Trịnh Minh Đức
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hiện đại hóa, đời sống con người ngày càng đổi thay nhanh chóng. Công nghệ phát triển, lối sống mới du nhập, tư duy cũng dần cởi mở hơn. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống trở thành một vấn đề quan trọng, mang ý nghĩa sống còn đối với bản sắc dân tộc. Văn hóa truyền thống là những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, tích lũy qua nhiều thế hệ. Đó có thể là phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, ẩm thực, ngôn ngữ, hay những chuẩn mực đạo đức như lòng hiếu thảo, tình làng nghĩa xóm, sự tôn trọng gia đình. Những giá trị ấy không chỉ phản ánh lịch sử và bản sắc của một dân tộc, mà còn là nền tảng giúp con người định hình nhân cách và lối sống. Trong đời sống hiện đại hôm nay, việc gìn giữ văn hóa truyền thống là vô cùng cần thiết. Trước hết, đó là cách để mỗi dân tộc khẳng định bản sắc riêng giữa một thế giới ngày càng “phẳng”. Nếu đánh mất văn hóa truyền thống, con người sẽ trở nên mờ nhạt, mất đi cội nguồn và sự khác biệt. Bên cạnh đó, nhiều giá trị truyền thống vẫn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phù hợp với xã hội hiện đại như tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, sự kính trên nhường dưới. Đây chính là những yếu tố giúp xã hội phát triển bền vững chứ không chỉ chạy theo vật chất. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít giá trị truyền thống đang bị mai một. Nhiều bạn trẻ dần thờ ơ với văn hóa dân tộc, chuộng lối sống phương Tây mà quên đi những nét đẹp vốn có. Một số phong tục, lễ hội bị biến tướng vì mục đích thương mại, làm mất đi ý nghĩa ban đầu. Thậm chí, có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống tốt đẹp như vô lễ với người lớn, sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm với gia đình. Để gìn giữ và bảo vệ văn hóa truyền thống, cần có sự chung tay của cả xã hội. Nhà nước cần có chính sách bảo tồn, tôn vinh các di sản văn hóa, đồng thời giáo dục ý thức cho người dân. Gia đình và nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dạy những giá trị tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Bản thân mỗi người, đặc biệt là thanh niên, cần có ý thức trân trọng, học hỏi và phát huy văn hóa truyền thống một cách phù hợp với thời đại. Gìn giữ không có nghĩa là giữ nguyên một cách cứng nhắc, mà cần biết chọn lọc, tiếp thu cái mới nhưng vẫn giữ được “hồn cốt” dân tộc. Trong một thế giới hiện đại đầy biến động, văn hóa truyền thống chính là “gốc rễ” giúp con người không bị lạc hướng. Giữ gìn và bảo vệ những giá trị ấy không chỉ là trách nhiệm, mà còn là niềm tự hào của mỗi cá nhân đối với dân tộc mình. Khi biết trân trọng quá khứ, chúng ta mới có thể vững vàng bước tới tương lai.
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên như một hình ảnh tiêu biểu cho sự thay đổi của người con gái nông thôn khi bước vào không gian thành thị. Ban đầu, “em” gắn với vẻ đẹp chân quê mộc mạc, giản dị, đậm chất truyền thống. Tuy nhiên, sau khi “đi tỉnh về”, “em” đã thay đổi rõ rệt: cách ăn mặc, dáng vẻ trở nên “tân thời”, xa lạ với hình ảnh ban đầu. Sự thay đổi ấy khiến “anh” – cũng là tiếng lòng của nhà thơ – cảm thấy hụt hẫng, tiếc nuối. Nhân vật “em” không bị phê phán gay gắt mà chủ yếu được nhìn qua lăng kính yêu thương xen lẫn buồn bã. Qua đó, Nguyễn Bính thể hiện nỗi lo về việc những giá trị truyền thống đang dần bị mai một trước làn sóng văn hóa đô thị. “Em” vừa là một cá nhân cụ thể, vừa là biểu tượng cho sự đổi thay của con người trong xã hội, gợi lên suy nghĩ về việc giữ gìn bản sắc quê hương giữa nhịp sống hiện đại.
Một tác phẩm văn học thường có nhiều thông điệp. HS cần rút ra thông điệp từ nội dung tác phẩm và đưa ra lí giải hợp lí. Tác phẩm Chân quê có một số thông điệp như sau: - Chúng ta cần có ý thức bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, dân tộc. - Chúng ta cần học được cách sống, ứng xử phù hợp với môi trường sống của mình.
- Biện pháp tu từ được sử dụng ở đây là ẩn dụ. - "Hương đồng gió nội" là nét đặc trưng của vùng quê. Tác giả dùng "hương đồng gió nội" để ẩn dụ cho chất quê chân chất, thật thà, giản dị của em, nhằm nhấn mạnh dường như chỉ sau một ngày đi tỉnh về em đã đánh mất những giá trị văn hóa truyền thống, đặc trưng của con người quê hương mình.
Trong bài thơ tác giả liệt kê 2 kiểu loại trang phục, lần lượt đại diện cho thành thị (trang phục của tỉnh) và nông thôn (trang phục của quê). - Trang phục của tỉnh: khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm. - Trang phục của quê: yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen.
Nhan đề Chân quê gợi cho em cảm giác về chất quê mộc mạc, giản dị, chân chất, thật thà của những con người sống ở nông thôn.
Lục bát
Đề kiểm tra giữa học kì II - Đề số 1 Bài GV giao Bài 1 (4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: TRUYỆN KIỀU (Trích) Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài Đội trời đạp đất ở đời, Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông Giang hồ quen thú vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều, Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng Thiếp danh đưa đến lầu hồng, Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa. Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ, Phải người trăng gió vật vờ hay sao? Bấy lâu nghe tiếng má đào, Mắt xanh chẳng để ai vào có không? Một đời được mấy anh hùng, Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi!” Nàng rằng: “Người dạy quá lời, Thân này còn dám xem ai làm thường! Chút riêng chọn đá thử vàng, Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau, Ai cho kén chọn vàng thau tại mình!” Từ rằng: “Lời nói hữu tình, Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần, Phỏng tin được một vài phần hay không?” Thưa rằng: “Lượng cả bao dung, Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!” Nghe lời vừa ý gật đầu, Cười rằng: “Tri kỷ trước sau mấy người? Khen cho con mắt tinh đời, Anh hùng đoán giữa trần ai mới già! Một lời đã biết đến ta, Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!” Hai bên ý hợp tâm đầu, Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân. Ngỏ lời nói với băng nhân, Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn. Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn, Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên. Trai anh hùng gái thuyền quyên, Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng. (Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Trẻ, 2015, tr. 293 − 297) Câu 1. (0.5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2. (0.5 điểm) Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở đâu? Câu 3. (1.0 điểm) Anh/ chị có nhận xét gì nhân vật Thúy Kiều qua những câu thơ sau? Thưa rằng: “Lượng cả bao dung, Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!” Câu 4. (1.0 điểm) Anh/ chị có nhận xét như thế nào về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích? Câu 5. (1.0 điểm) Văn bản trên đã khơi gợi trong anh/ chị những tình cảm/ cảm xúc gì? Vì sao? Hướng dẫn giải: Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: * Gợi ý trả lời: + Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng. + Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. + Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” => Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. – Tình cảm/cảm xúc của bản thân: + Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. + Trân trọng đối với Thúy Kiều. + Vui mừng với kết thúc viên mãn,... – Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân. Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: * Gợi ý trả lời: + Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng. + Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. + Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” => Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. – Tình cảm/cảm xúc của bản thân: + Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. + Trân trọng đối với Thúy Kiều. + Vui mừng với kết thúc viên mãn,... – Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân. [Sửa] Bài 2 Câu 1. (2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc hiểu. Câu 2. (4 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến sau: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh.”. Hướng dẫn giải: Câu 1. (2 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc hiểu. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Cốt truyện: Theo mô hình quen thuộc của truyện thơ Nôm (gặp gỡ − gia biến − đoàn tụ). + Ngôn ngữ: Giàu chất tự sự − trữ tình; sử dụng thể thơ lục bát truyền thống; hình thức đối thoại; vận dụng nhiều điển cố, điển tích; biện pháp tu từ,… + Nhân vật chính: Nhân vật chính diện, đại diện cho ước mơ, khát vọng của tác giả. + … – Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2. (4 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến sau: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh.”. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: – Giải thích ý kiến: + “Lòng tốt” là sự yêu thương, quan tâm, chia sẻ vật chất hoặc tinh thần đối với những người xung quanh. + “Chữa lành các vết thương” là xoa dịu, hàn gắn những nỗi đau về tinh thần (như mất mát, tổn thương, thất vọng,...) và cả thể xác (bệnh tật, thương tật,...). + “Sắc sảo” ở đây không chỉ sự thông minh, lanh lợi mà còn là sự tỉnh táo, sáng suốt, biết phân biệt đúng sai, phải trái, biết cách thể hiện lòng tốt một cách hiệu quả và phù hợp. + “Con số không tròn trĩnh” là sự vô nghĩa, không có giá trị, thậm chí còn gây hại. => Tóm lại, ý kiến đề bài đưa ra có ý nghĩa khẳng định lòng tốt là một đức tính quý báu, nhưng nó cần được thể hiện một cách khôn ngoan, có suy xét, nếu không sẽ trở nên vô ích, thậm chí phản tác dụng. – Vai trò của lòng tốt: + Chữa lành các vết thương, xoa dịu, hàn gắn những nỗi đau về tâm hồn của con người. + Lòng tốt mang lại sự ấm áp, niềm tin và hy vọng cho con người, giúp họ vượt qua khó khăn, nghịch cảnh. + Lòng tốt tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp, xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái. (Ví dụ: Những hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ người gặp khó khăn,…) – Bàn luận về sự cần thiết của tính “sắc sảo” trong lòng tốt: + Lòng tốt mà không có sự suy xét có thể bị lợi dụng, trở thành công cụ cho kẻ xấu. + Lòng tốt được thể hiện không đúng cách có thể gây ra những hậu quả không mong muốn. (Ví dụ: Giúp đỡ người lười biếng bằng cách làm hết việc cho họ,...) + “Sắc sảo” giúp chúng ta nhận diện đúng đối tượng cần giúp đỡ, lựa chọn cách thức giúp đỡ phù hợp, hiệu quả. => Lòng tốt và sắc sảo là hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Lòng tốt là gốc rễ, sắc sảo là phương tiện. Hai yếu tố này bổ sung cho nhau tạo nên một lòng tốt trọn vẹn. – Giải pháp: + Phê phán những hành vi lợi dụng lòng tốt của người khác. + Có tinh thần hoài nghi tích cực để không rơi vào bẫy của những kẻ lợi dụng. * Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1. Thể thơ: Lục bát. Câu 2. Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh. Câu 3. Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân. Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích: * Gợi ý trả lời: + Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng. + Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng. + Hành động: Tôn trọng Kiều (“thiếp danh đưa đến lầu hồng”), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.” => Hành động nhanh chóng, dứt khoát. Câu 5. – Tình cảm/cảm xúc của bản thân: + Ngưỡng mộ đối với Từ Hải. + Trân trọng đối với Thúy Kiều. + Vui mừng với kết thúc viên mãn,... – Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân.
Câu 1: Phân tích nhân vật bé Em (Khoảng 200 chữ) Trong truyện ngắn "Áo Tết", nhân vật bé Em hiện lên là một cô bé có tâm hồn vô cùng nhạy cảm, nhân hậu và giàu lòng tự trọng. Dù còn nhỏ tuổi, bé Em đã bộc lộ sự tinh tế khi nhận ra nỗi buồn của bạn mình là Bích – người không có áo mới để diện Tết. Thay vì hãnh diện khoe khoang chiếc áo đầm lộng lẫy "xanh mướt, có đôi cánh thiên thần" mà mình hằng mong ước, bé Em lại chọn cách ứng xử đầy thấu cảm. Đỉnh điểm của vẻ đẹp tâm hồn bé Em là quyết định mặc bộ đồ cũ để đi chơi cùng Bích, giúp bạn không cảm thấy mặc cảm, tự ti. Hành động này cho thấy bé Em biết đặt mình vào vị trí của người khác và coi trọng tình bạn chân thành hơn mọi giá trị vật chất phù phiếm. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư không chỉ ca ngợi tấm lòng nhân ái của trẻ thơ mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về sự sẻ chia và cách đối nhân xử thế trong cuộc sống. Bé Em chính là minh chứng cho việc vẻ đẹp thực sự của một con người không nằm ở bộ quần áo họ mặc, mà ở cách họ sưởi ấm trái tim người khác.
Câu 2: Nghị luận về việc cân bằng giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống Trong câu chuyện "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư, nhân vật bé Em đã đứng trước một lựa chọn khó khăn: mặc chiếc áo đầm mới lộng lẫy để hãnh diện với xóm giềng, hay mặc bộ đồ cũ để chia sẻ nỗi mặc cảm với người bạn nghèo. Cuối cùng, bé Em đã chọn tình bạn. Lựa chọn ấy không chỉ là một hành động đẹp của trẻ thơ mà còn gợi ra một vấn đề lớn lao của nhân sinh: Làm sao để cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong một thế giới đang ngày càng coi trọng vẻ bề ngoài? Giá trị vật chất là những tiện nghi, của cải hữu hình giúp con người duy trì cuộc sống và thỏa mãn các nhu cầu thể chất. Trong khi đó, giá trị tinh thần là thế giới của tình cảm, đạo đức, sự bình an và những kết nối giữa người với người. Trong xã hội hiện đại, vật chất thường được ví như "phần xác", còn tinh thần là "phần hồn". Một cơ thể không thể sống nếu thiếu thực phẩm, nhưng cũng không thể thực sự "sống" nếu tâm hồn trống rỗng và khô héo. Việc tìm kiếm sự cân bằng là vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta quá nghiêng về vật chất, con người dễ rơi vào cái bẫy của lòng tham và sự đố kỵ. Khi đó, những giá trị như tình thân, lòng trắc ẩn sẽ bị xem nhẹ, con người nhìn nhau qua nhãn mác quần áo hay giá trị chiếc xe. Ngược lại, nếu phủ nhận hoàn toàn giá trị vật chất, cuộc sống sẽ trở nên thiếu thốn, khắc nghiệt và khó có điều kiện để phát triển trí tuệ hay giúp đỡ cộng đồng. Sự cân bằng chính là khi ta trân trọng của cải mình làm ra nhưng không để chúng làm chủ cảm xúc và hành vi của mình. Từ bài học của bé Em – người đã nhận ra chiếc áo đẹp không giá trị bằng nụ cười của bạn, chúng ta có thể hướng tới lối sống hài hòa qua những việc làm cụ thể: Học cách hài lòng (Biết đủ): Thay vì chạy theo những hào nhoáng xa xỉ vượt quá khả năng, hãy trân trọng những gì mình đang có. Sự "đủ" về vật chất chính là điểm dừng lý tưởng để tâm hồn được thảnh thơi. Ưu tiên trải nghiệm và kết nối: Thay vì chỉ chi tiền để mua sắm đồ đạc, hãy dành ngân sách và thời gian để tạo ra những kỷ niệm như: một bữa cơm sum họp, một chuyến đi cùng gia đình, hay đơn giản là một buổi trò chuyện chân thành với bạn bè. Rèn luyện tư duy thấu cảm: Giống như bé Em biết quan sát "đôi mắt buồn" của Bích, chúng ta cần học cách nhìn ra ngoài cái tôi của mình. Khi biết sẻ chia vật chất để đổi lấy niềm vui tinh thần cho người khác, chúng ta sẽ thấy giá trị của mình được nhân lên. Dành thời gian cho "khoảng lặng": Mỗi ngày nên có thời gian rời xa các thiết bị công nghệ và áp lực kiếm tiền để đọc sách, thiền định hoặc hòa mình với thiên nhiên nhằm nuôi dưỡng nội tâm. Cuộc sống không phải là một cuộc đua xem ai có nhiều đồ mới hơn, mà là hành trình xem ai tích lũy được nhiều hạnh phúc hơn. Chiếc áo Tết của bé Em có thể cũ, nhưng tình bạn của em thì luôn rực rỡ và mới mẻ. Đó chính là minh chứng hùng hồn nhất cho việc khi ta biết đặt giá trị tinh thần đúng chỗ, vật chất sẽ trở thành phương tiện để làm đẹp thêm cho tâm hồn. Hy vọng mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy "chiếc áo" phù hợp cho tâm hồn mình, để cuộc sống không chỉ đầy đủ về tiện nghi mà còn trọn vẹn về cảm xúc.