Bùi Trung Thành

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Trung Thành
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Ý thức bảo vệ chủ quyền là sức mạnh cốt lõi giúp thế hệ trẻ khẳng định trách nhiệm công dân, bảo vệ vững chắc non sông. Đây là lá chắn chống lại âm mưu xâm lược và thông qua Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng, thanh niên có thể cập nhật chính xác các thông tin quốc phòng.Hơn thế, tinh thần ấy thôi thúc giới trẻ tích cực học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước giàu mạnh, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập sâu rộng. Mỗi hành động nhỏ như tự hào về lịch sử, đấu tranh chống lại thông tin sai lệch trên không gian mạng đều góp phần giữ gìn vẹn toàn chủ quyền lãnh thổ.

Câu 2:

Viết về những người con ưu tú trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nền văn học Việt Nam đã tạc nên những tượng đài bất tử. Bài thơ "Màu xanh Trường Sơn" của Nguyễn Hữu Quý và đoạn trích trong bài thơ "Khoảng trời hố bom" của Lâm Thị Mỹ Dạ là những vần thơ như thế. Dù được thể hiện qua những góc nhìn riêng, cả hai văn bản đều làm ngời sáng giá trị nội dung sâu sắc: ngợi ca vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam kiên cường, lạc quan và sự kết tinh lý tưởng cách mạng cao cả.Điểm gặp gỡ nổi bật về nội dung giữa hai văn bản là việc khắc họa thành công vẻ đẹp kiên cường, bất khuất và tinh thần lạc quan của những người thanh niên xung phong, người chiến sĩ nơi tuyến lửa. Trong "Khoảng trời hố bom", vẻ đẹp ấy hiện lên qua sự hi sinh thầm lặng, dung dị nhưng vô cùng vĩ đại của cô gái mở đường. Dù đối mặt với mưa bom bão đạn, tâm hồn cô vẫn trong trẻo, hiên ngang biến cái chết thành "khoảng trời hố bom" đầy chất thơ. Còn với "Màu xanh Trường Sơn", vẻ đẹp ấy là sự đối diện trực tiếp với hiện thực chiến tranh vô cùng khắc nghiệt. Nguyễn Hữu Quý không giấu đi cái gian khổ của "mùa mưa Trường Sơn", con đường "cheo leo", những "cơn sốt" hay cái nắng "xém lửa". Thế nhưng, vượt lên trên nỗi đau thể xác là sức sống mãnh liệt. Đứng trước sự tàn phá, người lính nhận ra "Màu xanh tiềm tàng" của đất, từ đó thắp lên "Màu xanh chói ngời" từ trong đáy mắt con người. Cả hai tác phẩm đều khẳng định sức mạnh tinh thần bất diệt, lấy sự sống để chiến thắng cái chết, lấy niềm tin để xua đi gian khổ.Tuy nhiên, giá trị nội dung của mỗi bài thơ lại mang những sắc thái rung cảm riêng. Lâm Thị Mỹ Dạ khai thác triệt để chất trữ tình, lãng mạn để làm nổi bật sự hi sinh, hóa thân thành vẻ đẹp vĩnh cửu của quê hương đất nước. Trong khi đó, "Màu xanh Trường Sơn" lại mang đậm âm hưởng sử thi hòa quyện với chất suy tư, triết lý. "Màu xanh" trong bài thơ của Nguyễn Hữu Quý mang tính biểu tượng đa nghĩa. Đó là màu xanh của thiên nhiên Trường Sơn ngút ngàn, màu xanh của tuổi trẻ, của niềm hy vọng, và trên hết, là "Màu xanh của Bác". Nhà thơ đã thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ – người đã dành trọn đời mình "cho màu thêm xanh". Nếu ở "Khoảng trời hố bom" là sự hòa quyện giữa tình yêu đất nước và tuổi trẻ, thì ở "Màu xanh Trường Sơn", tình cảm cá nhân được nâng lên thành tình yêu lãnh tụ, biến lòng kính yêu Bác thành sức mạnh tuôn ra tiền tuyến.Sự khác biệt về cách tiếp cận nội dung này bắt nguồn từ bối cảnh và cảm hứng sáng tác riêng của từng tác giả. Nếu Lâm Thị Mỹ Dạ hướng cái nhìn cảm phục về những tấm gương hy sinh anh dũng nơi tuyến đường Trường Sơn, thì Nguyễn Hữu Quý lại mang đến một góc nhìn toàn diện hơn về hình tượng người lính. Từ gian khổ thực tế, họ nhận thức được sức mạnh từ quê hương, từ niềm tin vào thế hệ "Cháu con Bác Hồ". Dù khác biệt về điểm nhấn, cả hai bài thơ đều hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình: cổ vũ tinh thần chiến đấu, ngợi ca những người đã làm nên khúc tráng ca bất tử của dân tộc.Khép lại những trang thơ, cả văn bản đọc hiểu và bài thơ "Màu xanh Trường Sơn" đều để lại trong lòng độc giả những dư âm khó quên. Bằng ngòi bút tài hoa và tấm lòng tri ân sâu sắc, các tác giả đã giúp thế hệ hôm nay thấu hiểu và trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ cha anh. Đó là những giá trị nội dung nhân văn, mãi mãi tỏa sáng trong nền văn học cách mạng Việt Nam.

Câu 1:Thể thơ của văn bản trên là thể thơ tự do

Câu 2:Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước là

Hình ảnh biển đảo: biển mùa này,sóng dữ, phía Hoàng Sa,biển Tổ quốc,trên sóng

Hình ảnh đất nước:mẹ Tổ quốc,cờ nước Việt

Câu 3:BPTT so sánh:"Mẹ Tổ quốc","máu ấm trong cờ nước Việt"

Tác dụng: Làm cho câu thơ trở nên thêm sinh động hấp dẫn,gợi hình,gợi cảm,tạo nhịp điệu âm hưởng cho câu

Nhấn mạnh vào nội đứng sự gắn kết thiêng liêng,máu thịt và không thể chia cắt giữa Tổ quốc và con người đất Việt

Qua đó

Câu 1:Gìn giữ bản sắc quê hương là trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả của thế hệ trẻ hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Bản sắc quê hương không chỉ là những nét văn hóa vật thể như đình làng, mái chèo, mà còn là tâm hồn, lối sống, phong tục tập quán truyền thống. Đối với giới trẻ, việc giữ gìn này giúp định vị bản thân, tránh bị "hòa tan" trước làn sóng văn hóa ngoại lai, tạo nên "chất keo" kết nối các thế hệ. Khi hiểu rõ cội nguồn, thanh niên mới có nền tảng vững chắc để phát triển, tự tin giao lưu văn hóa quốc tế mà vẫn giữ vững cốt cách dân tộc. Hơn nữa, những nét đẹp văn hóa này là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận, giúp thế hệ trẻ tạo ra các giá trị mới hiện đại dựa trên nền tảng truyền thống bền vững. Trái lại, nếu lãng quên, ta sẽ trở nên vô hồn, mất phương hướng. Vì vậy, mỗi người trẻ cần chủ động tìm hiểu, trân trọng và lan tỏa nét đẹp văn hóa quê hương thông qua những hành động nhỏ hàng ngày.

Câu 2:Quê hương luôn là dòng sông hiền hòa, là bến đỗ tâm hồn bình yên nhất của mỗi con người. Nếu như các văn bản viết về quê hương thường mang hơi thở của nỗi nhớ hoài niệm, thì bài thơ "Về làng" của Đỗ Viết Tuyển lại hiện lên với những hình ảnh bình dị, chân thực, mang đến một nỗi niềm trăn trở đầy day dứt về sự thay đổi của thời gian và tình làng nghĩa xóm.Về nội dung, bài thơ "Về làng" tập trung khắc họa không gian quê hương quen thuộc qua nhịp điệu vội vã, hối hả của người con xa quê muốn trở về: "Xuống tàu vội vã về quê / Bước đi mòn lối con đê đầu làng". Không gian ấy mang đậm nét thôn quê Việt Nam với "heo may", "cánh đồng ngang", "khói bếp lam chiều" và "cánh diều tuổi thơ". Những hình ảnh này không chỉ tái hiện một bức tranh làng quê yên bình mà còn gợi nhắc về những kỷ niệm ấu thơ êm đềm. Tuy nhiên, nét đặc sắc của "Về làng" nằm ở câu hỏi tu từ đầy trăn trở: "Người xưa giờ có còn sang hát chèo?". Câu hỏi gợi lên sự thay đổi của thời gian, sự mong manh của những giá trị truyền thống, nỗi hoài niệm về những con người, những phong tục xưa cũ.So với các văn bản khác (giả định là các bài thơ, tùy bút về quê hương), bài thơ của Đỗ Viết Tuyển nổi bật ở sự day dứt trong nỗi nhớ. Nếu văn bản khác có thể tập trung mô tả vẻ đẹp thiên nhiên hay tình yêu quê hương hồn nhiên, thì "Về làng" đi sâu vào nỗi niềm của người con đã "tóc xanh đã bạc" mới có dịp trở về.Điểm nhấn cuối cùng của bài thơ cũng là giá trị nội dung sâu sắc nhất chính là câu thơ: "Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng". Đây là một hình ảnh ẩn dụ đầy đắt giá. "Tóc xanh đã bạc" tượng trưng cho thời gian dài đằng đẵng, cuộc đời đã đi qua nhiều thăng trầm. Nỗi khát khao được trở về, nhưng lại "chưa tới làng" thể hiện một sự nuối tiếc, một khoảng cách không thể khỏa lấp, hay có thể hiểu là làng quê trong tâm tưởng đã thay đổi, không còn như xưa. Câu thơ vừa thể hiện tình yêu quê hương thiết tha, vừa mang nỗi buồn mênh mang về quy luật của thời gian và sự vô tình của đời người.Tóm lại, cả bài thơ "Về làng" và các văn bản cùng đề tài đều thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc. Tuy nhiên, qua bút pháp nghệ thuật tinh tế và những hình ảnh thơ giàu sức gợi, Đỗ Viết Tuyển đã mang đến một nốt lặng đầy suy tư, nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm trân trọng, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống khi thời gian trôi qua không bao giờ trở lại.

Câu 1:Thể thơ của văn bản trên là thể thơ tự do

Câu 2:Hình ảnh mang tính biểu tượng là mảnh lưới trăm năm

Câu 3:Ý nghĩa của hình ảnh"mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển"trong việc thể hiện cảm xúc và chủ đề là hình ảnh"mẹ tôi bạc đầừ" khắc hoạ sự già đi,sự hy sinh thầm lặng nỗi vất vả,lo âu của người mẹ nơi làng chài.Đó là sự chờ đơi khắc khoải , "đôi mắt trũng sâu vị muối mặn mòi thể hiện sự dõi theo con thuyền ra khơi,mong ngóng bình minh trở về mạng chồng con trở về an toàn

Cảm xúc và chủ đề :Thể hiện tình yêu thương của mẹ,sự trân trọng và nỗi xót xa của tác giả đối với người mẹ ,đồng thời khắc hoạ sâu sắc chủ đề với sự gian truân,kiên cường của người dân vùng biển trước thiên nhiên

Câu 4:Cuộc sống và truyền thống của làng chài được thể hiện trong bài thơ là sự gắn kết bền chặt giữa con người và biển khơi,tình thần đoàn kết , nỗ lực lao động , vượt qua khó khăn bão tố và tình yêu quê hương da diết

Câu 5:Hình ảnh con người làng biển "vật lộn", "lặn lội" với sóng gió để đem về "cá tôm ăm ắp" cho thấy lao động bền bỉ, nhẫn nại là yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị sống. Trong xã hội hôm nay, sự kiên trì không chỉ giúp con người vượt qua nghịch cảnh mà còn là chìa khóa để đạt được thành công bền vững, tạo ra của cải vật chất và tinh thần. Lao động nhẫn nại giúp rèn luyện bản lĩnh, lòng dũng cảm và sự trân trọng những thành quả mình làm ra. Nhờ có sự bền bỉ, con người không chỉ khẳng định giá trị bản thân mà còn góp phần xây dựng, phát triển cộng đồng. Vì vậy, dù ở thời đại nào, sự cần cù, bền bỉ vẫn là phẩm chất cao quý nhất.

Câu 1:

Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ hiện lên với sự giao thoa giữa vẻ đẹp phẩm hạnh cao quý và số phận đầy truân chuyên. Trước hết, đó là vẻ đẹp của sự tần tảo, nhẫn nại và lòng thủy chung son sắt. Dù trong cảnh ngộ nào, họ vẫn giữ vẹn nguyên tấm lòng đức hạnh, giống như đóa sen "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn". Tuy nhiên, bao trùm lên vần thơ lại là tiếng than thân trách phận đầy xót xa. Hình ảnh người phụ nữ thường gắn liền với những phép so sánh nhỏ bé, mong manh như "thân em", "chiếc bách giữa dòng", cho thấy họ hoàn toàn bị tước đoạt quyền tự quyết, cuộc đời trôi dạt vô định giữa những định kiến khắt khe của xã hội phong kiến "trọng nam khinh nữ". Qua việc khắc họa hình tượng này, tác giả không chỉ bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc trước những bi kịch cá nhân mà còn cất lên tiếng nói ngợi ca bản lĩnh tâm hồn rạng ngời của người phụ nữ. Đó chính là điểm sáng nhân văn, khiến hình tượng người phụ nữ luôn sống động và lay động trái tim bao thế hệ độc giả.

Câu 2:

Kiệt sức (burnout) không chỉ là cảm giác mệt mỏi sau một ngày làm việc dài, mà đã trở thành một "đại dịch thầm lặng" đang bào mòn sức sống của giới trẻ trong xã hội hiện đại. Hội chứng burnout là trạng thái kiệt quệ về cả thể chất, tinh thần và cảm xúc do áp lực kéo dài [1, 2]. Đối với giới trẻ ngày nay, trạng thái này thường biểu hiện qua sự mất kết nối với công việc, cảm giác hoài nghi về giá trị bản thân và hiệu suất làm việc giảm sút trầm trọng. Họ rơi vào vòng xoáy của sự uể oải, nơi mà ngay cả những sở thích cá nhân cũng không còn đủ sức khơi dậy niềm vui. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trước hết đến từ áp lực thành công. Trong kỷ nguyên số, giới trẻ luôn bị bủa vây bởi "áp lực đồng lứa" (peer pressure) khi chứng kiến sự thành đạt của người khác qua màn hình điện thoại [4, 5]. Khát vọng khẳng định mình cùng nỗi sợ bị bỏ lại phía sau (FOMO) buộc họ phải lao vào cuộc đua không hồi kết, làm việc xuyên đêm, hy sinh thời gian nghỉ ngơi để đổi lấy những nấc thang sự nghiệp. Bên cạnh đó, sự giao thoa mờ nhạt giữa công việc và đời tư do công nghệ tạo ra khiến họ "luôn luôn trực tuyến", không bao giờ thực sự được ngắt kết nối [6]. Hậu quả của burnout vô cùng nghiêm trọng. Về sức khỏe, nó dẫn đến các vấn đề về giấc ngủ, tiêu hóa và tim mạch [1, 2]. Về tâm lý, sự kiệt sức kéo dài là mầm mống của trầm cảm và rối loạn lo âu [2, 3]. Quan trọng hơn, nó lấy đi khả năng sáng tạo và niềm đam mê – vốn là tài sản quý giá nhất của tuổi trẻ. Khi một thế hệ kiệt sức, sự phát triển bền vững của xã hội cũng sẽ bị đe dọa. Để vượt qua hội chứng này, giới trẻ cần học cách thiết lập ranh giới. Chúng ta cần hiểu rằng nghỉ ngơi không phải là lười biếng, mà là quá trình "tái nạp" năng lượng cần thiết. Hãy học cách nói không với những kỳ vọng quá tải và tập trung vào sức khỏe tinh thần thông qua các hoạt động như thiền, thể thao hay đơn giản là dành thời gian cho thiên nhiên [2, 7]. Về phía xã hội và doanh nghiệp, cần xây dựng một môi trường coi trọng sức khỏe nhân viên thay vì chỉ nhìn vào các con số năng suất. "Chạy bộ trên máy tập" đến mức kiệt lực không giúp chúng ta đi xa hơn. Thay vì cố gắng trở thành những "cỗ máy" không biết mệt mỏi, người trẻ hãy học cách làm một "người làm vườn" biết chăm sóc cho tâm hồn mình. Chỉ khi có một tinh thần khỏe mạnh, chúng ta mới có thể tạo ra những giá trị bền vững và tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn nhất.


Câu 1:Thể thơ của bài thơ trên là thể thơ tự do

Câu 2:Phương thức biểu đạt là biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả

Câu 3:Việc lặp lại 2 lần trong dòng thơ là:

Nhấn mạnh sự ám ảnh của thời gian: Những con số "năm năm, mười lăm năm..." cho thấy một khoảng thời gian dài đằng đẵng, tạo cảm giác về một cuộc sống ngưng trệ, mòn mỏi.

Câu 4:

Đề tài:Viết về cuộc sống sinh hoạt và số phận của những người dân nghèo vùng nông thôn (đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ).

Chủ đề: Bài thơ phản ánh cuộc sống nghèo khó, quẩn quanh, đầy cơ cực của những người dân làng Chùa bên sông Đáy; qua đó thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả trước những kiếp người lam lũ, nhẫn nhịn và sự tiếp nối của những số phận chưa có lối thoát.

Câu 5:Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ về cảm thương hình ảnh những người mẹ, người chị với đôi bàn chân "xương xẩu", "móng đen toẽ ra" – biểu tượng cho sự nhọc nhằn, dãi dầu.

Câu 1:Thể thơ của bài thơ trên là thể thơ tám chữ

Câu 2: Nhịp thơ trong bài khá đa dạng,nhưng chủ đạo là nhịp chậm,dàn trải và có phần trăn trở

Câu 3: Đề tài là tình yêu lứa đôi

Chủ đề là sự hy sinh, nỗi cô đơn và những nghịch lý cay đắng trong tình yêu. Bài thơ khẳng định rằng yêu là một hành trình dâng hiến không cân xứng, nơi con người phải đối mặt với sự hờ hững, chia ly và nỗi đau tinh thần

Câu 4:

Hình ảnh: "Và cảnh đời là sa mạc cô liêu". Ý nghĩa: Hình ảnh so sánh "cảnh đời" với "sa mạc cô liêu" tượng trưng cho sự cô đơn tận cùng, trống trải và khô hạn cảm xúc khi không được đáp lại tình yêu. Sa mạc gợi sự hoang vắng, mênh mông, nhấn mạnh nỗi sầu muộn và bế tắc của người si tình trong tình yêu.

Câu 5:Văn bản gợi cho em suy nghĩ về sự dũng cảm trong tình yêu. Yêu không chỉ là hạnh phúc, mà còn là sự chấp nhận rủi ro, chịu đựng sự thờ ơ hoặc phụ bạc. Nỗi đau "chết trong lòng một ít" không phải là sự chán ghét tình yêu, mà là dấu hiệu của một tình yêu sâu sắc, chân thành, dẫu biết có thể nhận về đau thương.




Câu 1:

Nhân vật "tôi" trong đoạn trích Hoàng tử bé là một hình tượng đầy suy tư, đại diện cho những tâm hồn nghệ sĩ lạc lõng giữa thế giới thực dụng của người lớn. Ngay từ thuở lên sáu, "tôi" đã sở hữu một thế giới nội tâm phong phú và khả năng quan sát tinh tế qua bức vẽ con trăn đại diện cho sức mạnh thiên nhiên kỳ bí. Tuy nhiên, bi kịch của nhân vật nằm ở sự "đứt gãy" giao tiếp với thế giới xung quanh: khi cậu nhìn thấy một kiệt tác đầy sức sống, người lớn chỉ thấy một chiếc mũ vô tri. Sự cô độc ấy buộc "tôi" phải từ bỏ giấc mơ họa sĩ để trở thành một phi công, một nghề nghiệp mang tính kỹ thuật và định hướng địa lý rõ ràng. Dù đã trưởng thành và hòa nhập vào xã hội của "những người quan trọng", nhân vật vẫn giữ trong mình một "phương diện trắc nghiệm" – bức vẽ số một – như một cách để tìm kiếm những tâm hồn đồng điệu. Thái độ "tự hạ ngang tầm" để bàn về chính trị, cà vạt hay bài bạc cho thấy sự thích nghi đầy cay đắng và châm biếm của một người hiểu rõ sự cằn cỗi của người lớn. Qua nhân vật "tôi", Saint-Exupéry không chỉ bộc lộ nỗi tiếc nuối về tuổi thơ bị đánh mất mà còn gửi gắm bức thông điệp sâu sắc: vẻ đẹp đích thực của thế giới vốn không nằm ở vẻ bề ngoài mà ở khả năng thấu cảm và trí tưởng tượng không giới hạn.

Câu 2:

Triết gia người Ý Giacomo Leopardi từng để lại một nhận định đầy ưu tư: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả." Câu nói như một tấm gương phản chiếu sự đối lập gay gắt giữa hai thế giới: một bên là sự giàu có của trí tưởng tượng non trẻ và một bên là sự nghèo nàn của tâm hồn người trưởng thành giữa bộn bề vật chất. Từ góc nhìn của một người trẻ đang đứng trước ngưỡng cửa của sự trưởng thành, tôi nhận thấy đây không chỉ là một lời nhận xét về độ tuổi, mà là một lời cảnh tỉnh về cách chúng ta đánh mất bản sắc tâm hồn. "Nơi chẳng có gì" đối với thế giới quan của người lớn có thể là một hòn sỏi ven đường, một chiếc hộp giấy bỏ đi hay một bầu trời đêm đầy sao không mang lại giá trị kinh tế. Nhưng với trẻ con, đó là "tất cả". Một hòn sỏi có thể là viên ngọc quý, một chiếc hộp là phi thuyền du hành không gian. Trẻ con nhìn đời bằng đôi mắt của sự tò mò thuần khiết, nơi trí tưởng tượng lấp đầy mọi khoảng trống của thực tại. Ngược lại, người lớn sở hữu "tất cả" – kiến thức, tiền bạc, địa vị và những tiện nghi hiện đại – nhưng lại thường cảm thấy trống rỗng. Họ nhìn một bông hoa chỉ để biết tên, nhìn một con sông để tính toán thủy điện, và vô tình đánh mất khả năng cảm nhận vẻ đẹp nguyên bản của sự sống. Sự khác biệt này bắt nguồn từ hệ quy chiếu giá trị. Khi trưởng thành, chúng ta dần bị cuốn vào vòng xoáy của "tính hữu dụng". Mọi thứ đều phải có mục đích, phải sinh ra lợi ích. Nhân vật "tôi" trong Hoàng tử bé từng bị người lớn khuyên hãy dẹp bỏ những bức vẽ "con trăn nuốt voi" vô bổ để tập trung vào toán học và địa lý. Chính sự giáo dục thiên về thực tế và áp lực thành công đã vô tình bóp nghẹt những mầm mống sáng tạo. Người lớn nhìn thế giới qua lăng kính của kinh nghiệm và định kiến, khiến mọi thứ trở nên hiển nhiên và nhàm chán. Họ có tất cả trong tay nhưng lại thiếu đi chiếc chìa khóa quan trọng nhất: sự ngạc nhiên trước cuộc đời. Tuy nhiên, liệu có phải cứ lớn lên là chúng ta buộc phải trở nên cằn cỗi? Là một người trẻ, tôi tin rằng "trẻ con" hay "người lớn" đôi khi không nằm ở số tuổi trên căn cước công dân mà nằm ở trạng thái của tâm thức. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà áp lực đồng lứa và sự kỳ vọng của xã hội rất lớn. Những kỳ thi, những dự định chọn nghề, chọn trường đôi khi khiến ta quên mất việc phải cảm nhận niềm vui từ những điều nhỏ bé. Nếu chúng ta chỉ mải mê đuổi theo những "cái tất cả" hào nhoáng bên ngoài mà bỏ quên việc nuôi dưỡng thế giới bên trong, chúng ta sẽ sớm trở thành những người lớn "chẳng tìm được gì" như Leopardi đã nói. Bài học lớn nhất mà tôi rút ra được là sự cân bằng. Chúng ta cần kiến thức của người lớn để sinh tồn, nhưng cần trái tim của trẻ thơ để thực sự "sống". Hãy học cách trân trọng những giá trị tinh thần, những khoảnh khắc tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại làm nên ý nghĩa của cuộc đời. Đừng để sự thực dụng biến tâm hồn ta thành một sa mạc khô cằn. Tóm lại, ý kiến của Giacomo Leopardi là một thông điệp nhân văn sâu sắc. Trẻ con dạy chúng ta cách tìm thấy hạnh phúc từ hư không, còn người lớn nhắc nhở chúng ta về nguy cơ đánh mất chính mình giữa sự đủ đầy. Giữ cho mình một "khoảng lặng trẻ thơ" trong tâm hồn chính là cách tốt nhất để mỗi người trẻ không chỉ trưởng thành về tầm vóc mà còn chín muồi về cảm xúc, để ta luôn tìm thấy "tất cả" trong từng hơi thở của cuộc sống này.


Câu 1:Ngôi kể trong văn bản là ngôi thứ nhất

Câu 2:Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là bức vẽ số một:một con trăn đang tiêu hoá một con voi

Câu 3:Họ coi trọng những kiến thức có tính ứng dụng trực tiếp vào đời sống,sự nghiệp và địa vị xã hội

Câu 4:Họ là những người thiếu khả năng thấu cảm,tâm hồn cằn cỗi,chỉ quan tâm những thứ hưu hình,con số,chính trị,cà vạt và những chuyên thực dụng

Nhận xét:Những nhân vật này đại diện cho một thế giới quan hạn hẹp,đánh mất sự hồn nhiên và khả năng sáng tạo

Câu 5:Dù nhân vật"tôi" đã bỏ nghề hoạ sĩ,nhưng bài học đã để lại cho chúng ta là hãy dũng cảm bảo vệ bản sắc và ước mơ của mình trước những định kiến của xã hội


Câu 1:

Nhân vật lão Goriot trong tiểu thuyết cùng tên của H. de Balzac là hình tượng tiêu biểu cho bi kịch tình phụ tử mù quáng bị tha hóa bởi đồng tiền trong xã hội tư sản Pháp thế kỷ XIX. Lão là một người cha yêu con đến mức cuồng si, sẵn sàng dâng hiến toàn bộ tài sản và danh dự để thỏa mãn lối sống xa hoa của hai cô con gái, Anastasie và Delphine. Sự hy sinh vô điều kiện ấy trái lại chỉ nhận về sự thờ ơ, khinh rẻ và lãng quên, khiến lão chết trong nghèo đói, cô độc và đau đớn tột cùng. Goriot không chỉ là nạn nhân của sự bất hiếu mà còn là nạn nhân của xã hội trọng tiền tài, nơi tình thân bị nghiền nát bởi dục vọng vật chất. Qua nhân vật này, Balzac đã đanh thép tố cáo một xã hội suy đồi đạo đức, đồng thời khắc họa nỗi đau thương tột cùng của một "chúa tể" tình phụ tử bị phản bội.

Câu 2:

Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại, thường gọi là "khoảng cách thế hệ", là một thực trạng phổ biến khi công nghệ phát triển và nhịp sống hối hả làm giảm thời gian chia sẻ. Sự khác biệt về quan điểm, áp lực công việc và sự lên ngôi của thế giới ảo khiến gia đình trở nên xa lạ, đòi hỏi mỗi thành viên cần thấu hiểu, tôn trọng và chủ động kết nối. Xã hội hiện đại mang đến những tiến bộ vượt bậc, nhưng lại kéo theo những hệ lụy không nhỏ đến tình cảm gia đình. Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái không chỉ là khoảng cách về tuổi tác, mà chủ yếu là khoảng cách về tư duy, quan niệm sống và sự thiếu vắng giao tiếp. Không khó để bắt gặp hình ảnh mỗi người một chiếc điện thoại trong bữa cơm, hoặc những cuộc tranh luận căng thẳng về định hướng tương lai, khiến tổ ấm trở nên lạnh lẽo. Nguyên nhân đầu tiên đến từ áp lực công việc và nhịp sống vội vã. Cha mẹ mải mê mưu sinh, lo kinh tế, trong khi con cái áp lực học hành, bạn bè. Thời gian chất lượng dành cho nhau bị cắt giảm, chỉ còn lại những câu hỏi xã giao hoặc lời cằn nhằn. Thứ hai, khoảng cách thế hệ (Generation Gap) tạo ra những góc nhìn trái chiều. Cha mẹ mang tư duy truyền thống, muốn bao bọc và kiểm soát, trong khi con cái khao khát tự do, khẳng định cái tôi và sống theo tư duy mới. Đặc biệt, công nghệ thông tin giúp con người kết nối với thế giới ảo nhưng lại khiến họ xa rời người thân, khi mỗi thành viên "trốn" vào thế giới riêng trên không gian mạng thay vì trò chuyện trực tiếp. Sự xa cách này để lại hậu quả nghiêm trọng. Nó tạo ra những tổn thương tâm lý, cảm giác cô đơn và không được thấu hiểu. Nó làm suy yếu nền tảng gia đình – vốn là bến đỗ an yên nhất của mỗi người. Con cái trở nên lầm lì, dễ sa ngã hoặc tìm kiếm sự thấu hiểu sai lệch từ bên ngoài. Để rút ngắn khoảng cách này, cần sự nỗ lực từ cả hai phía. Cha mẹ nên chuyển từ vai trò "người chỉ đạo" sang "người đồng hành", lắng nghe và tôn trọng sự khác biệt của con. Con cái cần biết chia sẻ, bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa, kiên nhẫn hơn với những quan niệm cũ của cha mẹ. Việc đặt ranh giới tôn trọng sự riêng tư nhưng không thờ ơ là chìa khóa. Hãy dành những khoảng thời gian không công nghệ để thực sự trò chuyện, chia sẻ bữa cơm hay cùng nhau trải nghiệm. Gia đình là nơi bình yên để trở về, là sức mạnh tinh thần lớn lao. Sự xa cách có thể là rào cản, nhưng bằng tình yêu thương và sự thấu hiểu, chúng ta hoàn toàn có thể thu hẹp khoảng cách, biến gia đình thành tổ ấm thực sự trong thời đại số.