Vũ Thị Thanh Thủy
Giới thiệu về bản thân
“Chinh phụ ngâm” là một kiệt tác văn học trung đại Việt Nam, được viết bằng chữ Hán bởi Đặng Trần Côn và dịch ra quốc âm bằng thể song thất lục bát bởi Đoàn Thị Điểm. Tác phẩm thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, khắc khoải của người chinh phụ trong cảnh chồng đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi. Đoạn trích sau là một trong những đoạn tiêu biểu nhất, khắc họa tâm trạng cô đơn, nhớ thương và tuyệt vọng của người vợ trẻ trong những đêm dài chờ đợi.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
- → Cảnh vật tuy tĩnh mà lòng người thì động, thể hiện nỗi nhớ thương và sự cô độc của người phụ nữ cô phòng.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
phủ định càng khắc sâu sự lẻ loi, tuyệt vọng. Người chinh phụ chỉ còn “lòng bi thiết” — nỗi buồn thương dâng đầy mà chẳng ai thấu hiểu.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Hai phép so sánh độc đáo: “giờ như năm”, “mối sầu tựa miền biển xa” diễn tả độ dài vô tận của thời gian chờ đợi và độ sâu không cùng của nỗi sầu nhân thế.
→ Đây là đỉnh điểm của tâm trạng: nỗi buồn không chỉ là cảm xúc mà đã trở thành nỗi ám ảnh triền miên.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Điệp từ “gượng” lặp lại ba lần gợi sự miễn cưỡng, gắng gượng trong mọi hành động: đốt hương, soi gương, gảy đàn.
→ Nàng không còn hứng thú với cuộc sống — mọi việc đều chỉ để lấp đầy khoảng trống cô đơn.
→ Hình ảnh “dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” là ẩn dụ cho tình duyên tan vỡ, mối liên kết vợ chồng bị chia lìa.
→ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến đỉnh cao: mọi vật đều nhuốm màu tâm trạng bi thương
- Thể thơ song thất lục bát với nhịp điệu mềm mại, uyển chuyển, rất phù hợp diễn tả nỗi sầu muộn.
- Ngôn ngữ trau chuốt, tinh tế, kết hợp điển cố – ẩn dụ – nhân hóa – câu hỏi tu từ.
- Thủ pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy: cảnh vật không chỉ là phông nền mà là sự phản chiếu của tâm hồn người chinh phụ.
- Nhịp thơ chậm, trầm, phù hợp với dòng tâm trạng cô đơn, buồn thương.
Đoạn trích trên là bức tranh tâm trạng tinh tế, chân thực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến – người vợ chinh phụ cô đơn, khắc khoải vì chiến tranh và chia ly. Qua đó, tác phẩm thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc, cảm thương cho thân phận người phụ nữ và lên án chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi hạnh phúc lứa đôi.Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh vi, kết hợp hài hòa giữa cảnh và tình, Đoàn Thị Điểm đã đưa “Chinh phụ ngâm” trở thành một trong những bản ngâm bất hủ nhất của văn học Việt Nam.
Câu 10: (1,0 điểm) Rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải.
câu 10:
Thông điệp:
Con người luôn khao khát hạnh phúc, tự do và cái đẹp, nhưng hạnh phúc đó chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết trân trọng hiện thực và sống hòa hợp với cuộc đời thật của mình.
Câu 9 :Sự lựa chọn của Từ Thức thể hiện tâm hồn lý tưởng, cô đơn và khát vọng thoát tục của con người, đồng thời gửi gắm nỗi buồn nhân thế và triết lí “mộng – thực” sâu sắc của Nguyễn Dữ.
Câu 9 :Sự lựa chọn của Từ Thức thể hiện tâm hồn lý tưởng, cô đơn và khát vọng thoát tục của con người, đồng thời gửi gắm nỗi buồn nhân thế và triết lí “mộng – thực” sâu sắc của Nguyễn Dữ.
Câu 1 :
Lý Hữu Chi là nhân vật chính trong Chuyện Lý tướng quân, được Nguyễn Dữ xây dựng như một tấm gương phản diện tiêu biểu. Ông vốn chỉ là một người nông dân bình thường, nhờ có sức khỏe và tài đánh trận mà được tiến cử làm tướng quân. Tuy nhiên, khi có quyền thế, Hữu Chi đã bộc lộ bản chất tham lam, tàn bạo và vô đạo đức. Hắn ham của, mê sắc, cậy quyền thế để ức hiếp dân lành, coi khinh kẻ sĩ. Trước lời cảnh tỉnh của thầy tướng, hắn vẫn ngạo mạn, coi thường đạo trời và tiếp tục làm điều ác. Hậu quả là sau khi chết, hắn phải chịu những hình phạt đau đớn nơi âm phủ. Qua nhân vật này, tác giả phơi bày sự tha hóa của con người trước danh lợi, đồng thời khẳng định quy luật nhân quả: kẻ làm điều ác tất sẽ chịu báo ứng. Nhân vật Lý Hữu Chi trở thành lời nhắc nhở người đời phải biết sống thiện lương, biết dừng lại trước cám dỗ của quyền và tiền.
Câu 2 :
Trong cuộc sống, con người ai cũng có ước muốn vươn lên, mong được no đủ, hạnh phúc. Tuy nhiên, khi những ham muốn ấy vượt quá giới hạn đạo đức, biến thành lòng tham, nó sẽ trở thành ngọn lửa thiêu rụi nhân cách và hạnh phúc của chính ta.
Lòng tham khiến con người mờ mắt trước vật chất, chỉ biết sống ích kỉ, bất chấp lẽ phải. Kẻ tham lam tiền bạc thì lừa dối, chiếm đoạt; kẻ tham danh vọng thì xu nịnh, dối trá; người học sinh tham điểm cao thì gian lận, đánh mất giá trị thật của bản thân. Xã hội có thể suy thoái nếu con người sống chỉ để thỏa mãn lòng tham mà không biết dừng lại. Câu chuyện về Lý Hữu Chi là minh chứng rõ ràng: càng tham lam, tàn ác, con người càng tự đẩy mình vào con đường diệt vong, dù có trốn tránh cũng không thoát được lưới trời công minh.
Để hạn chế và loại bỏ lòng tham, mỗi người cần rèn luyện đạo đức, biết sống tiết chế, đủ dùng và đủ biết ơn. Hãy học cách chia sẻ, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục lối sống trung thực, liêm khiết, giúp con người hướng thiện.
Lòng tham là một trong những “căn bệnh” nguy hiểm nhất của tâm hồn. Chỉ khi biết sống chân chính, giản dị và biết đủ, con người mới thực sự hạnh phúc, cuộc đời mới trở nên thanh thản và có ý nghĩa.
Câu 1 :
Lý Hữu Chi là nhân vật chính trong Chuyện Lý tướng quân, được Nguyễn Dữ xây dựng như một tấm gương phản diện tiêu biểu. Ông vốn chỉ là một người nông dân bình thường, nhờ có sức khỏe và tài đánh trận mà được tiến cử làm tướng quân. Tuy nhiên, khi có quyền thế, Hữu Chi đã bộc lộ bản chất tham lam, tàn bạo và vô đạo đức. Hắn ham của, mê sắc, cậy quyền thế để ức hiếp dân lành, coi khinh kẻ sĩ. Trước lời cảnh tỉnh của thầy tướng, hắn vẫn ngạo mạn, coi thường đạo trời và tiếp tục làm điều ác. Hậu quả là sau khi chết, hắn phải chịu những hình phạt đau đớn nơi âm phủ. Qua nhân vật này, tác giả phơi bày sự tha hóa của con người trước danh lợi, đồng thời khẳng định quy luật nhân quả: kẻ làm điều ác tất sẽ chịu báo ứng. Nhân vật Lý Hữu Chi trở thành lời nhắc nhở người đời phải biết sống thiện lương, biết dừng lại trước cám dỗ của quyền và tiền.
Câu 2 :
Trong cuộc sống, con người ai cũng có ước muốn vươn lên, mong được no đủ, hạnh phúc. Tuy nhiên, khi những ham muốn ấy vượt quá giới hạn đạo đức, biến thành lòng tham, nó sẽ trở thành ngọn lửa thiêu rụi nhân cách và hạnh phúc của chính ta.
Lòng tham khiến con người mờ mắt trước vật chất, chỉ biết sống ích kỉ, bất chấp lẽ phải. Kẻ tham lam tiền bạc thì lừa dối, chiếm đoạt; kẻ tham danh vọng thì xu nịnh, dối trá; người học sinh tham điểm cao thì gian lận, đánh mất giá trị thật của bản thân. Xã hội có thể suy thoái nếu con người sống chỉ để thỏa mãn lòng tham mà không biết dừng lại. Câu chuyện về Lý Hữu Chi là minh chứng rõ ràng: càng tham lam, tàn ác, con người càng tự đẩy mình vào con đường diệt vong, dù có trốn tránh cũng không thoát được lưới trời công minh.
Để hạn chế và loại bỏ lòng tham, mỗi người cần rèn luyện đạo đức, biết sống tiết chế, đủ dùng và đủ biết ơn. Hãy học cách chia sẻ, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục lối sống trung thực, liêm khiết, giúp con người hướng thiện.
Lòng tham là một trong những “căn bệnh” nguy hiểm nhất của tâm hồn. Chỉ khi biết sống chân chính, giản dị và biết đủ, con người mới thực sự hạnh phúc, cuộc đời mới trở nên thanh thản và có ý nghĩa.
Câu 1 :Văn bản trên thuộc thể loại: Truyện truyền kì
Câu 2 :Ngôi kể: Ngôi thứ ba
Câu 3 :
Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.
Tính cách:
- Ban đầu: xuất thân bình thường, có tài, được trọng dụng.
- Sau khi có quyền thế: tham lam, tàn bạo, kiêu ngạo, vô đạo đức, coi thường người hiền, hãm hại dân lành, mê sắc và ham của.
- Cuối cùng: bị trừng phạt nặng nề ở cõi âm vì không biết hối cải.
→ Là hình tượng phản diện, đại diện cho kẻ cậy quyền, tham lam, thất đức.
Câu 4 :
Chi tiết hoang đường, kì ảo:
- Thầy tướng cho Lý xem hạt châu hiện cảnh địa ngục.
- Thúc Khoản được dẫn xuống âm phủ chứng kiến cảnh xử tội cha mình.
Tác dụng:
- Tăng sức hấp dẫn, huyền bí cho câu chuyện.
- Thể hiện quan niệm nhân quả – thiện ác hữu báo, răn đe người đời.
- Làm nổi bật tư tưởng đạo lí của tác phẩm: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.”
Câu 5 :→ Bài học: mỗi người cần sống lương thiện, biết điểm dừng, tránh tham lam và kiêu ngạo, luôn hướng thiện để có cuộc sống thanh thản, được người kính trọng.
Câu 1. – Phân tích nhân vật bà má trong văn bản “Bà má Hậu Giang”
Bà má Hậu Giang trong bài thơ của Tố Hữu là hình ảnh tiêu biểu cho người mẹ nông dân Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, giàu lòng yêu nước và kiên cường bất khuất. Khi tên giặc xông vào nhà tra hỏi nơi ẩn náu của du kích, dù bị đe dọa, đánh đập, thậm chí kề gươm vào người, bà má vẫn kiên quyết không khai. Tình yêu thương con hòa trong tình yêu Tổ quốc đã khiến bà vượt lên sợ hãi, biến đau thương thành sức mạnh. Bà dám đối mặt và mắng thẳng vào mặt kẻ thù, thể hiện khí phách anh hùng của người dân Việt Nam. Qua hình tượng bà má, Tố Hữu ca ngợi phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam: hiền hậu, dũng cảm, trung kiên và giàu lòng yêu nước. Bà má Hậu Giang là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần khắc họa hình ảnh nhân dân ta – những con người bình dị mà vĩ đại trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
Câu 2. – Nghị luận về trách nhiệm của thế hệ trẻ hiện nay đối với đất nước
Hình ảnh bà má Hậu Giang trong bài thơ cùng biết bao người mẹ, người dân anh hùng đã cho ta hiểu rằng: Tổ quốc được bình yên hôm nay là nhờ sự hy sinh thầm lặng của những con người giàu lòng yêu nước. Từ câu chuyện ấy, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước.
Mỗi người trẻ chính là chủ nhân tương lai của Tổ quốc, là người tiếp bước cha anh xây dựng và bảo vệ non sông. Sống trong hòa bình, chúng ta không còn cầm súng chiến đấu, nhưng vẫn phải góp phần giữ gìn độc lập dân tộc bằng trí tuệ, lòng yêu nước và hành động thiết thực. Trách nhiệm ấy được thể hiện trước hết qua việc học tập, rèn luyện đạo đức, kỹ năng và tri thức để mai này xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Bên cạnh đó, giới trẻ cần ý thức giữ gìn môi trường, tuân thủ pháp luật, lan tỏa những giá trị nhân văn, biết sống vì cộng đồng, giúp đỡ người khó khăn, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo bằng tinh thần tự hào dân tộc.
Là thế hệ sinh ra trong hòa bình, chúng ta phải biết trân trọng máu xương mà cha ông đã đổ xuống, không sống thờ ơ, vô cảm, mà cần sống có ước mơ, có trách nhiệm và có hành động cụ thể để góp phần phát triển đất nước. Học tập tốt, sống đẹp và cống hiến hết mình chính là cách thiết thực nhất để thế hệ trẻ hôm nay thể hiện lòng biết ơn và kế tục tinh thần yêu nước bất khuất của bà má Hậu Giang năm xưa.
Câu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.Trong bài thơ, khi bà má Hậu Giang đang nấu cơm thì một tên giặc Pháp xông vào nhà, tra hỏi nơi ẩn náu của du kích. Dù bị đe dọa, đánh đập và kề gươm vào người, bà má vẫn kiên quyết không khai và hiên ngang chửi thẳng vào mặt kẻ thù.
Câu 3.Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:
- Đạp đổ liếp mành, tuốt gươm đe dọa.
- Tra hỏi, chửi bới, đạp lên đầu bà má, kề gươm vào hông.
Nhận xét: Hắn là kẻ tàn bạo, hung hăng và mất nhân tính, đại diện cho bộ mặt tàn ác của thực dân xâm lược.
Câu 4.Biện pháp tu từ: So sánh
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”
Tác dụng: So sánh con người với hình ảnh thiên nhiên miền Nam gợi sức mạnh, sự kiên cường, bền bỉ và tinh thần quật cường của những người con kháng chiến. Đồng thời thể hiện niềm tự hào và tình yêu thương vô hạn của bà má dành cho con và dân tộc.
Câu 5.
Hình tượng bà má Hậu Giang thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí bất khuất của nhân dân Việt Nam. Dù là người dân thường, bà vẫn sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ cách mạng, bảo vệ con và quê hương. Qua đó, em càng thêm khâm phục, biết ơn những con người bình dị mà vĩ đại, đồng thời tự nhắc mình phải sống có trách nhiệm, giữ gìn hòa bình và yêu Tổ quốc.
Câu 1.Thể thơ: Song thất lục bát.
Câu 2.Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng:
“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.”
(→ Thể hiện nỗi chờ đợi mòn mỏi qua nhiều năm mà vẫn không có tin tức của chồng.)
Câu 3.Nghĩ về người chồng nơi xa, người chinh phụ:
- Luôn trông ngóng tin chồng, gieo quẻ bói, ngồi tựa cửa, thầm bước ra hiên, nói với ngọn đèn,…
→ Những hành động ấy biểu hiện nỗi cô đơn, nhớ thương da diết, cùng tâm trạng bất lực và đau khổ của người vợ có chồng ra trận.
Câu 4.Biện pháp tu từ nổi bật: Nhân hoá trong câu
“Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
→ Tác dụng: Gợi cảm giác cô đơn tột cùng, người chinh phụ chỉ biết tâm sự với ngọn đèn, cho thấy nỗi nhớ chồng thấm đẫm cô quạnh và buồn thương.
Câu 5.
- Tâm trạng của người chinh phụ: Nhớ thương, cô đơn, buồn tủi và tuyệt vọng khi xa chồng, mong mỏi tin tức mà vô vọng.
- Suy nghĩ: Văn bản giúp ta trân trọng giá trị của hòa bình, bởi trong hòa bình, gia đình được sum họp, phụ nữ không còn cảnh chia ly ly biệt như trong chiến tranh xưa.