Phạm Hồng Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Hồng Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1:

Trong kỉ nguyên đất nước vươn mình, thời đại công nghệ số và hội nhập quốc tế phát triển mạnh mẽ, việc gìn giữ bản sắc quê hương trở thành một bài học vô cùng ý nghĩa để thế hệ trẻ có thể trưởng thành. Bản sắc quê hương không chỉ là những phong tục, tiếng nói hay di sản, mà còn là "linh hồn", là giá trị cốt lõi phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Việc giữ gìn những nét đẹp ấy chính là nền tảng để chúng ta nhận thức được giá trị bản thân, giúp người trẻ không bị "hòa tan" giữa dòng chảy toàn cầu hóa. Khi mang trong mình lòng tự hào dân tộc, chúng ta sẽ có thêm bản lĩnh và sự tự tin để bước ra thế giới với tâm thế "hòa nhập nhưng không hòa tan". Thực tế, nhiều bạn trẻ ngày nay đã rất sáng tạo khi quảng bá văn hóa Việt qua ẩm thực, âm nhạc hay cổ phục trên các nền tảng mạng xã hội, tạo nên những giá trị tích cực cho cộng đồng. Tuy nhiên, đáng buồn thay, vẫn còn một bộ phận chạy theo lối sống hướng ngoại cực đoan mà lãng quên nguồn cội. Là một người trẻ sinh ra trong thời kỳ hội nhập, tôi nhận thức rằng việc bảo tồn bản sắc không chỉ là trách nhiệm mà còn là chìa khóa mở cánh cửa khám phá và hoàn thiện bản thân. Chúng ta hãy sống là chính mình, giữ lấy "phần gốc" để có thể vươn cao, vươn xa hơn trong tương lai.

câu 2:

Đại thi hào Puskin từng viết: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”. Nhà thơ Đỗ Viết Tuyển đã để tiếng lòng của mình cất lên đầy thổn thức qua tác phẩm “Về làng”. Đến với bài thơ, ta bắt gặp một nỗi niềm đau đáu về quê hương, về những giá trị xưa cũ đang dần phôi pha theo dòng thời gian.

ngôn từ là tinh hoa quý giá nhất đối với người làm thơ. Người làm thơ cũng như những người làm vườn muốn vườn hoa ngôn ngữ của mình nở ra những bông hoa đẹp nhất thì phải bỏ nhiều tâm huyết, trải qua “những cơn địa chấn của tâm hồn“ mới có thể tạo nên “những vang ngân“ tựa như “những bước sóng” đến gõ cửa trái tim người đọc. Để tạo ra tác phẩm “về làng”, Đỗ Viết Tuyền cũng phải trải qua một quá trình lao động và sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc như vậy.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh đầy hối hả: “Xuống tàu vội vã về quê / Bước đi mòn lối con đê đầu làng”. Từ láy “vội vã” đã làm sáng tỏ tâm trạng mong ngóng, khát khao được ôm ấp bởi hơi ấm quê nhà. Tác giả sử dụng những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị như “heo may”, “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ” – những thi liệu truyền thống nhưng giàu sức gợi, làm cho bài thơ lắng đọng trong tâm trí người đọc.

Tuy nhiên, đằng sau vẻ yên bình ấy là một nỗi lo âu mơ hồ: “Người xưa giờ có còn sang hát chèo”. Câu hỏi tu từ này chính là điểm nhấn nghệ thuật, thể hiện sự trăn trở về những giá trị văn hóa truyền thống đang dần mai một. Khép lại bài thơ là một nhận thức đầy chua xót: “Tôi đi từ độ đến giờ / Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng”. Hình ảnh đối lập giữa “tóc xanh” và “tóc bạc” không chỉ nói về sự chảy trôi của thời gian, mà còn ám chỉ khoảng cách tâm tưởng. "Chưa tới làng" không phải vì đường xa, mà vì cái "làng" của ký ức, của những hồn hậu xưa cũ giờ đây đã khác xưa.

Làm nên sự hấp dẫn của bài thơ không chỉ là nội dung sâu sắc mà còn là hình thức thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên. Ngôn ngữ thơ trong sáng, mộc mạc nhưng đạt dào cảm xúc. Từ bài thơ trên, em cảm nhận được thái độ trân trọng và tình yêu thiết tha của tác giả đối với quê hương. Đồng thời, thi phẩm cũng khơi gợi trong lòng em một thông điệp về việc bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần giữa vòng xoáy của hiện đại hóa.

khép lại những trang thơ ấy trong lòng người đọc vẫn bồi hồi bao cảm xúc. Tác giả đỗ viết tuyển đã gieo vào lòng người đọc bao cảm xúc dạt dào không chỉ cho hôm nay mà còn mãi mãi sau về những giá trị xưa cũ đang dần phôi pha theo dòng thời gian. Chính điều đó đã tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm làm cho người đọc càng yêu thế giới văn học hơn.

câu 1:

- thể thơ trên của văn là thể thơ tự do

câu 2:

-Một hình ảnh thơ mang tính biểu tượng cho cuộc sống làng biển là: "Mảnh lưới trăm năm" (hoặc hình ảnh "Cánh buồm nghiêng", "Mái nhà hình mắt lưới").

câu 3

- Hình ảnh "mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển" gợi:

+"Bạc đầu" không chỉ là dấu hiệu của tuổi tác mà còn là kết quả của những lo âu, trăn trở và sự tàn phá của thời gian trong sự chờ đợi vô vọng hoặc đầy rủi ro. "Đợi biển" là đợi người thân trở về từ nơi đầu sóng ngọn gió.

+Thể hiện sự xót xa, lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đối với sự hy sinh thầm lặng của người mẹ.

+Góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và sự chịu thương chịu khó của người phụ nữ vùng biển, đồng thời cho thấy sự khắc nghiệt của nghề biển đối với đời sống con người.

câu 4:

Từ "trăm năm" khẳng định bề dày lịch sử, sự kế thừa và nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác ("cha ông phơi nhoài bên mép biển"). Làng chài không chỉ là nơi ở mà còn là một chỉnh thể văn hóa bền chặt, dẻo dai như mắt lưới, gắn kết cộng đồng trước bao sóng gió.

câu 5:

Từ hình ảnh những người dân chài "vật lộn một đời biển giả bấp bênh" trong bài thơ, ta thấy rõ giá trị to lớn của lao động bền bỉ. Trong cuộc sống hôm nay, sự kiên trì và nhẫn nại chính là chìa khóa để con người vượt qua những thử thách nghiệt ngã và đạt được mục tiêu bền vững. Lao động không chỉ tạo ra giá trị vật chất để duy trì sự sống mà còn giúp rèn luyện bản lĩnh, bồi đốn ý chí và hình thành nên nhân cách cao đẹp. Một thành quả có được từ sự nỗ lực bền bỉ bao giờ cũng đáng quý và bền vững hơn những giá trị nhất thời. Chính sự nhẫn nại trong công việc hàng ngày của mỗi cá nhân sẽ góp phần xây dựng một cộng đồng vững mạnh và giàu truyền thống. Cuối cùng, lao động bền bỉ giúp chúng ta thấu hiểu giá trị của thành công và biết trân trọng những gì mình đang có.

câu1:

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tâm sự: "Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt". Có lẽ chính vì thế, bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" ra đời với tất cả những thương quý của Nguyễn Quang Thiều, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả về hình ảnh người phụ nữ tảo tần và vòng lặp số phận đầy ám ảnh. Khi đọc tác phẩm này, tôi thực sự xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ lam lũ, nơi tác giả đã tinh tế gửi gắm những rung cảm sâu xa về kiếp nhân sinh vất vả. Mở đầu đoạn thơ là hình ảnh thực đến xót xa: "những ngón chân xương xẩu... toẽ ra như móng chân gà mái". Biện pháp so sánh độc đáo này không chỉ lột tả sự khắc khổ mà còn khắc sâu nỗi nhọc nhằn của những người phụ nữ gánh nước suốt "nửa đời người". Trong khi họ bám trụ với thực tế trần trụi, thì người đàn ông lại mải mê với "cơn mơ biển" xa vời, tạo nên một sự tương phản đầy nhức nhối. Thành công của bài thơ còn nhờ vào thể thơ tự do linh hoạt và giọng thơ trầm buồn, chiêm nghiệm. Các hình ảnh ẩn dụ như "sông gục mặt", "những con cá thiêng quay mặt khóc" đã làm nổi bật sự bế tắc của một vòng lặp: đời mẹ gánh nước, đời con gái lại tiếp nối bước chân ấy. Qua đó, ta cảm nhận được thái độ cảm thông sâu sắc và sự trân trọng của nhà thơ đối với những người phụ nữ. Khép lại những trang thơ ấy, tác phẩm tựa như một khúc ca đẹp của văn học, vừa giàu cảm xúc vừa chứa đựng bao thông điệp sâu xa. Đọc xong bài thơ, ta như nhìn thấy một phần cuộc đời, nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương và sự thấu hiểu đối với những mảnh đời lam lũ xung quanh.

câu2:

Trong kỷ nguyên số, khi thế giới vận hành với tốc độ ánh sáng, giới trẻ thường bị cuốn vào vòng xoáy của sự nỗ lực không ngừng nghỉ. Đằng sau những thành tựu rực rỡ hay những tấm ảnh lung linh trên mạng xã hội là một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ đang phải đối mặt với hội chứng "burnout" – sự kiệt sức cả về thể chất lẫn tâm hồn. Đây không còn là một trạng thái nhất thời mà đã trở thành một vấn đề xã hội đáng báo động.

"Burnout" thực chất là một tình trạng kiệt quệ toàn diện. Nó không giống như cơn buồn ngủ sau một đêm thức trắng, mà là cảm giác trống rỗng, mất đi hoàn toàn động lực và sự kết nối với công việc hay cuộc sống. Người bị "burnout" thường cảm thấy mình như một ngọn nến đã cháy hết sáp, dù cố gắng đến đâu cũng không thể thắp sáng lại ngọn lửa đam mê.

Nguyên nhân của tình trạng này phần lớn đến từ áp lực thành công quá lớn. Giới trẻ hiện nay sống trong thời đại của "nền văn hóa hối hả" (hustle culture), nơi mà việc nghỉ ngơi đôi khi bị đánh đồng với sự lười biếng. Áp lực đồng trang lứa từ mạng xã hội – nơi ai cũng khoe ra những gì tốt đẹp nhất – vô tình tạo nên một thước đo khắc nghiệt, buộc người trẻ phải chạy đua để không bị bỏ lại phía sau. Bên cạnh đó, việc thiếu kỹ năng quản lý cảm giác và không biết cách thiết lập ranh giới cá nhân cũng khiến họ dễ dàng bị nhấn chìm trong khối lượng công việc khổng lồ.

Hậu quả của sự kiệt sức là vô cùng nặng nề. Nó không chỉ làm giảm năng suất lao động mà còn là "kẻ sát nhân thầm lặng" đối với sức khỏe tâm thần, dẫn đến trầm cảm hoặc rối loạn lo âu. Khi một thế hệ trẻ – nguồn lực chính của xã hội – rơi vào trạng thái rệu rã, đó là tổn thất lớn cho tương lai của quốc gia.

Để vượt qua "burnout", chúng ta cần học cách "ngắt kết nối để tái kết nối". Hãy hiểu rằng việc dừng lại để thở, để chăm sóc một nhành hoa hay đọc một cuốn sách không phải là lãng phí thời gian. Mỗi cá nhân cần học cách nói "không" với những yêu cầu quá tải và trân trọng những giá trị tinh thần bên trong mình hơn là những con số trên bảng lương hay lượt tương tác trên mạng. Đồng thời, gia đình và xã hội cần thay đổi góc nhìn, bớt áp đặt những tiêu chuẩn vàng lên vai người trẻ, để họ được phát triển một cách tự nhiên và lành mạnh nhất.

Tóm lại, thành công chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta có đủ sức khỏe và niềm vui để tận hưởng nó. Đừng để tuổi trẻ của mình lụi tàn trong sự kiệt quệ. Hãy nhớ rằng: "Một cỗ máy muốn chạy bền thì cần được bảo dưỡng, và con người cũng vậy".

Câu 1: Thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. không bị gò bó bởi quy tắc về số chữ hay vần điệu cố định

Câu 2: Phương thức biểu đạt

Các phương thức biểu đạt chính được sử dụng là:

- Miêu tả: Khắc họa hình ảnh những người đàn bà với "ngón chân xương xẩu", "búi tóc vỡ xối xả",... hay hình ảnh người đàn ông mang cần câu.

Câu 3: Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ

Việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" có các tác dụng sau:

-Tạo nhịp điệu chậm rãi, trầm buồn, như một lời kể lể đầy ám ảnh.

-Nhấn mạnh sự bền bỉ, dai dẳng của nỗi khổ cực. Đó không phải là một khoảnh khắc mà là sự trải dài của thời gian qua nhiều đời người.

-Cho thấy một thực trạng đau lòng là sự nghèo khó và lam lũ dường như đã trở thành một định mệnh, một vòng luẩn quẩn không lối thoát đối với những con người nơi đây.

Câu 4: Đề tài và Chủ đề

-Đề tài: Viết về cuộc sống lao động nghèo khổ của những con người ở làng quê ven sông.

- Chủ đề: Sự xót xa, thương cảm trước số phận nhọc nhằn, lam lũ của những người phụ nữ và sự tiếp nối quẩn quanh của kiếp người nhỏ bé, nghèo khó từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu 5: Suy nghĩ gợi ra từ bài thơ

Bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ sâu sắc:

-Sự thấu cảm với nỗi khổ: Hình ảnh những ngón chân "xoè ra như móng chân gà mái" gợi lên sự tàn phá của lao động nặng nhọc đối với con người. Ta thấy trân trọng hơn những giọt mồ hôi và sự hy sinh của những người phụ nữ.Nỗi ám ảnh về sự luẩn quẩn: Bài thơ gây buồn bã khi thấy những đứa trẻ lớn lên lại bước tiếp con đường của cha mẹ: con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu. Điều này gợi suy nghĩ về khát vọng thay đổi số phận và sự bế tắc của cái nghèo nếu không có một "cú hích" để bứt phá.Dù khổ cực, những người đàn bà vẫn lầm lũi gánh nước, những người đàn ông vẫn mang theo "cơn mơ biển", cho thấy sức sống và khát vọng âm thầm bên trong những hình hài khắc khổ.

Câu1:

thể thơ trên là thể thơ: 8 chữ

Câu2:

nhịp thơ chậm rãi, trầm buồn, Đôi khi ngắt nhịp linh hoạt, Cách ngắt nhịp tạo nên âm hưởng bâng khuâng, day dứt, diễn tả tâm trạng u buồn.

Câu3:

đề tài: Tình yêu đôi lứa

chủ đề: Quan điểm về sự dâng hiến và những nỗi đau sự hụt hẫng tất yếu trong tình yêu, Khẳng định yêu là chấp nhận “chết trong lòng một ít“ vì sự không trọn vẹn

câu4:

Bạn có thể chọn hình ảnh "sa mạc cô liêu". Hình ảnh này tượng trưng cho sự trống trải, đơn độc và khô héo của tâm hồn khi tình yêu không được đáp lại hoặc khi con người lạc lối trong chính cảm xúc của mình. Nó nhấn mạnh sự tương phản giữa khát vọng yêu thương mãnh liệt và thực tại phũ phàng

Câu5:

Câu 1


Bài thơ “Khán Thiên gia thi hữu cảm” của Nguyễn Ái Quốc thể hiện quan niệm sâu sắc về thơ ca và vai trò của người nghệ sĩ. Hai câu thơ đầu nói về đặc điểm của thơ cổ: thường nghiêng về miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên. Hàng loạt hình ảnh được liệt kê như “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong” đã gợi lên bức tranh thiên nhiên rộng lớn, thơ mộng, cho thấy thơ xưa chủ yếu hướng đến cái đẹp và cảm hứng lãng mạn. Tuy nhiên, đến hai câu sau, tác giả đã nêu lên quan niệm mới mẻ về thơ ca hiện đại. Theo Người, thơ thời đại mới cần có “thép”, tức là phải mang tinh thần chiến đấu, ý chí mạnh mẽ và gắn bó với cuộc sống của nhân dân. Không chỉ vậy, nhà thơ cũng phải biết “xung phong”, nghĩa là phải dấn thân, hòa mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc. Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ: hai câu đầu nói về thơ xưa, hai câu sau nêu quan niệm về thơ hiện đại. Qua đó, tác giả khẳng định thơ ca không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cuộc sống và góp phần vào sự nghiệp cách mạng. Dù ngắn gọn, bài thơ vẫn thể hiện tư tưởng sâu sắc và tinh thần thời đại.


Câu 2


Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, văn hóa truyền thống luôn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc và tâm hồn của mỗi con người Việt Nam. Những giá trị văn hóa ấy được vun đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành di sản quý báu của dân tộc. Vì vậy, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt ở giới trẻ hiện nay, là một vấn đề vô cùng quan trọng.


Văn hóa truyền thống là những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, tích lũy và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó có thể là phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, ẩm thực hay các loại hình nghệ thuật dân gian như hát chèo, tuồng, ca trù… Những giá trị ấy không chỉ phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người Việt mà còn thể hiện bản sắc riêng của dân tộc trong bức tranh văn hóa của thế giới. Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống chính là cách để bảo vệ cội nguồn và khẳng định bản sắc dân tộc. Trong xã hội hiện đại, nhiều bạn trẻ đã có ý thức tích cực trong việc bảo tồn và lan tỏa văn hóa truyền thống. Nhiều người chủ động tìm hiểu về lịch sử, phong tục của dân tộc, mặc áo dài trong những dịp quan trọng, tham gia các lễ hội truyền thống hoặc quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua mạng xã hội. Không ít bạn trẻ còn sáng tạo khi kết hợp các yếu tố văn hóa truyền thống với đời sống hiện đại, góp phần đưa những giá trị xưa trở nên gần gũi hơn với thế hệ hôm nay. Những hành động ấy cho thấy sự tự hào và trách nhiệm của giới trẻ đối với di sản văn hóa của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giới trẻ chưa thực sự quan tâm đến việc giữ gìn văn hóa truyền thống. Một số người chạy theo lối sống hiện đại mà quên đi những giá trị cội nguồn, thậm chí có thái độ thờ ơ với các phong tục, lễ hội hay nghệ thuật dân gian. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai cũng khiến nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ bị mai một. Điều này cho thấy việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của giới trẻ trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc là vô cùng cần thiết. Để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, trước hết mỗi người trẻ cần hiểu và trân trọng lịch sử, văn hóa của dân tộc mình. Nhà trường và gia đình cũng cần tăng cường giáo dục về văn hóa truyền thống, giúp thế hệ trẻ có cơ hội tiếp cận và trải nghiệm các giá trị văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, giới trẻ có thể tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để quảng bá và lan tỏa văn hóa Việt Nam đến với nhiều người hơn.


Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Đối với thế hệ trẻ, đó còn là cách thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Khi mỗi người trẻ biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông, bản sắc văn hóa Việt Nam sẽ tiếp tục được bảo tồn và tỏa sáng trong thời đại mới.

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên


Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).


Mỗi câu có 7 chữ.


Bài thơ gồm 4 câu.


Câu 2. Xác định luật của bài thơ


Bài thơ được viết theo luật bằng trong thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.


Đặc điểm:


Bài thơ tuân theo quy tắc niêm – luật – đối – vần của thơ Đường.


Các câu 1, 2, 4 hiệp vần với nhau (vần “ong”: phong – xung phong).


Câu 3 chuyển ý từ thơ xưa sang thơ hiện đại.


Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ


Biện pháp tu từ nổi bật là liệt kê trong câu:


“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”.


Tác dụng:


Liệt kê hàng loạt hình ảnh thiên nhiên: núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió.


Gợi ra bức tranh thiên nhiên rộng lớn, đẹp và thơ mộng trong thơ cổ.


Qua đó cho thấy thơ xưa thường thiên về miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên, ít phản ánh thực tế xã hội.


Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong”?


Tác giả cho rằng thơ hiện đại cần có “thép” vì:


Xã hội lúc bấy giờ đang trong thời kì đấu tranh, đất nước bị áp bức, nhân dân cần đứng lên giành độc lập.


Thơ ca không chỉ để ngắm cảnh đẹp mà phải gắn với cuộc sống, với lý tưởng cách mạng.


Nhà thơ phải có tinh thần chiến đấu, dấn thân, dùng thơ để cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân.


→ “Thép” ở đây tượng trưng cho ý chí, tinh thần chiến đấu và sức mạnh cách mạng.


Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ


Cấu tứ của bài thơ rõ ràng, chặt chẽ theo lối đối lập – chuyển ý:


Hai câu đầu: Nói về đặc điểm thơ xưa – thiên về thiên nhiên, cảnh đẹp.


Hai câu sau: Nêu quan niệm về thơ hiện đại – phải có tinh thần chiến đấu và trách nhiệm xã hội.


→ Bài thơ có cấu tứ so sánh giữa thơ cổ và thơ hiện đại, từ đó thể hiện quan niệm tiến bộ của tác giả về chức năng của thơ ca: thơ phải gắn với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng.

câu1:

a)

-phát huy tinh thần yêu nước

- củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

- kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

- phát huy, sáng tạo nghệ thuật lãnh đạo và nghệ thuật quân sự

b)

- là học sinh em cần chủ động tìm hiểu các tư liệu lịch sử, pháp luật Việt Nam, pháp luật Quốc tế,… để có nhận thức đúng đắn về vấn đề: chủ quyền, các quyền lợi và lợi ích pháp luật của Viêt Nam trên Biển Đông

câu2:

- thành tựu về chính trị : đổi mới sự tư duy chính trị, mối quan hệ Đảng, nhà nước với nhân dân, mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường theo quy định của hiến pháp

-thành tựu về hội nhập quốc tế:

+hội nhập cuốc tế được thực hiện thiết thực và hiệu quả

+vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên Thế giới

-thành tựu về xã hội:

+ chỉ số phát triển con người ( HDI) tăng đều đặn và liên tục

+ chính sách lao động, việc làm có nhiều chuyển biến theo hướng ngày càng phu hợp hơn

+công tác xoá đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả ấn tượng