Tô Trung Hiếu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Tô Trung Hiếu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2. (0,5 điểm)

Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.

Câu 3. (1,0 điểm)

- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với

"tiền":

+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.

+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.

- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông

Trần Thiết Chung:

+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.

+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.

Câu 4. (1,0 điểm)

- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần

Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bấtđồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.

- Ý nghĩa của kết thúc này:

+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hòà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).

+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.

+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý:

  • Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ


a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn van (0,25 điểm):

  • Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
  • Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long.
  2. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

- Hoàn cảnh gia đình cụ Thông:

+ Cụ Thông để lại gia sản lớn nhưng gia đình nhanh chóng sa sút và lâm vào cảnh khánh kiệt.

+ Nguyên nhân: Bà vợ và con dâu mê đồng bóng, con trai trưởng ăn chơi trác táng, thiếu trách nhiệm.

- Diễn biến tâm lí của nhân vật Thông Thu:

+ Sự hối hận và nhận thức về lỗi lầm của bản thân (Hồi II):

++ Thông Thu hiện lên với những con số nợ nần cụ thể (2000 đồng, 500 đồng,...). Sự tính toán chi li cho thấy sự tỉnh ngộ về tài chính khi đã quá muộn.

++ Nhân vật tự phê phán lối sống của chínhmình là "ném tiền qua cửa sổ".

', "đăm đuối

trong bể tình dục"

++ Nỗi đau khổ về danh dự: Tự thấy mình làm "nhơ nhuốc" danh hiệu "tu mi nam tứ", thấy mình có lỗi với cha và gia đình khi phá tan gia sản chỉ trong 2 năm.

+ Sự bế tắc và bi kịch chọn cái chết (Hồi III):

++ Nỗi sợ hãi hiện thực: Thông Thu sợ cảnh

"áo số cơm hầm" nơi tù tội vì bản thân vốn

"quen ăn sung mặc sướng".

++ Ông ta nhận ra mình là "con mọt trong xã hội", không giúp ích gì cho quốc dân nên chọn cái chết như một sự giải thoát danh dự.

++ Sự giằng xé nội tâm: Hành động "nâng cốc lên rồi đặt xuống" lặp lại nhiều lần thể hiện sự yếu đuối, sợ hãi trước cái chết và niềm khao khát sống, trách nhiệm với người thân (mẹ, vợ, em).

- Đặc sắc nghệ thuật:

+ Sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm sắc sảo, bộc lộ trực tiếp những góc khuất trong tâm hồn nhân vật.

+ Nhịp điệu kịch dồn dập, căng thẳng, thể hiện qua những câu cảm thán, câu hỏi tu từ và các chỉ dẫn sân khấu (bóp trán, thở dài, khuấy thuốc,...).

=> Đoạn trích không chỉ là tiếng khóc cho một số phận sa ngã mà còn là lời cảnh tỉnh về lối sống ăn chơi trác táng, quên đi trách nhiệ

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Bàn luận về thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ hiện nay.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:

HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:

* Mở bài:

Dẫn dắt từ văn bản "Chén thuốc độc" và giới thiệu vấn đề nghị luận.

* Thân bài:

  • Giải thích: Tiêu xài thiếu kiểm soát: Là lối sống vung tay quá trán, chi tiêu vượt quá khả năng thu nhập, chạy theo những nhu cầu nhất thời mà không có kế hoạch tài chính cụ thể.
  • Phân tích thực trạng và nguyên nhân:

+ Thực trạng:

++ Nhiều bạn trẻ dù lương chỉ vài triệu nhưng sẵn sàng trả góp để mua những món đô vài chục triệu.

++ Xu hướng mua trước trả sau khiến nhiều người rơi vào bẫy nợ tín dụng khi tuổi đời còn rất trẻ.

+ Nguyên nhân:

++ Chủ quan: Tâm lí thích hưởng thụ,

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Chén thuộc độc" thuộc thể loại bi kịch.

Câu 2. (0,5 điểm)

Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm).

Câu 3. (1,0 điểm)

- Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi".

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.".

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy."

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.".

+...

- Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật.

+ Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).

Câu 4. (1,0 điểm)

- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai:

Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làmđược gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình.

- Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba:

Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!").

- Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi

II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai).

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý:

  • Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa.
  • Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên luy đến những người thân xung quanh.
  • Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc