Bùi Văn Tùng
Giới thiệu về bản thân
câu 1 : phương thức biểu đạt chính là tự sự
câu 2 : ngôi kể của truyện là ngôi thứ nhất
câu 3:chủ đề của văn bản là tình cảm gia đình , sự nỗ lực vươn lên trong học tập
câu 4: Từ ngữ địa phương: "đậu phộng", "rau om", "hết biết"
câu 5:Chi tiết "Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thờ nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.” gợi cho em suy nghĩ về tình cảm sâu sắc, hiếu thảo, thấu hiểu
câu 6:Tình cảm gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Đó là nguồn động lực to lớn giúp ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Trong đoạn trích "Hạ đỏ", chính tình thương của mẹ đã tiếp thêm sức mạnh cho nhân vật "tôi" kiên trì học tập và đạt được thành công. Gia đình là điểm tựa vững chắc, là nơi ta nhận được sự quan tâm, chăm sóc vô điều kiện. Nhờ có gia đình, ta cảm thấy được yêu thương, che chở và có thêm niềm tin vào cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần trân trọng, gìn giữ và vun đắp tình cảm gia đình thiêng liêng này
phần 2 : viết
bài làm
"Chốn quê" của Nguyễn Khuyến là một bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật, thể hiện một cách sâu sắc và chân thực cuộc sống nghèo khó, cơ cực của người nông dân Việt Nam dưới thời thực dân Pháp, đồng thời bộc lộ tâm trạng lo âu, bất lực của chính nhà thơ trước hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đã vẽ ra một bức tranh ảm đạm về cuộc sống làm ruộng đầy gian truân: "Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,/ Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa". Hai câu thơ đối nhau, sử dụng phép điệp "chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa" nhấn mạnh sự thất bại triền miên, mất mùa liên tiếp, khiến cho bao nhiêu công sức của người nông dân đều đổ sông đổ biển. Cụm từ "vẫn chân thua" thể hiện sự bế tắc, không lối thoát của cuộc sống lao động. Nguyên nhân của sự nghèo đói không chỉ do thiên tai mà còn do ách áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ thực dân và phong kiến. Điều này được thể hiện rõ qua hai câu luận: "Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,/ Nửa công đứa ở, nửa thuê bò". Cấu trúc câu đối xứng, nhịp thơ dồn dập liệt kê những khoản chi tiêu, gánh nặng mà người nông dân phải gánh chịu. Thuế má do "quan Tây" đặt ra, nợ nần chồng chất, chi phí thuê mướn nhân công, gia súc đều bào mòn hết thành quả lao động. Hình ảnh này phơi bày sự bất công, phi lý của xã hội, nơi mà người lao động chân chính không được hưởng thành quả của mình. Trong hoàn cảnh khốn khó ấy, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày trở nên vô cùng đạm bạc, tằn tiện: "Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,/ Chợ búa trầu chè chẳng dám mua". Biện pháp đối lập giữa "dưa muối" (món ăn đạm bạc, rẻ tiền) với "trầu chè" (thứ xa xỉ, không dám mua) cho thấy sự túng quẫn đến mức tối thiểu. Người nông dân phải sống lay lắt, cầm hơi qua ngày đoạn tháng, không dám nghĩ đến những nhu cầu giải trí, hưởng thụ cơ bản. Kết thúc bài thơ là một tiếng thở dài đầy chua xót, một câu hỏi tu từ chất chứa bao nỗi niềm lo âu, trăn trở: "Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,/ Bao giờ cho biết khỏi đường lo?". Dù đã sống "cần kiệm" hết mức, nhưng cuộc sống vẫn không thể khấm khá hơn. Câu hỏi "Bao giờ cho biết khỏi đường lo?" không chỉ là nỗi niềm riêng của nhà thơ hay người nông dân cụ thể mà còn là câu hỏi chung cho số phận của cả một tầng lớp, một dân tộc trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Nó thể hiện sự bế tắc, tuyệt vọng trước thực tế phũ phàng, đồng thời là lời tố cáo mạnh mẽ chế độ xã hội đương thời. Tóm lại, bằng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống, kết hợp các biện pháp tu từ đối xứng, liệt kê, câu hỏi tu từ, bài thơ "Chốn quê" của Nguyễn Khuyến đã khắc họa chân thực và cảm động bức tranh đời sống cơ cực của người nông dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân ái, sự cảm thông sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người lầm than.