Lê Đức Minh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Đoạn trích “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã khắc họa sâu sắc bi kịch của nhân vật Thông Thu – một con người rơi vào trạng thái giằng xé dữ dội giữa sống và chết. Thông qua hình thức độc thoại, nhân vật tự bộc lộ nội tâm đầy mâu thuẫn: vừa hối hận về những sai lầm trong quá khứ, vừa tuyệt vọng trước tương lai. Những chỉ dẫn sân khấu như “bóp trán nghĩ ngợi”, “nâng cốc lên rồi lại đặt xuống” đã góp phần làm nổi bật trạng thái tâm lí đó. Hành động lặp đi lặp lại thể hiện sự do dự, yếu đuối và bế tắc của Thông Thu. Anh ta không đủ dũng khí để sống tiếp nhưng cũng chưa hoàn toàn dứt khoát với cái chết. Qua nhân vật, tác giả phê phán lối sống ăn chơi sa đọa, thiếu trách nhiệm, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương đối với con người khi rơi vào bi kịch. Đoạn trích mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, là lời cảnh tỉnh về cách sống của mỗi người trong cuộc đời. Câu 2. Trong xã hội hiện đại, thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong một bộ phận giới trẻ. Từ hình ảnh Thông Thu “tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ” trong tác phẩm “Chén thuốc độc”, ta có thể thấy rõ hậu quả nghiêm trọng của lối sống không biết tiết chế. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế và mạng xã hội, nhiều bạn trẻ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của việc mua sắm, hưởng thụ mà không cân nhắc đến khả năng tài chính của bản thân. Họ sẵn sàng chi tiền cho những món đồ đắt đỏ, chạy theo hàng hiệu, công nghệ mới hay những cuộc vui xa xỉ chỉ để thể hiện bản thân hoặc không bị tụt lại phía sau so với bạn bè. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là tâm lí đua đòi, thích thể hiện, muốn khẳng định giá trị cá nhân thông qua vật chất. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của mạng xã hội với những hình ảnh “cuộc sống sang chảnh” cũng góp phần khiến giới trẻ hình thành suy nghĩ lệch lạc về giá trị của tiền bạc. Ngoài ra, nhiều người còn thiếu kĩ năng quản lí tài chính cá nhân, chưa được giáo dục đầy đủ về cách chi tiêu hợp lí. Một số gia đình quá nuông chiều con cái, đáp ứng mọi nhu cầu vật chất cũng vô tình tạo điều kiện cho thói quen xấu này phát triển. Hậu quả của việc tiêu xài thiếu kiểm soát là rất lớn. Trước hết, nó khiến nhiều bạn trẻ rơi vào tình trạng “cháy túi”, nợ nần, thậm chí phụ thuộc tài chính vào gia đình. Về lâu dài, thói quen này còn ảnh hưởng đến tương lai, khiến họ không có khả năng tích lũy và dễ rơi vào khủng hoảng khi gặp khó khăn. Không chỉ vậy, lối sống chạy theo vật chất còn làm mai một những giá trị tốt đẹp như sự tiết kiệm, tinh thần trách nhiệm và ý thức lao động. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người cần tự nâng cao ý thức cá nhân, học cách chi tiêu hợp lí và biết phân biệt giữa nhu cầu cần thiết và mong muốn nhất thời. Việc lập kế hoạch tài chính, tiết kiệm và đầu tư cho bản thân là rất quan trọng. Đồng thời, gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục giới trẻ về giá trị của đồng tiền và lao động. Xã hội nên lan tỏa những lối sống tích cực, giản dị thay vì đề cao vật chất. Tóm lại, tiêu xài thiếu kiểm soát là một thói quen nguy hiểm có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Mỗi người trẻ cần tự điều chỉnh hành vi của mình để xây dựng một cuộc sống lành mạnh, bền vững và có trách nhiệm hơn với bản thân cũng như gia đình.
Câu 1. Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm). Câu 3. – Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: "Bóp trán nghĩ ngợi". "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.". "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.". "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.". ... – Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu: Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật. Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống). Câu 4. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sĩ vã. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nho nhuốc" thanh danh gia đình. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). – Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: – Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. – Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh. – Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1: (đoạn văn ~200 chữ) Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, tác giả đã làm nổi bật thực trạng đáng buồn trong xã hội hiện đại: sự thờ ơ, vô cảm giữa con người với con người. Thông qua việc đưa ra hàng loạt những trường hợp con người bị biến thành “mồi người” trên mạng xã hội, tác giả đã sử dụng biện pháp liệt kê nhằm nhấn mạnh mức độ phổ biến và nghiêm trọng của vấn đề này. Những chiêu trò câu tương tác vô trách nhiệm không chỉ gây tổn thương cho nạn nhân mà còn phản ánh sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận người dùng mạng. Bên cạnh đó, văn bản còn cho thấy sự thiếu đồng cảm, khi nhiều người sẵn sàng đứng ngoài, thậm chí lợi dụng nỗi đau của người khác để trục lợi. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: con người cần sống có trách nhiệm hơn, biết yêu thương, sẻ chia và tôn trọng lẫn nhau, đặc biệt trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Câu 2: (bài văn ~600 chữ) Trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống ngày càng phát triển, con người lại có xu hướng trở nên thờ ơ, vô cảm trước những vấn đề xung quanh. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến các mối quan hệ và giá trị đạo đức của con người. Thờ ơ, vô cảm là trạng thái con người không quan tâm, không rung động trước nỗi đau, niềm vui hay khó khăn của người khác. Biểu hiện của nó rất dễ nhận thấy trong đời sống: thấy người gặp nạn nhưng không giúp đỡ, chứng kiến bất công nhưng im lặng, hay thậm chí lợi dụng hoàn cảnh của người khác để trục lợi. Đặc biệt, trên mạng xã hội, nhiều người sẵn sàng chia sẻ, bình luận những thông tin tiêu cực, sai lệch chỉ để “câu like”, “câu view” mà không quan tâm đến hậu quả. Nguyên nhân của sự vô cảm đến từ nhiều phía. Trước hết là do lối sống ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình. Bên cạnh đó, áp lực cuộc sống khiến con người trở nên lạnh lùng, ít quan tâm đến người khác. Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ cũng góp phần khiến con người dần xa cách, giao tiếp qua màn hình nhiều hơn là ngoài đời thực, từ đó làm giảm sự gắn kết và đồng cảm. Hậu quả của sự thờ ơ, vô cảm là vô cùng nghiêm trọng. Nó làm cho xã hội trở nên lạnh lẽo, thiếu tình người, khiến những giá trị tốt đẹp dần mai một. Một xã hội mà con người không biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau sẽ khó có thể phát triển bền vững. Không chỉ vậy, sự vô cảm còn làm suy giảm đạo đức cá nhân, khiến con người trở nên ích kỉ, vô trách nhiệm. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tấm gương sống đẹp, sẵn sàng giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn. Những hành động nhỏ như giúp người bị tai nạn, quyên góp cho người nghèo hay đơn giản là một lời hỏi thăm cũng đủ làm ấm lòng người khác. Điều đó cho thấy rằng lòng nhân ái vẫn luôn tồn tại và cần được lan tỏa. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người cần tự ý thức thay đổi bản thân, sống có trách nhiệm và biết quan tâm đến người xung quanh. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục đạo đức, lòng nhân ái cho thế hệ trẻ. Đồng thời, cần sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, không tiếp tay cho những hành vi tiêu cực. Tóm lại, sự thờ ơ, vô cảm là một vấn đề đáng báo động trong xã hội hiện nay. Mỗi chúng ta cần biết yêu thương, sẻ chia để góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nơi con người sống gần gũi và gắn bó với nhau.
Câu 1. Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2. Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại. Câu 3. – Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm "mồi người" – một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống. – Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội. Câu 4. HS bày tỏ suy nghĩ của bản thân và có lí giải hợp lí. Ví dụ: – Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng. – Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dần trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đổi. Câu 5. – HS tự rút ra bài học cho bản thân và có lí giải hợp lí. – Một số bài học có thể được rút ra từ văn bản: Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh. Không nên để mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.
Câu 1
Hình tượng “li khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm hiện lên với vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại, mang đậm tâm trạng của con người trong buổi chia li. Đó là một con người ra đi với dáng vẻ dứt khoát, không lưu luyến bên ngoài nhưng lại chất chứa biết bao cảm xúc sâu kín bên trong. Hình ảnh “đầy hoàng hôn trong mắt” gợi lên nỗi buồn man mác, trải rộng, như phủ kín tâm hồn người ra đi. Dù không nói ra, nhưng ta vẫn cảm nhận được sự bâng khuâng, lưu luyến qua những rung động tinh tế như “tiếng sóng ở trong lòng”. Li khách không yếu đuối mà chọn cách kìm nén cảm xúc, thể hiện bản lĩnh và ý chí của người dám bước vào hành trình mới. Qua đó, tác giả đã khắc họa một con người vừa giàu tình cảm, vừa mạnh mẽ, mang trong mình nỗi buồn chia li nhưng vẫn quyết tâm lên đường. Hình tượng này không chỉ gợi nỗi xúc động mà còn thể hiện vẻ đẹp của con người trong những khoảnh khắc thử thách của cuộc đời.
Câu 2
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có những thời điểm ta buộc phải tự mình bước đi, không còn dựa dẫm vào bất cứ ai. Chính vì vậy, sự tự lập có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với tuổi trẻ. Tự lập là khả năng tự mình suy nghĩ, quyết định và hành động mà không phụ thuộc vào người khác. Đó không chỉ là việc tự chăm sóc bản thân mà còn là sự chủ động trong học tập, công việc và cuộc sống. Khi một người có tính tự lập, họ sẽ biết chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình và không ngại đối mặt với khó khăn. Đối với tuổi trẻ, tự lập là chìa khóa giúp mỗi người trưởng thành. Trước hết, tự lập giúp ta rèn luyện bản lĩnh và sự tự tin. Khi tự mình giải quyết vấn đề, ta sẽ tích lũy được kinh nghiệm và trở nên vững vàng hơn trước những thử thách. Bên cạnh đó, tự lập còn giúp ta khám phá năng lực bản thân. Chỉ khi dám tự bước đi, ta mới biết mình có thể làm được gì và giới hạn của mình ở đâu. Ngoài ra, trong một xã hội ngày càng cạnh tranh, người có tính tự lập sẽ dễ thích nghi và thành công hơn. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít bạn trẻ vẫn còn thói quen dựa dẫm vào gia đình. Việc được bao bọc quá mức khiến nhiều người thiếu kỹ năng sống, dễ lúng túng khi gặp khó khăn. Điều này có thể dẫn đến sự yếu đuối, thiếu quyết đoán và khó đạt được thành công trong tương lai. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ vai trò của tự lập để thay đổi bản thân. Để rèn luyện tính tự lập, trước hết ta cần bắt đầu từ những việc nhỏ như tự học, tự quản lý thời gian, tự giải quyết vấn đề của mình. Đồng thời, cần mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn, dám thử thách bản thân và không sợ thất bại. Gia đình và nhà trường cũng nên tạo điều kiện để người trẻ được trải nghiệm, thay vì bao bọc quá mức. Tóm lại, tự lập là một phẩm chất không thể thiếu đối với tuổi trẻ. Nó không chỉ giúp ta trưởng thành mà còn là nền tảng để đạt được thành công và sống có ý nghĩa. Mỗi người hãy học cách tự bước đi trên con đường của mình, bởi đó chính là cách để khẳng định giá trị bản thân và vươn tới tương lai.
Câu 1 Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn. Câu 2 Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay. Câu 3 – Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; "hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mờ dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi. – Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. Câu 4 Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ: Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng? – "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa. – Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. Câu 5 – Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống: Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn. Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình. Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy. Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.
Câu 1:
Bài thơ “Những giọt lệ” của Hàn Mặc Tử thể hiện sâu sắc nỗi đau đớn, cô đơn và tuyệt vọng của thi nhân trong những năm tháng cuối đời. Mở đầu bài thơ là những câu hỏi đầy ám ảnh: “Bao giờ tôi chết đi? / Bao giờ tôi hết được yêu vì…”, cho thấy tâm trạng bế tắc, chán chường trước số phận nghiệt ngã. Nhà thơ ý thức rõ về bệnh tật và sự chia lìa nên luôn sống trong cảm giác đau khổ, lo sợ. Đến khổ thơ thứ hai, nỗi đau càng trở nên dữ dội khi người mình thương rời xa, khiến thi nhân cảm thấy mất mát đến tột cùng:
“Người đi, một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”.
Hình ảnh “một nửa hồn” mang ý nghĩa tượng trưng, thể hiện sự tan vỡ trong tâm hồn và tình yêu không trọn vẹn. Ở khổ cuối, những câu hỏi tu từ liên tiếp như “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?” diễn tả trạng thái bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời. Hình ảnh “bông phượng nở trong màu huyết, nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu” gợi cảm giác đau thương đến rơi lệ. Qua đó, bài thơ cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, khao khát yêu thương nhưng lại phải chịu nhiều bất hạnh, làm nổi bật bi kịch cuộc đời và tâm trạng đầy thương cảm của Hàn Mặc Tử.
Câu 2:
Trong cuộc sống, con người không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi mà luôn phải đối mặt với khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực là những phẩm chất vô cùng quan trọng giúp con người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Người có ý chí, nghị lực là người có quyết tâm, không dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn, luôn cố gắng vươn lên dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu. Ý chí, nghị lực trước hết được thể hiện ở sự kiên trì theo đuổi mục tiêu. Trong học tập cũng như trong cuộc sống, không ai có thể đạt được thành công một cách dễ dàng. Con đường đi tới ước mơ luôn có nhiều trở ngại, đòi hỏi con người phải nỗ lực không ngừng. Người có nghị lực sẽ không chán nản khi thất bại, mà biết đứng lên từ sai lầm để tiếp tục cố gắng. Ngược lại, nếu thiếu ý chí, con người rất dễ bỏ cuộc giữa chừng, từ đó đánh mất cơ hội của chính mình. Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương sáng về ý chí và nghị lực. Nhà bác học Thomas Edison đã phải trải qua hàng nghìn lần thất bại trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Nếu ông bỏ cuộc sớm, thế giới có lẽ đã không có một phát minh quan trọng như vậy. Ở Việt Nam, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký dù bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng vẫn kiên trì luyện viết bằng chân, trở thành một nhà giáo ưu tú. Những con người ấy là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh của ý chí, nghị lực trong cuộc sống. Ý chí, nghị lực còn giúp con người vượt qua hoàn cảnh khó khăn để khẳng định bản thân. Không phải ai sinh ra cũng có điều kiện thuận lợi, nhưng nếu có quyết tâm, con người vẫn có thể thay đổi số phận. Nhiều học sinh ở vùng sâu, vùng xa dù thiếu thốn vẫn cố gắng học tập tốt, đạt thành tích cao. Điều đó cho thấy hoàn cảnh không quyết định tương lai, mà chính sự nỗ lực của mỗi người mới là yếu tố quan trọng nhất. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn có không ít người sống thiếu ý chí, dễ nản lòng trước khó khăn. Họ ngại cố gắng, sợ thất bại, luôn tìm lý do để bỏ cuộc. Lối sống đó khiến con người trở nên yếu đuối, phụ thuộc và khó đạt được thành công. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tinh thần kiên trì, dám đối mặt với thử thách và không ngừng hoàn thiện bản thân. Là học sinh, chúng ta cần xác định mục tiêu đúng đắn và cố gắng học tập, rèn luyện mỗi ngày. Khi gặp khó khăn, không nên chán nản mà phải bình tĩnh tìm cách vượt qua. Ý chí và nghị lực không phải tự nhiên mà có, mà được hình thành từ sự cố gắng lâu dài trong học tập và cuộc sống. Tóm lại, ý chí và nghị lực là chìa khóa giúp con người vượt qua nghịch cảnh và đạt được thành công. Mỗi người cần rèn luyện cho mình bản lĩnh vững vàng để không ngừng tiến về phía trước, bởi chỉ có những ai không bỏ cuộc mới có thể chạm tới ước mơ.
Câu 1:
Những phương thức biểu đạt trong bài thơ: Biểu cảm, miêu tả.
Câu 2:
Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ.
Câu 3:
Một số hình ảnh: mặt nhựt tan thành máu, hồn (một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu.
Hình ảnh hồn tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng.
Câu 4:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ cuối: Câu hỏi tu từ: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu? / Sao bông phượng nở trong màu huyết, / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? – Tác dụng: Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân. Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.
Câu 5:
Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.