Chu Hải Nam

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Chu Hải Nam
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (khoảng 200 chữ):


Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khắc họa sâu sắc tâm trạng của con người trong buổi chia ly đầy xúc động. Nổi bật trong văn bản là hình ảnh người tiễn đưa với những rung động tinh tế và phức tạp. Cuộc chia tay không diễn ra ở không gian cụ thể mà chủ yếu là không gian tâm trạng, nơi cảm xúc lấn át lí trí. Những câu hỏi tu từ như “Sao có tiếng sóng ở trong lòng?” hay “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” đã diễn tả nỗi buồn dâng trào, lan tỏa từ cảnh vào lòng người. Hình ảnh “li khách” hiện lên với chí lớn, dứt khoát ra đi, nhưng đằng sau đó là nỗi buồn sâu kín trước tình cảm gia đình. Nghệ thuật đối lập giữa vẻ ngoài cứng cỏi và nội tâm mềm yếu đã làm nổi bật bi kịch chia ly. Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ giàu tính biểu tượng như “tiếng sóng”, “hoàng hôn” góp phần thể hiện chiều sâu cảm xúc. Qua đó, bài thơ không chỉ ca ngợi con người sống có lí tưởng mà còn gợi lên nỗi xót xa trước những cuộc chia tay đầy day dứt trong cuộc đời.



Câu 2 (khoảng 600 chữ):


Trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống ngày càng phát triển và con người bận rộn hơn, một thực trạng đáng lo ngại đang dần xuất hiện: sự thờ ơ, vô cảm giữa người với người. Đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là biểu hiện của sự xuống cấp về giá trị đạo đức trong cộng đồng.


Thờ ơ, vô cảm là trạng thái con người thiếu quan tâm, không có sự đồng cảm trước những hoàn cảnh, số phận xung quanh. Đó là khi ta thấy một người gặp khó khăn nhưng không sẵn sàng giúp đỡ, hoặc chứng kiến cái xấu mà vẫn im lặng. Trong xã hội hiện đại, biểu hiện của sự vô cảm ngày càng rõ rệt: tai nạn giao thông nhưng ít người giúp đỡ, bạo lực học đường bị quay clip thay vì can ngăn, hay những lời bình luận lạnh lùng, ác ý trên mạng xã hội.


Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là lối sống cá nhân, đề cao cái tôi khiến con người chỉ quan tâm đến lợi ích riêng mà quên đi trách nhiệm với cộng đồng. Bên cạnh đó, nhịp sống nhanh, áp lực công việc khiến con người trở nên mệt mỏi, dần mất đi sự nhạy cảm với những điều xung quanh. Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội cũng vô tình tạo ra khoảng cách giữa con người với con người, khiến các mối quan hệ trở nên hời hợt, thiếu sự gắn kết.


Hậu quả của sự thờ ơ, vô cảm là vô cùng nghiêm trọng. Nó làm cho xã hội trở nên lạnh lẽo, thiếu tình người. Khi con người không còn biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, những giá trị tốt đẹp như lòng nhân ái, sự sẻ chia sẽ dần bị mai một. Đặc biệt, sự vô cảm còn tiếp tay cho cái xấu phát triển, bởi khi không ai lên tiếng, cái ác sẽ càng có cơ hội lộng hành.


Tuy nhiên, không phải xã hội hiện đại chỉ toàn sự vô cảm. Vẫn còn rất nhiều người sẵn sàng giúp đỡ người khác, lan tỏa những hành động đẹp. Điều quan trọng là mỗi cá nhân cần ý thức được trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một xã hội nhân văn hơn.


Để khắc phục tình trạng này, trước hết mỗi người cần rèn luyện lòng nhân ái, biết quan tâm và sẻ chia với người khác. Gia đình và nhà trường cần giáo dục đạo đức, bồi dưỡng tình cảm cho thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, xã hội cần tôn vinh những hành động đẹp, đồng thời phê phán những biểu hiện vô cảm.


Sự thờ ơ, vô cảm là một căn bệnh nguy hiểm của xã hội hiện đại. Chỉ khi mỗi người biết mở lòng, sống có trách nhiệm và yêu thương nhiều hơn, xã hội mới thực sự trở thành một nơi đáng sống.

Câu 1 (0,5 điễm).

Thể loại: Truyện ngắn.

Câu 2 (0,5 điểm).

Đề tài: Mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.

Câu 3 (1,0 điểm).

  • Biện pháp tu từ liệt kê được thế hiện qua việc tác giả đưa ra những trường hợp con người đã từng rơi hoặc sợ bị rơi vào cảnh làm "mồi người"
  • một công cụ câu tương tác trên mạng xã hội bởi các trang báo lá cải đưa tin không chính thống.
  • Tác dụng: Thể hiện rõ nét sự khốn đốn của những người dân nghèo khi bị vạ lây bởi những chiêu trò câu tương tác, những âm mưu đầy vị kỉ của những cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội.

Câu 4 (1,0 điểm).

HS bày tỏ suy nghĩ của bản thân và có lí giải hợp lí. Ví dụ:

  • Tình trạng người dân hôi của khi một ai đó gặp nạn trên đường là một tình trạng đã xuất hiện khá lâu và cho đến thời điểm hiện nay nó vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Đây là một hành vi rất xấu, gây ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói riêng.
  • Tình trạng này cho thấy con người Việt Nam đang dân trở nên xa cách, thiếu sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại và thay đối.
  • Câu 5 (1,0 điểm).
  • HS tự rút ra bài học cho bản thân và có lí giải hợp lí.
  • Một số bài học có thế được rút ra từ văn bản:

+ Cần học cách đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với mọi người xung quanh.

+ Không nên để mạng xã hội, thiết bị điện tử chi phối chúng ta trong cuộc sống.

Câu 1 (khoảng 200 chữ):

Hình tượng “li khách” trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm hiện lên như một con người mang lí tưởng lớn nhưng cũng đầy bi kịch nội tâm. Đó là người ra đi với “chí nhớn”, dứt khoát lựa chọn con đường riêng, sẵn sàng từ bỏ tình thân, quê hương: “Thì không bao giờ nói trở lại!”. Lời thơ thể hiện một thái độ quyết liệt, như một lời thề đoạn tuyệt để theo đuổi mục tiêu cao cả. Tuy nhiên, đằng sau vẻ cứng cỏi ấy là một tâm hồn đầy xúc cảm. “Li khách” không vô tình, mà trái lại, chất chứa nỗi buồn sâu kín trước giờ chia biệt: buồn vì mẹ già, vì chị, vì em nhỏ. Sự im lặng và dứt khoát của người ra đi càng làm nổi bật nỗi đau bị kìm nén. Hình tượng “li khách” vì thế mang vẻ đẹp của con người sống có lí tưởng, dám hi sinh tình riêng, nhưng cũng rất con người với những rung động chân thành. Qua đó, tác giả thể hiện sự trân trọng đối với những con người dám bước đi vì khát vọng lớn lao, đồng thời gợi lên nỗi xót xa trước những cuộc chia ly không hẹn ngày trở lại.


Câu 2 (khoảng 600 chữ):

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, có những thời điểm ta buộc phải rời khỏi vùng an toàn để tự mình bước đi. Đó chính là lúc sự tự lập trở thành yếu tố quan trọng, quyết định sự trưởng thành và thành công của tuổi trẻ.

Tự lập là khả năng sống độc lập, tự chủ trong suy nghĩ, hành động và chịu trách nhiệm về lựa chọn của bản thân. Đối với người trẻ, tự lập không chỉ là việc tự chăm sóc cuộc sống cá nhân mà còn là dám quyết định con đường tương lai, không phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình hay người khác.

Trước hết, tự lập giúp tuổi trẻ trưởng thành nhanh chóng. Khi không còn sự bao bọc, mỗi người buộc phải học cách đối mặt với khó khăn, từ đó rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Những thử thách trong học tập, công việc hay cuộc sống chính là môi trường để ta hiểu rõ năng lực của mình và hoàn thiện bản thân. Nếu luôn dựa dẫm, con người sẽ trở nên yếu đuối, thiếu khả năng thích nghi với những biến động của cuộc sống.

Bên cạnh đó, tự lập giúp người trẻ khẳng định giá trị của mình. Khi tự mình đạt được thành công, dù nhỏ, ta sẽ cảm nhận rõ ý nghĩa của nỗ lực và có thêm niềm tin vào bản thân. Đây cũng là nền tảng để xây dựng sự tự tin và định hướng tương lai rõ ràng hơn. Một người tự lập sẽ biết mình muốn gì, cần làm gì, thay vì bị cuốn theo sự sắp đặt của người khác.

Không những vậy, tự lập còn giúp con người sống có trách nhiệm hơn. Khi tự đưa ra quyết định, ta phải chấp nhận hậu quả của nó, từ đó hình thành thái độ nghiêm túc với cuộc sống. Đây là phẩm chất cần thiết để trở thành một công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng tự lập không có nghĩa là tách biệt hoàn toàn hay phủ nhận sự giúp đỡ từ người khác. Ngược lại, đó là sự chủ động trong cuộc sống, biết khi nào cần tự mình giải quyết và khi nào cần học hỏi, hợp tác. Nếu hiểu sai, tự lập có thể biến thành cố chấp hoặc cô lập bản thân.

Trong thực tế, nhiều bạn trẻ còn thiếu tính tự lập, vẫn phụ thuộc quá nhiều vào gia đình, từ việc học tập đến định hướng nghề nghiệp. Điều này khiến họ dễ rơi vào trạng thái hoang mang khi phải đối diện với cuộc sống thực tế. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tính tự lập từ những việc nhỏ nhất: tự quản lí thời gian, tự học, tự chịu trách nhiệm với hành động của mình.

Tự lập là hành trang không thể thiếu của tuổi trẻ trên con đường trưởng thành. Chỉ khi dám bước đi bằng chính đôi chân của mình, ta mới thực sự hiểu được giá trị của cuộc sống và vươn tới những mục tiêu lớn lao.


Câu 1.
Nhân vật trữ tình là “ta” – người ở lại tiễn đưa bạn (li khách) ra đi.


Câu 2.

  • Không gian: không xác định cụ thể (không đưa qua sông), chủ yếu là không gian tâm trạng.
  • Thời gian: buổi chiềusáng hôm sau → thời điểm chia tay đầy lưu luyến.


Câu 3.

  • Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ:
    • Cách nói nghịch lí: “không thắm, không vàng vọt” nhưng lại “đầy hoàng hôn”.
    • Từ ngữ phi logic: “mắt trong” (kết hợp lạ).
  • Tác dụng:
    • Nhấn mạnh trạng thái cảm xúc mâu thuẫn, khó diễn tả.
    • Gợi nỗi buồn sâu kín, lan tỏa từ cảnh vào lòng người.
    • Làm nổi bật tâm trạng lưu luyến, xao xuyến trong buổi chia ly.


Câu 4.

  • Tiếng sóng” là hình ảnh tượng trưng cho:
    • Nỗi lòng dâng trào, xao động của người tiễn đưa.
    • Sự chia ly âm thầm nhưng mãnh liệt như sóng ngầm trong tâm hồn.
      → Dù không có sóng thật, “sóng” vẫn vang lên trong lòng → nhấn mạnh cảm xúc sâu sắc, day dứt.



Câu 5.

  • Thông điệp:
    Trong cuộc sống, có những cuộc chia tay vì lí tưởng lớn lao, ta cần biết chấp nhận hi sinh tình cảm riêng để hướng tới mục tiêu cao đẹp.
  • Lí do:
    • Người ra đi dứt khoát, không quay đầu dù tình thân sâu nặng.
    • Thể hiện ý chí, khát vọng sống có ý nghĩa.
      → Nhắc nhở mỗi người: sống không chỉ vì bản thân mà còn vì lí tưởng, trách nhiệm lớn hơn.



Việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó có tác dụng bổ sung và duy trì lượng nitrogen trong đất nhờ vào khả năng cố định đạm của cây đậu nành.


Cây đậu nành là một loài cây họ đậu, và chúng có sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium trong các nốt sần trên rễ. Vi khuẩn này có khả năng cố định nitrogen từ không khí và chuyển hóa thành các hợp chất nitrogen mà cây đậu nành có thể sử dụng. Khi cây đậu nành chết hoặc rụng lá, lượng nitrogen trong cơ thể cây sẽ được trả lại cho đất dưới dạng các hợp chất nitơ, bổ sung vào lượng nitrogen có sẵn trong đất.


Ngược lại, khoai tây (cây họ cà) không có khả năng cố định nitrogen, do đó việc trồng khoai không bổ sung thêm nitrogen cho đất. Do đó, trồng đậu nành sau khoai có tác dụng giúp duy trì và tăng cường lượng nitrogen trong đất, cải thiện chất lượng đất cho các vụ mùa sau.


Việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó có tác dụng bổ sung và duy trì lượng nitrogen trong đất nhờ vào khả năng cố định đạm của cây đậu nành.


Cây đậu nành là một loài cây họ đậu, và chúng có sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium trong các nốt sần trên rễ. Vi khuẩn này có khả năng cố định nitrogen từ không khí và chuyển hóa thành các hợp chất nitrogen mà cây đậu nành có thể sử dụng. Khi cây đậu nành chết hoặc rụng lá, lượng nitrogen trong cơ thể cây sẽ được trả lại cho đất dưới dạng các hợp chất nitơ, bổ sung vào lượng nitrogen có sẵn trong đất.


Ngược lại, khoai tây (cây họ cà) không có khả năng cố định nitrogen, do đó việc trồng khoai không bổ sung thêm nitrogen cho đất. Do đó, trồng đậu nành sau khoai có tác dụng giúp duy trì và tăng cường lượng nitrogen trong đất, cải thiện chất lượng đất cho các vụ mùa sau.