Nam - Liên Xô kí các hiệp định tương trợ.

- 1978, Việt Nam - Liên Xô kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác.

-1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) và kí nhiều hiệp ước hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới.

2. Phát triển quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á, thúc đẩy đối thoại với ASEAN

- Năm 1977, Việt Nam và Lào kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác.

- Năm 1979, Việt Nam giúp nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ.

3. Tham gia và đóng góp tích cực vào Phong trào Không liên kết:

- Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất chính thức gia nhập Phong trào Không liên kết.

4.Phát triển quan hệ đối ngoại với các quốc gia và tổ chức quốc tế

- Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc.

- Đến năm 1979, Việt Nam đã tham gia 33 tổ chức và 19 điều ước quốc tế.

a)-Năm 1911, từ Sài Gòn (Việt Nam), Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên con tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.

- Trên hành trình đó, Nguyễn Tất Thành đi qua các châu lục, nhiều quốc gia; vừa lao động, vừa tìm hiểu, học hỏi.

- Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại Pháp, tham gia Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.

b)- Nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc lựa chọn đi theo con đường cách mạng vô sản:

+ Trong những năm 1911 - 1920, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Bằng chính quá trình thâm nhập thực tiễn: lao động kiếm sống và hoạt động cách mạng, bằng chính quá trình tự vô sản hóa chính mình, thế giới quan của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành dần đựợc mở rộng. Người đã nhận thấy nguồn gốc trực tiếp nỗi khổ đau chung của các dân tộc thuộc địa đó là chủ nghĩa đế quốc và đồng thời nhận ra rằng: con đường cách mạng tư sản không phù hợp với dân tộc Việt Nam, bởi “Cách mạng tư sản Pháp, cách mạng tư sản Mĩ… là những cuộc cách mạng không đến nơi”, không triệt để…

+ Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (Pháp), Nguyễn Ái Quốc lập tức bị cuốn hút vì tính chất cách mạng triệt để của con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người đi đến khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

- Nội dung cơ bản: con đường giành độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

- Ý nghĩa: Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Sự kiện này bước đầu giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam; mở ra giai đoạn phát triển mới cho phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam-giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.