Dương Đức Thắng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, việc gìn giữ bản sắc quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Bản sắc quê hương là những giá trị văn hóa, truyền thống, lối sống và tâm hồn được hình thành qua nhiều thế hệ. Đó không chỉ là tiếng nói, phong tục, món ăn hay những làn điệu dân ca, mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người. Khi biết gìn giữ bản sắc quê hương, người trẻ sẽ thêm yêu quê hương, đất nước và có ý thức trân trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều giá trị văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, nếu không biết giữ gìn bản sắc, con người rất dễ đánh mất nguồn cội và bản lĩnh văn hóa của mình. Tuy nhiên, gìn giữ bản sắc không có nghĩa là bảo thủ, khép kín mà cần biết tiếp thu tinh hoa mới một cách chọn lọc. Là thế hệ tương lai của đất nước, người trẻ cần chủ động học tập, quảng bá và phát huy vẻ đẹp văn hóa quê hương bằng những hành động thiết thực để những giá trị ấy luôn được lưu giữ và lan tỏa.
Câu 2.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca Việt Nam. Nếu bài thơ “Quê biển” của Nguyễn Doãn Việt khắc họa vẻ đẹp bình dị mà nhọc nhằn của làng chài ven biển cùng tình yêu tha thiết với quê hương biển cả, thì bài thơ “Về làng” của Đỗ Viết Tuyển lại gợi lên nỗi nhớ quê da diết của con người xa xứ. Dù thể hiện theo những cách khác nhau, cả hai văn bản đều gặp nhau ở tình yêu sâu nặng dành cho quê hương và niềm trân trọng những giá trị bình dị của cuộc sống.
Trước hết, cả hai bài thơ đều thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và sự gắn bó sâu nặng với nơi chôn nhau cắt rốn. Trong “Quê biển”, quê hương hiện lên với hình ảnh làng chài ven biển đầy gian khó nhưng giàu sức sống: “làng nép mình như một cánh buồm nghiêng”, “những cánh buồm quê / lại giong hồn làng ra khơi vào lộng”. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào và tình yêu đối với quê biển cùng những con người lao động bền bỉ. Còn ở bài thơ “Về làng”, tình yêu quê hương được thể hiện qua nỗi nhớ khôn nguôi của người con xa quê. Những hình ảnh “con đê đầu làng”, “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ” gợi lên không gian làng quê thân thuộc, bình yên và đầy kỉ niệm. Quê hương trong cả hai bài thơ đều trở thành điểm tựa tinh thần thiêng liêng trong tâm hồn con người.
Bên cạnh điểm gặp gỡ ấy, mỗi bài thơ lại mang nét riêng trong cách thể hiện nội dung. “Quê biển” tập trung khắc họa cuộc sống của người dân làng chài với biết bao nhọc nhằn, vất vả. Những hình ảnh như “mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển”, “cha ông phơi nhoài bên mép biển” cho thấy cuộc sống bấp bênh của người dân vùng biển trước sóng gió thiên nhiên. Tuy vậy, họ vẫn kiên cường bám biển, gắn bó với quê hương bằng tinh thần lao động bền bỉ và niềm tin vào cuộc sống. Bài thơ vì thế mang âm hưởng khỏe khoắn, tha thiết và đậm chất sử thi về con người lao động.
Trong khi đó, “Về làng” lại thiên về cảm xúc hoài niệm và nỗi nhớ quê da diết của con người xa xứ. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ hiện lên đầy thơ mộng: “heo may”, “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ”. Đặc biệt, câu thơ cuối “Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng” chứa đựng nỗi niềm day dứt, xót xa của con người luôn hướng về quê hương nhưng dường như vẫn còn cách trở. Nếu “Quê biển” nhấn mạnh vẻ đẹp của lao động và sức sống quê hương, thì “Về làng” lại nghiêng nhiều về dòng cảm xúc nhớ thương và khát vọng trở về cội nguồn.
Về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng thể thơ tự do với ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc. Tuy nhiên, Nguyễn Doãn Việt dùng nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng của biển cả như “cánh buồm”, “mảnh lưới”, “sóng biển” để làm nổi bật sức sống của làng biển. Đỗ Viết Tuyển lại sử dụng những hình ảnh gần gũi, giàu chất dân gian để gợi không gian làng quê bình dị và cảm giác hoài niệm sâu lắng.
Tóm lại, “Quê biển” và “Về làng” đều là những bài thơ giàu cảm xúc về quê hương. Dù viết về miền biển hay làng quê đồng bằng, cả hai tác phẩm đều khẳng định rằng quê hương luôn là nơi nâng đỡ tâm hồn con người, là cội nguồn của tình yêu, nỗi nhớ và những giá trị bền vững trong cuộc sống.
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Một hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cho cuộc sống của làng biển là: “những cánh buồm quê”.
Hình ảnh này biểu tượng cho cuộc sống lao động lênh đênh, khát vọng mưu sinh và niềm tin của người dân làng chài.
Câu 3.
Hình ảnh “mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển” gợi lên sự vất vả, nhọc nhằn và nỗi lo âu thường trực của người mẹ làng biển. “Bạc đầu” không chỉ cho thấy dấu vết của thời gian mà còn thể hiện sự hi sinh, chịu đựng trước cuộc sống đầy sóng gió của người dân ngư phủ. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm thương yêu, xót xa và trân trọng đối với những con người âm thầm gắn bó với biển cả. Hình ảnh ấy góp phần làm nổi bật chủ đề bài thơ: ca ngợi vẻ đẹp của quê biển và con người lao động nơi đây.
Câu 4.
Hình ảnh “Làng là mảnh lưới trăm năm” cho thấy cuộc sống của làng chài gắn bó bền chặt với nghề biển qua nhiều thế hệ. “Mảnh lưới trăm năm” vừa gợi nghề nghiệp truyền thống của cha ông, vừa biểu tượng cho sự đoàn kết, gắn bó của cộng đồng dân cư miền biển. Cuộc sống nơi đây tuy nhiều gian khó, bấp bênh nhưng người dân vẫn kiên cường bám biển, giữ gìn nghề nghiệp và tình yêu quê hương. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào về truyền thống lao động bền bỉ của làng biển.
Câu 5.
Lao động bền bỉ, nhẫn nại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo nên giá trị sống của con người hôm nay. Nhờ sự chăm chỉ và kiên trì, con người có thể vượt qua khó khăn, thử thách để đạt được thành công. Những người dân làng biển trong bài thơ dù cuộc sống vất vả vẫn ngày đêm bám biển, lao động không ngừng để xây dựng quê hương. Điều đó cho thấy lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn giúp con người sống có trách nhiệm và ý nghĩa hơn. Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người trẻ cần rèn luyện ý chí, tinh thần nhẫn nại và thái độ nghiêm túc trong học tập, công việc. Có như vậy, chúng ta mới khẳng định được giá trị của bản thân và đóng góp cho xã hội.
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ của Nguyễn Quang Thiều hiện lên đầy ám ảnh và xót xa. Đó là những con người lam lũ, gắn bó với công việc gánh nước sông suốt năm này qua năm khác. Nhà thơ khắc họa họ bằng những chi tiết chân thực, thô ráp: “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, mái tóc ướt sũng… Tất cả gợi lên sự nhọc nhằn, vất vả đến kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ ngoài khắc khổ ấy là sức sống bền bỉ và sự chịu đựng phi thường. Họ không chỉ gánh nước mà còn gánh trên vai cả gia đình, cuộc đời và số phận. Hình ảnh “một bàn tay bám vào đòn gánh… bàn tay kia bám vào mây trắng” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: một tay níu giữ thực tại khắc nghiệt, một tay với tới ước mơ mong manh. Người phụ nữ vì thế vừa hiện thực vừa mang tính khái quát, đại diện cho biết bao kiếp người nghèo khó. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc trước số phận lặp lại qua nhiều thế hệ, đồng thời gợi suy ngẫm về những giới hạn chưa được vượt thoát của con người.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Trong xã hội hiện đại, hội chứng “burnout” (kiệt sức) đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt ở giới trẻ. Đây không chỉ là trạng thái mệt mỏi thông thường mà là sự suy kiệt kéo dài về thể chất, tinh thần và cảm xúc do áp lực học tập, công việc và cuộc sống.
Trước hết, burnout biểu hiện qua cảm giác kiệt sức, mất động lực và giảm hiệu suất. Nhiều người trẻ luôn trong trạng thái căng thẳng, chán nản, thậm chí mất phương hướng. Họ dễ rơi vào vòng luẩn quẩn: càng cố gắng càng mệt mỏi, càng mệt mỏi lại càng mất niềm tin vào bản thân. Không ít người dù còn rất trẻ nhưng đã cảm thấy “cạn năng lượng” và không còn hứng thú với những điều từng yêu thích.
Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều phía. Một mặt, xã hội hiện đại với nhịp sống nhanh, cạnh tranh cao khiến người trẻ luôn phải nỗ lực không ngừng. Áp lực thành công, kỳ vọng từ gia đình và nỗi sợ tụt hậu khiến họ tự đặt lên mình những tiêu chuẩn khắt khe. Mặt khác, mạng xã hội cũng góp phần làm trầm trọng thêm vấn đề khi liên tục tạo ra sự so sánh, khiến nhiều người cảm thấy mình kém cỏi. Bên cạnh đó, việc thiếu kỹ năng quản lý thời gian, không biết cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi cũng khiến burnout dễ xảy ra.
Hậu quả của burnout không chỉ dừng lại ở cảm xúc cá nhân mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và tương lai. Người bị burnout có thể rơi vào trạng thái lo âu, trầm cảm, suy giảm sức khỏe thể chất. Về lâu dài, điều này làm giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đến các mối quan hệ và chất lượng cuộc sống. Nguy hiểm hơn, nếu không được nhận diện và giải quyết kịp thời, burnout có thể khiến người trẻ mất đi định hướng và ý chí vươn lên.
Để đối mặt với hội chứng này, trước hết mỗi người trẻ cần học cách lắng nghe bản thân. Việc chấp nhận giới hạn của mình không phải là yếu đuối mà là một biểu hiện của sự trưởng thành. Cần biết nghỉ ngơi hợp lý, xây dựng lối sống lành mạnh, cân bằng giữa học tập, làm việc và thư giãn. Đồng thời, việc đặt mục tiêu thực tế, tránh so sánh bản thân với người khác cũng rất quan trọng. Ngoài ra, gia đình và xã hội cần tạo ra môi trường tích cực, giảm áp lực thành tích và khuyến khích sự phát triển toàn diện thay vì chỉ chú trọng vào thành công vật chất.
Tóm lại, burnout là một vấn đề có thật và ngày càng phổ biến trong giới trẻ. Nhận diện đúng và có giải pháp phù hợp sẽ giúp mỗi người không chỉ vượt qua trạng thái kiệt sức mà còn sống cân bằng, ý nghĩa hơn trong một thế giới đầy áp lực.
Câu 1. Xác định thể thơ
Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (mỗi dòng có 7 chữ hoặc 8 chữ xen kẽ, không gò bó khắt khe về số chữ trong một dòng như các thể thơ truyền thống).
Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ
Trả lời: Nhịp thơ linh hoạt, lúc chậm rãi, suy tư (như nhịp 4/3, 4/4), lúc dồn dập như hơi thở của tình yêu. Cách ngắt nhịp này góp phần diễn tả những biến chuyển tinh tế, những cung bậc cảm xúc phức tạp, vừa nồng cháy vừa khắc khoải của nhân vật trữ tình.
Câu 3. Đề tài và chủ đề
Đề tài: Tình yêu lứa đôi.
Chủ đề: Sự hy sinh, nỗi cô đơn và sự hụt hẫng trong tình yêu. Bài thơ khẳng định bản chất của tình yêu thường đi kèm với sự cho đi mà không nhận lại, dẫn đến cảm giác "chết ở trong lòng một ít".
Câu 4. Phân tích một hình ảnh tượng trưng
Bạn có thể chọn hình ảnh "sa mạc cô liêu":
Ý nghĩa: Tượng trưng cho sự trống trải, khô cằn và cô độc trong tâm hồn con người khi tình yêu không được đền đáp. Nó đối lập với sự tươi mới, tràn đầy sức sống mà tình yêu thường mang lại, nhấn mạnh nỗi đau khổ khi bị phụ bạc hoặc thờ ơ.
Câu 5. Cảm nhận và suy nghĩ
Gợi ý: Văn bản khơi gợi sự đồng cảm về nỗi buồn trong tình yêu. Nó cho ta thấy một góc nhìn thực tế: yêu là chấp nhận dấn thân, chấp nhận cho đi mà không đòi hỏi sự công bằng tuyệt đối. Qua đó, người đọc nhận ra sự dũng cảm của những người dám yêu chân thành dù biết trước có thể nhận về nỗi đau.
Câu 1. Xác định thể thơ
Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (mỗi dòng có 7 chữ hoặc 8 chữ xen kẽ, không gò bó khắt khe về số chữ trong một dòng như các thể thơ truyền thống).
Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ
Trả lời: Nhịp thơ linh hoạt, lúc chậm rãi, suy tư (như nhịp 4/3, 4/4), lúc dồn dập như hơi thở của tình yêu. Cách ngắt nhịp này góp phần diễn tả những biến chuyển tinh tế, những cung bậc cảm xúc phức tạp, vừa nồng cháy vừa khắc khoải của nhân vật trữ tình.
Câu 3. Đề tài và chủ đề
Đề tài: Tình yêu lứa đôi.
Chủ đề: Sự hy sinh, nỗi cô đơn và sự hụt hẫng trong tình yêu. Bài thơ khẳng định bản chất của tình yêu thường đi kèm với sự cho đi mà không nhận lại, dẫn đến cảm giác "chết ở trong lòng một ít".
Câu 4. Phân tích một hình ảnh tượng trưng
Bạn có thể chọn hình ảnh "sa mạc cô liêu":
Ý nghĩa: Tượng trưng cho sự trống trải, khô cằn và cô độc trong tâm hồn con người khi tình yêu không được đền đáp. Nó đối lập với sự tươi mới, tràn đầy sức sống mà tình yêu thường mang lại, nhấn mạnh nỗi đau khổ khi bị phụ bạc hoặc thờ ơ.
Câu 5. Cảm nhận và suy nghĩ
Gợi ý: Văn bản khơi gợi sự đồng cảm về nỗi buồn trong tình yêu. Nó cho ta thấy một góc nhìn thực tế: yêu là chấp nhận dấn thân, chấp nhận cho đi mà không đòi hỏi sự công bằng tuyệt đối. Qua đó, người đọc nhận ra sự dũng cảm của những người dám yêu chân thành dù biết trước có thể nhận về nỗi đau.
Câu 1:
Nhân vật lão Goriot trong đoạn trích là biểu tượng bi thảm cho tình phụ tử mù quáng và sự băng hoại đạo đức xã hội. Trước hết, lão hiện thân cho tình yêu thương con vô điều kiện, một thứ tình cảm mãnh liệt đến mức cực đoan. Ngay cả khi đối diện với cái chết, lão vẫn khao khát hơi ấm từ các con, sẵn sàng hy sinh đôi mắt hay "rút gan rút ruột" để đổi lấy hạnh phúc cho chúng. Tuy nhiên, bi kịch của lão nằm ở sự giằng xé giữa lý trí và tình cảm. Lão tỉnh táo để nhận ra sự bạc bẽo của hai cô con gái, thậm chí đã thốt lên lời nguyền rủa cay nghiệt khi thấy mình bị bỏ rơi như "một con chó". Nhưng rồi, bản năng người cha lại chiến thắng, lão tự lừa dối mình để tiếp tục hy vọng và chúc phúc cho con. Qua ngòi bút hiện thực sắc sảo của Balzac, cái chết cô độc của lão trong sự thiếu vắng người thân là lời tố cáo đanh thép sức mạnh vạn năng của đồng tiền đã bóp nghẹt tình thân. Lão Goriot vừa đáng thương, vừa đáng trách: đáng thương vì tấm lòng hy sinh cao cả, nhưng đáng trách vì sự nuông chiều thiếu tỉnh táo đã gián tiếp tạo nên những "con quái vật" ích kỷ, đẩy chính mình vào ngõ cụt thê lương của kiếp người.
câu 2
Gia đình vốn được coi là bến đỗ bình yên nhất của mỗi con người. Thế nhưng, nhìn vào thực tế xã hội hiện đại, chúng ta không khỏi giật mình khi thấy sợi dây liên kết giữa cha mẹ và con cái đang trở nên lỏng lẻo hơn bao giờ hết. Sự xa cách ấy không đo bằng cây số địa lý, mà được đo bằng những khoảng lặng vô hình ngay trong một mái nhà.
Khoảng cách này trước hết biểu hiện qua sự đứt gãy trong giao tiếp. Hình ảnh thường thấy hiện nay là cả gia đình ngồi chung một bàn ăn nhưng mỗi người đều cúi đầu vào một chiếc điện thoại thông minh. Những câu hỏi quan tâm về trường lớp, công việc dần được thay thế bằng những tin nhắn ngắn ngủi hoặc sự im lặng đáng sợ. Cha mẹ quay cuồng với áp lực kinh tế, con cái mải mê với thế giới ảo và cái tôi cá nhân, dẫn đến việc họ không còn tìm thấy tiếng nói chung.
Câu 1
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Dấu hiệu: Người kể chuyện giấu mình, gọi tên các nhân vật bằng tên gọi của chúng (Eugène, lão Goriot, Bianchon,...) và kể lại các sự việc một cách khách quan nhưng có thể thấu suốt tâm tư, tình cảm của nhân vật.
Câu 2
Đề tài: Tình phụ tử và sự băng hoại đạo đức trong gia đình dưới sức mạnh đồng tiền ở xã hội thượng lưu Pháp thế kỷ XIX. Cụ thể là bi kịch của một người cha hết lòng vì con nhưng bị con cái bỏ rơi, rẻ rúng khi đã cạn kiệt tài sản.
Câu 3.
Cảm nhận về nhân vật: Lời nói toát lên nỗi đau đớn đến xé lòng và sự trống trải vô biên trong tâm hồn một người cha. Hình ảnh "khát mà không được uống" là ẩn dụ cho sự thiếu vắng tình thương và lòng biết ơn của con cái dù lão đã cho đi tất cả.
Sự thức tỉnh: Đây là lời trăng trối, một bài học xương máu mà lão dành cho Rastignac – người chứng kiến bi kịch này. Nó nhắc nhở về giá trị của đạo hiếu, đồng thời tố cáo sự thật phũ phàng: trong thế giới xa hoa của Paris, tình thân đã bị tiêu diệt bởi lòng ích kỷ.
Sự xót xa: Người đọc thấy hiện lên một cuộc đời mười năm sống trong sự ghẻ lạnh, bị đối xử như một công cụ cung cấp tiền bạc thay vì một con người, một người cha.
Câu 4.
Bản năng người cha: Sự nguyền rủa, mắng chửi là đỉnh điểm của nỗi đau, là kết quả của sự thất vọng cùng cực khi lý trí nhận ra sự bạc bẽo của con cái. Tuy nhiên, tình yêu con trong lão là một loại "tôn giáo" cuồng tín, nó lớn hơn cả nỗi đau và lòng tự trọng.
Sự tự lừa dối để xoa dịu nỗi đau: Trong cơn hấp hối, lão không chịu đựng nổi sự thật rằng mình bị bỏ rơi. Lão khao khát gặp chúng để tìm lại chút hơi ấm tình thân cuối cùng, để chứng minh rằng đời lão không hoàn toàn vô nghĩa.
Tình thương bao dung: Sau tất cả, lão vẫn tìm cách bào chữa cho con (đổ lỗi cho con rể, cho thói quen, cho xã hội) để có thể tiếp tục yêu và mong chờ chúng.
Câu 5
Tình cảnh bi đát, thê lương: Lão chết trong cảnh nghèo túng, cô độc, trong một căn phòng trọ rẻ tiền, không có một người thân nào bên cạnh ngoài hai cậu sinh viên nghèo tốt bụng.
Sự mâu thuẫn giữa cho và nhận: Đây là một cái kết bất công tàn nhẫn đối với một người đã hy sinh cả cuộc đời, cả sự nghiệp và đôi mắt của mình cho con cái.
Ý nghĩa tố cáo: Tình cảnh của lão Goriot là bản án đanh thép dành cho xã hội tư bản – nơi mà đồng tiền đã làm băng hoại những giá trị thiêng liêng nhất. Cái chết của lão không chỉ là sự kết thúc của một đời người mà còn là sự phá sản của lối sống "thờ phụng con cái" một cách mù quáng, thiếu thực tế trong một xã hội không có tình người.
Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Hồ Chí Minh không chỉ là lời cảm nhận về một tập thi tuyển cổ đại mà còn là bản "tuyên ngôn nghệ thuật" đanh thép của người chiến sĩ cách mạng. Với cấu trúc đối lập chặt chẽ, hai câu đầu Bác tái hiện vẻ đẹp của thơ xưa với "phong, hoa, tuyết, nguyệt" – những thi liệu ước lệ tượng trưng cho sự thanh cao, tĩnh lặng. Dù trân trọng cái mỹ lệ truyền thống ("thiên ái"), nhưng Bác nhận ra sự khiếm khuyết của nó trước vận mệnh dân tộc. Từ đó, hai câu sau mở ra một tư duy nghệ thuật hiện đại: "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết". Hình ảnh ẩn dụ "thép" chính là nhãn tự của bài thơ, biểu tượng cho tính chiến đấu, ý chí kiên cường và tinh thần thép của người cộng sản. Thơ ca giờ đây không chỉ để ngâm vịnh mà phải là vũ khí sắc bén, và nhà thơ phải hóa thân thành chiến sĩ biết "xung phong" trên mặt trận văn hóa. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển (thể thất ngôn tứ tuyệt) và nội dung cách mạng đã tạo nên một cấu tứ vận động từ "hoa" đến "thép", từ cái "tôi" thưởng lãm đến cái "ta" trách nhiệm. Qua đó, bài thơ khẳng định: nghệ thuật chân chính phải gắn liền với hiện thực khốc liệt và phục vụ cho sự nghiệp giải phóng con người.
câu 2 bài làm
Trong dòng chảy mãnh liệt của toàn cầu hóa, văn hóa truyền thống chính là "tấm giấy thông hành" quan trọng nhất để mỗi dân tộc khẳng định bản sắc của mình. Đối với giới trẻ Việt Nam hiện nay, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là mệnh lệnh từ trái tim.
Văn hóa truyền thống không phải là những gì xa xôi, nó kết tinh trong tà áo dài, trong vị đậm đà của bát phở, trong làn điệu dân ca hay trong đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Trong những năm gần đây, chúng ta vui mừng chứng kiến một làn sóng "trở về cội nguồn" đầy sáng tạo của Gen Z. Những dự án phục dựng cổ phục như áo Nhật Bình, các nhóm nhạc kết hợp nhạc cụ dân tộc với EDM, hay các TikToker quảng bá du lịch vùng cao... đã chứng minh rằng truyền thống vẫn luôn có sức sống bền bỉ nếu được đặt đúng dòng chảy của thời đại. Giống như tinh thần "thép" trong thơ Bác Hồ, giới trẻ hôm nay đang dùng công nghệ và sự sáng tạo làm "vũ khí" để bảo vệ văn hóa.
Tuy nhiên, vẫn còn đó những khoảng lặng đáng buồn. Một bộ phận giới trẻ đang quay lưng với di sản, coi văn hóa dân gian là "lỗi thời" và chạy theo những trào lưu ngoại lai một cách mù quáng. Khi chúng ta bỏ quên tiếng nói, trang phục và phong tục của cha ông, chúng ta đang dần trở thành những "bản sao" mờ nhạt trong một thế giới phẳng.
Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng quá khứ trong bảo tàng. Để văn hóa trường tồn, giới trẻ cần "gạn đục khơi trong", giữ lại những giá trị nhân văn và loại bỏ những hủ tục. Mỗi cá nhân cần ý thức rằng: học sử, yêu tiếng Việt hay đơn giản là cư xử đúng mực nơi đền đài cũng chính là cách ta đang đắp thêm gạch cho pháo đài văn hóa dân tộc.
Tóm lại, văn hóa là rễ, con người là cành lá. Chỉ khi rễ sâu, lá mới có thể xanh và vươn xa. Giới trẻ hãy là những người làm vườn tận tâm, tiếp nối dòng nhựa sống của ngàn năm văn hiến để bản sắc Việt Nam mãi rạng rỡ trên bản đồ thế giới.
Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Hồ Chí Minh không chỉ là lời cảm nhận về một tập thi tuyển cổ đại mà còn là bản "tuyên ngôn nghệ thuật" đanh thép của người chiến sĩ cách mạng. Với cấu trúc đối lập chặt chẽ, hai câu đầu Bác tái hiện vẻ đẹp của thơ xưa với "phong, hoa, tuyết, nguyệt" – những thi liệu ước lệ tượng trưng cho sự thanh cao, tĩnh lặng. Dù trân trọng cái mỹ lệ truyền thống ("thiên ái"), nhưng Bác nhận ra sự khiếm khuyết của nó trước vận mệnh dân tộc. Từ đó, hai câu sau mở ra một tư duy nghệ thuật hiện đại: "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết". Hình ảnh ẩn dụ "thép" chính là nhãn tự của bài thơ, biểu tượng cho tính chiến đấu, ý chí kiên cường và tinh thần thép của người cộng sản. Thơ ca giờ đây không chỉ để ngâm vịnh mà phải là vũ khí sắc bén, và nhà thơ phải hóa thân thành chiến sĩ biết "xung phong" trên mặt trận văn hóa. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển (thể thất ngôn tứ tuyệt) và nội dung cách mạng đã tạo nên một cấu tứ vận động từ "hoa" đến "thép", từ cái "tôi" thưởng lãm đến cái "ta" trách nhiệm. Qua đó, bài thơ khẳng định: nghệ thuật chân chính phải gắn liền với hiện thực khốc liệt và phục vụ cho sự nghiệp giải phóng con người.
câu 2 bài làm
Trong dòng chảy mãnh liệt của toàn cầu hóa, văn hóa truyền thống chính là "tấm giấy thông hành" quan trọng nhất để mỗi dân tộc khẳng định bản sắc của mình. Đối với giới trẻ Việt Nam hiện nay, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là mệnh lệnh từ trái tim.
Văn hóa truyền thống không phải là những gì xa xôi, nó kết tinh trong tà áo dài, trong vị đậm đà của bát phở, trong làn điệu dân ca hay trong đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Trong những năm gần đây, chúng ta vui mừng chứng kiến một làn sóng "trở về cội nguồn" đầy sáng tạo của Gen Z. Những dự án phục dựng cổ phục như áo Nhật Bình, các nhóm nhạc kết hợp nhạc cụ dân tộc với EDM, hay các TikToker quảng bá du lịch vùng cao... đã chứng minh rằng truyền thống vẫn luôn có sức sống bền bỉ nếu được đặt đúng dòng chảy của thời đại. Giống như tinh thần "thép" trong thơ Bác Hồ, giới trẻ hôm nay đang dùng công nghệ và sự sáng tạo làm "vũ khí" để bảo vệ văn hóa.
Tuy nhiên, vẫn còn đó những khoảng lặng đáng buồn. Một bộ phận giới trẻ đang quay lưng với di sản, coi văn hóa dân gian là "lỗi thời" và chạy theo những trào lưu ngoại lai một cách mù quáng. Khi chúng ta bỏ quên tiếng nói, trang phục và phong tục của cha ông, chúng ta đang dần trở thành những "bản sao" mờ nhạt trong một thế giới phẳng.
Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng quá khứ trong bảo tàng. Để văn hóa trường tồn, giới trẻ cần "gạn đục khơi trong", giữ lại những giá trị nhân văn và loại bỏ những hủ tục. Mỗi cá nhân cần ý thức rằng: học sử, yêu tiếng Việt hay đơn giản là cư xử đúng mực nơi đền đài cũng chính là cách ta đang đắp thêm gạch cho pháo đài văn hóa dân tộc.
Tóm lại, văn hóa là rễ, con người là cành lá. Chỉ khi rễ sâu, lá mới có thể xanh và vươn xa. Giới trẻ hãy là những người làm vườn tận tâm, tiếp nối dòng nhựa sống của ngàn năm văn hiến để bản sắc Việt Nam mãi rạng rỡ trên bản đồ thế giới.
a, - phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
- kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa kinh tế quốc phòng-an ninh.
- chủ động, sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, giữ vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
- tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, thực hiện đường lối ngoại hoà bình, hữu nghị.
b, -học tập nâng cao ý thức
- tuyên truyền lịch sử ta trong và ngoài nước
-tuân thủ pháp luật
câu 2
- nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
- cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới, mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế.
- vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được .