Vũ Ánh Dương
Giới thiệu về bản thân
Nguyễn Khuyến, bậc "Tam Nguyên Yên Đổ" ,là một trong những đại diện sâu sắc nhất của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Sau khi cáo quan về ở ẩn tại quê nhà,ông không sống tách biệt mà chọn cách hòa mình vào nhịp sống của người dân lao động. Bài thơ "Chốn quê" là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ Nôm của ông: giản dị,chân thực nhưng ẩn chứa nỗi đau đời sâu sắc. Tác phẩm không chỉ là tiếng thở dài trước cảnh nghèo khó của làng quê mà còn là bản cáo trạng đanh tháp về thực trạng xã hội đương thời.
Chủ đề xuyên suốt của bài thơ là nỗi khổ cực, bế tắc của người nông dân trước gánh nặng thiên tai và sưu thuế. Ngay từ những câu thơ mở đầu , tác giả đã tái hiện một thực cảnh đầy xót xa: " Phần thuế quan Tây,phần trả nợ,/ Nửa công đứa ở,nửa thuê bò." Thành quả lao động vốn đã ít ỏi nay bị chia nâm sẻ bảy. "Thuế quan Tây" là gánh nặng mới của thời đại thực dân ,cộng với nợ nần cũ và chi phí sản xuất đã khiến người nông dân rơi vào vòng xoáy nợ nần không lối thoát. Cách sử dụng phép đối "Nửa công đứa ở"/"nửa thuế bò" tạo nhịp điệu dồn dập ,nhấn mạnh sự tan rã của kinh tế gia đình nông thôn lúc bấy giờ. Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật này là làm nổi bật sự bất công và nỗi khốn cùng đến tận cùng của người dân thấp cổ bé họng. Câu "Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,/Chiêm mất đằng chiêm ,mùa mất mùa." Cụm từ "chân thua" và điệp từ "mất" được dùng rất đắc địa ,gợi lên sự thất bại hoàn toàn và liên tiếp. Người nông dân Việt Nam vốn cần cù,nhưng trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên "mất mùa" liên miên, họ trở nên trắng tay. Thế nhưng, cái khổ không chỉ đến từ ông Trời mà còn đến từ "nhân tai". Bằng nghệ thuật liệt kê sắc xảo ,Nguyễn Khuyến đã chỉ ra những "niềng xích" kinh tế đang thắt chặt cổ người dân.
Sự nghèo khó ấy không dừng lại ở những con số nợ nần mà hiện hữu ngay trong từng bữa ăn ,từng nếp sinh hoạt hằng ngày : "Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,/Chợ búa trầu chè chẳng dám mua." Hình ảnh "dưa muối" là biểu tượng của sự đạm bạc ,khắc khổ. Ngay cả những thú vui tối thiểu , mang tính văn hóa cộng đồng như "trầu chè" cũng trở thành móm đồ xa xỉ. Qua đó,ta thấy được suy nghĩ và cảm xúc của nhà thơ: đó là một nỗi xót thương,đồng cảm sâu sắc. Nguyễn Khuyến không đứng ở vị thế một vị quan thanh cao để quan sát ,mà ông nhập toan của dân đen. Ông đau đớn ,trăn trở trước một nghịch lý cay đắng : "Cần kiệm thế mà không khá nhỉ," . Lời than ấy ẩn chứa sự bất lực của một trí thức yêu nước. Bài thơ khép lại bằng một câu hỏi tu từ đầy day dứt: "Bao giờ cho biết khỏi đường lo?" Đây không chỉ là câu hỏi về miếng cơm manh áo mà là tiếng kêu cứu cho số phận của cả một dân tộc đang lầm than dưới ách đô hộ.
Đọc bài thơ, em cảm thây vô cùng xúc động trước cuộc đời gian truân của cha ông. Bản thân em nhận thấy mình thật may mắn khi được sống trong một xã hội phát triển và ấm no. Bài thơ nhắc nhở em phải biết trân trọng giá trị của lao động,biết ơn những người nông dân đã làm ra hạt gạo và luôn giữ lòng thấu cảm với những mảnh đời còn gian khó xung quanh mình.
Tóm lại, bằng ngôn nữ thuần Việt giản dị và bút pháp hiện thực tài hoa, "Chốn quê" đã khắc họa thành công một bức tranh đời sống đầy chân thực và cảm động. Tác phẩm không chỉ khẳng định tài năng của Nguyễn Khuyến mà còn cho thấy một nhân cách lớn, một trái tim luôn đau đáu nỗi lo nước cho dân,cho nước. Bài thơ sẽ mãi là một nốt trầm xao xuyến, nhắc nhở chúng ta về tình yêu quê hương và lòng nhân ái.
Câu 1: Tự sự
Câu 2: Ngôi thứ nhất
Câu 3: Chủ đề: tình cảm gia đình,tình mẫu tử
Câu 4: Từ ngữ địa phương: rau om,hết biết
Từ toàn dân tương ứng :
Rau om:rau ngổ
Hết biết: rất ngon,ngon tuyệt, không lời nào tả xiết
Câu 5:
Chi tiết nhân vật “tôi“ nín thở nuốt trọn tô canh bí đỏ là minh chứng cho một tình yêu thương mẹ vừa hồn nhiên,vừa sâu sắc.Dù đã quá ngán món canh ấy, nhưng vì thấu được nỗi buồn và sự kỳ vọng của mẹ mà cậu “buồn lây” , sẵn sàng gạt bỏ sự kh chịu của bản thân để đổi lấy niềm vui cho mẹ. Hành động này cho thấy “ tôi” là một người con vô cùng tinh tế,hiếu thảo và biết suy nghĩ; cậu chọn cách hy sinh thầm lặng để bảo vệ tình cảm gia đình thay vì những lời nói sáo rỗng. Đó chính là vẻ đẹp của một tâm hồn đã thực sự trưởng thành trong tình yêu thương.
Câu 6:
Gia đình không chỉ là một danh từ để gọi tên những người cùng huyết thống, mà đó là thánh đường duy nhất bảo vệ ta trước những giông bão của cuộc đời. Trong những ngày tháng “xanh như tàu lá” vì áp lực thi cử,chính sự chăm sóc bền bỉ và yêu thương vô điều kiện của mẹ đã trở thành dòng nhựa sống nuôi dưỡng tâm hồn nhân vật “tôi”. Tình cảm ấy giống như ngọn hải đăng,lặng lẽ soi sáng để ta không lạc lối, và cũng là bến đỗ bình yên mỗi khi ta mỏi gối chùn chân. Nó dạy ta biết cách yêu thương, biết hy sinh cái “tôi” cá nhân để đổi lấy nụ cười của người thân yêu. Sau tất cả, những hào quang ngoài kia có thể rực rỡ, nhưng chỉ có ánh sáng từ ngọn đèn trong gian bếp gia đình mới đủ ấm để sưởi lành những vết thương lòng. Bởi vậy, trân trọng gia đình chính là cách chúng ta trân trọng chính cội nguồn và bản ngã của mình.