PHẠM VŨ GIA LINH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính được tác giả sử dụng trong văn bản: Nghị luận.
Câu 2.
Vấn đề: Vai trò, ý nghĩa của lao động.
Câu 3.
- Những bằng chứng được đưa ra là: "Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi. Hổ và sư tử cũng đều như vậy.".
- Nhận xét: Đây đều là những bằng chứng điển hình, sinh động, được mọi người dễ dàng thừa nhận, có tác dụng làm tăng tính thuyết phục của văn bản đồng thời cũng giúp việc tiếp nhận vấn đề nghị luận trở nên nhẹ nhàng hơn.
Câu 4.
Nếu con người hiểu được niềm vui, ý nghĩa của lao động; coi lao động là cống hiến, vun đắp, là khám phá cuộc sống thì người đó sẽ hạnh phúc, ngay cả khi họ phải lao động vất vả, cực nhọc. Ngược lại, nếu con người không nhận ra ý nghĩa của lao động, coi lao động là nô dịch, khổ sai thì người đó sẽ luôn cảm thấy bất hạnh dẫu công việc của họ không quá nhọc nhằn. Vì vậy, chúng ta cần có nhận thức và thái độ đúng đắn về lao động.
Câu 5.
- Từ thực tiễn đời sống và những suy nghĩ sau khi đọc văn bản, một biểu hiện cho thấy hiện nay trong cuộc sống vẫn có người nhận thức chưa đúng đắn về ý nghĩa của lao động là:
+ Thái độ coi thường những người lao động chân tay dù họ vẫn có những đóng góp nhất định cho cộng đồng.
+ Một số người giàu có cho rằng con cháu họ không cần làm gì cũng có thể sống thoải mái với số tài sản đã có. Họ không nhận ra rằng chính lao động sẽ mang lại cho họ niềm vui và tạo nên giá trị cho con cháu của họ.
-Một thông điệp mà em thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:
+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.
Hình ảnh “tiếng sóng” xuất hiện trong hai câu thơ:
Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
- “Tiếng sóng” trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
- Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Kết hợp từ bất bình thường: “đầy hoàng hôn trong mắt”; “đầy” (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; “hoàng hôn” chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.
- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “ta” – người đưa tiễn
Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện: Điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. (Do người kể chuyện lựa chọn ngôi kể thứ ba, dựa vào cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật Thứ để kể lại câu chuyện).
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là: đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học đường, sang Tây và trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu 3.
+ Liệt kê tăng cấp: Liệt kê một chuỗi những điều Thứ hình dung về cuộc sống tương lai của mình (chẳng có việc gì làm, ăn bám vợ/ mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra ở một xó nhà quê); trong đó nhân vật cảm nhận được sự khinh thường của mọi người và chính bản thân mình (Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y.); qua đó nhấn mạnh cuộc sống vô nghĩa, lụi tàn cứ rõ nét từng ngày của Thứ, đồng thời thể hiện chân thực những mặc cảm mà nhân vật sẽ phải nếm trải trong hình dung của mình; từ đó góp phần thể hiện giá trị hiện thực của tác phẩm.
Câu 4.
– Cuộc sống của nhân vật Thứ: Cuộc sống đầy bi kịch, khó khăn, mòn mỏi trong việc kiếm kế sinh nhai để lo cho bản thân và gia đình, không thực hiện được hoài bão của cuộc đời mình.
– Con người nhân vật Thứ: Là con người đầy hoài bão, khát vọng; con người có đời sống nội tâm phong phú, có khả năng nhận thức sâu sắc về cuộc sống và bản thân mình.
Câu 5.
Sống là làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình. Đây là một triết lí sâu sắc bởi lẽ: Mỗi người là một bản thể duy nhất và mỗi người chỉ được sống một lần trong đời. Do đó, nếu mỗi chúng ta không làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình thì chúng ta sẽ mất đi cơ hội sống đúng nghĩa. Chỉ có khi làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình chúng ta mới phát huy được hết tiềm năng của bản thân và trở thành người có ích cho xã hội.
Trong dòng chảy hối hả của thời đại số, khi những tòa nhà cao tầng mọc lên san sát và công nghệ thay đổi từng giờ, con người đôi khi mải mê lao về phía trước mà quên mất việc ngoảnh lại nhìn xem mình từ đâu đến. Có người từng ví von rằng, một dân tộc mà quên đi văn hóa truyền thống thì cũng giống như cái cây bị bứt khỏi bộ rễ của chính mình, dù cành lá có xanh tốt đến đâu cũng khó lòng đứng vững trước giông bão. Chính vì vậy, việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại hôm nay không chỉ là trách nhiệm, mà còn là một nhu cầu tự thân để khẳng định giá trị con người Việt Nam.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng văn hóa truyền thống là những giá trị vật chất và tinh thần quý báu được ông cha ta sáng tạo, bồi đắp và truyền lại qua bao đời. Đó có thể là những bộ trang phục dân tộc, những làn điệu dân ca, các lễ hội làng quê náo nức, hay sâu sắc hơn là đạo lý uống nước nhớ nguồn, sự hiếu thảo và lòng nhân ái. Gìn giữ truyền thống không phải là ôm khư khư những gì đã cũ, mà là trân trọng, tiếp nối và làm cho những giá trị đó sống động hơn trong bối cảnh hiện nay.
Trong kỷ nguyên hội nhập, khi ranh giới giữa các quốc gia dần trở nên mờ nhạt trên không gian mạng, văn hóa truyền thống chính là căn cước để chúng ta nhận ra nhau. Nếu không có bản sắc riêng, chúng ta sẽ dễ dàng bị hòa tan và trở thành bản sao mờ nhạt của một nền văn hóa khác. Hơn nữa, truyền thống còn là điểm tựa tinh thần vững chắc. Giữa những áp lực và sự biến đổi không ngừng của cuộc sống, những nét đẹp xưa cũ giúp con người tìm lại sự cân bằng, nhắc nhở chúng ta về lòng tự trọng và tình yêu quê hương.
Thực tế đáng mừng là hiện nay, có rất nhiều bạn trẻ không hề quay lưng với quá khứ. Thay vào đó, họ đang dùng sự sáng tạo của mình để khoác lên những giá trị cổ truyền một lớp áo mới đầy sức sống. Một ví dụ tiêu biểu chính là nghệ sĩ trẻ Hà Myo. Thay vì lựa chọn những thể loại âm nhạc dễ nổi tiếng, cô đã dấn thân vào một con đường khó khăn hơn là kết hợp hát Xẩm – một loại hình nghệ thuật dân gian lâu đời – với âm nhạc điện tử và Rap hiện đại. Những tác phẩm của Hà Myo không chỉ làm sống lại những làn điệu cổ truyền tưởng chừng đã bị lãng quên mà còn khiến cho giới trẻ cảm thấy văn hóa dân tộc vô cùng thú vị và đầy phong cách. Cô chính là minh chứng cho việc văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể tỏa sáng rực rỡ nếu chúng ta biết trân trọng và làm mới nó bằng hơi thở của thời đại.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận giới trẻ đang có biểu hiện thờ ơ, coi nhẹ các giá trị dân tộc. Họ chạy theo những xu hướng nhất thời từ nước ngoài mà quên mất vẻ đẹp của tiếng Việt, của những phong tục tập quán tốt đẹp. Đây là một điều đáng báo động vì khi mất đi gốc rễ văn hóa, con người rất dễ rơi vào trạng thái trống rỗng về tinh thần.
Để thay đổi điều này, bản thân mỗi chúng ta cần hiểu rằng bảo vệ văn hóa không cần là những điều gì quá lớn lao. Nó bắt đầu từ việc ham học hỏi lịch sử, sử dụng tiếng Việt đúng mực, hay đơn giản là trân trọng bữa cơm gia đình và những ngày lễ Tết cổ truyền. Chúng ta cần học cách tiếp thu tinh hoa thế giới một cách chọn lọc để làm giàu thêm bản sắc của mình chứ không phải để thay thế nó.
Tóm lại, văn hóa truyền thống chính là ngọn lửa sưởi ấm và soi sáng con đường chúng ta đi. Giữa sự biến đổi không ngừng của đời sống hiện đại, việc giữ gìn bản sắc không chỉ là giữ lại quá khứ, mà còn là xây dựng nền móng vững chắc cho tương lai. Mỗi người trẻ hãy là một sứ giả văn hóa, để dòng chảy truyền thống mãi luôn tuôn trào trong huyết quản, giúp dân tộc ta vươn cao, vươn xa mà vẫn luôn vững chãi trên mảnh đất quê hương.
Trong bài thơ "Chân quê", Nguyễn Bính đã khắc họa thành công nhân vật "em" – đại diện cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết của người con gái thôn quê Việt Nam truyền thống. "Em" hiện lên với hình ảnh "yếm lụa sồi", "dây lưng đũi", "khăn mỏ quạ" đầy nền nã, mang trong mình tâm hồn "hương đồng gió nội". Dù thoáng chốc bị cuốn theo làn sóng đô thị hóa khi "đi tỉnh về" với khăn nhung, áo cài khuy bấm, nhưng bản chất của "em" vẫn là sự chân chất, giản dị. Nét đẹp của "em" không nằm ở vẻ kiêu sa, hiện đại mà ở cái "quê mùa" duyên dáng, đậm đà bản sắc. Lời nhắc nhở tha thiết của "anh" ở cuối bài như lời thức tỉnh, đưa "em" trở về với "hoa chanh nở giữa vườn chanh", gìn giữ nét văn hóa quê hương. Qua nhân vật "em", Nguyễn Bính không chỉ ca ngợi vẻ đẹp truyền thống mà còn gửi gắm mong ước về sự thủy chung, giữ gìn gốc rễ tâm hồn trước sự thay đổi của thời đại.
Bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc trân trọng, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống mộc mạc, thuần hậu của làng quê Việt Nam trước sự xâm nhập của lối sống hiện đại, xa hoa. Qua hình ảnh cô gái "đi tỉnh về" với dáng vẻ tân thời và nỗi lòng trăn trở của chàng trai, tác giả nhắn nhủ rằng vẻ đẹp chân thật, "chân quê" mới là cốt cách cao quý nhất cần được bảo tồn. Bài thơ khuyên chúng ta không nên chạy theo những thứ phù phiếm, thay đổi bên ngoài mà đánh mất đi bản sắc và tâm hồn gốc rễ của mình.