Bùi Đức Duy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Đức Duy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 :
Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” thuyết phục người đọc nhờ lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động và giọng điệu xét đoán nhưng cảm thông. Luận đề của bài cái đẹp hiện hữu trong thiên nhiên, trong quá trình hướng thiện của nhân vật và ở sự hòa hợp giữa người với rừng được nêu rõ ngay từ đầu và từng bước được phát triển mạch lạc. Tác giả sử dụng hàng loạt bằng chứng cụ thể, miêu tả cảnh rừng, hành vi của ông Diểu và những biểu hiện tâm lý (“Ông Diểu sợ hãi run lên”, “chân tay ông rủn ra”) để chứng minh hiệu quả thức tỉnh lương tri, từ đó làm nổi bật giá trị nhân văn của truyện ngắn. Các phép liệt kê, so sánh và dẫn giải minh họa được vận dụng linh hoạt, vừa gợi hình vừa nhấn mạnh đối lập giữa vẻ đẹp thanh khiết của thiên nhiên và hành động tàn sát; điều đó khiến lập luận thêm sức nặng. Giọng văn của người viết vừa phân tích, vừa cảm nhận, tạo uy tín và tính thuyết phục bởi sự đồng cảm với thông điệp nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp. Tổng hợp lại, văn bản đạt được mục tiêu suy luận và cảm hóa người đọc về ý nghĩa cái đẹp trong tác phẩm.
Câu 2 :
Trong những năm gần đây, nhiều clip trên mạng xã hội ghi lại cảnh các bạn trẻ thu gom rác tại ao hồ, chân cầu, bãi biển xuất hiện phổ biến và nhận được sự quan tâm lớn. Từ góc nhìn của người trẻ, hành động này mang ý nghĩa tích cực: vừa bảo vệ môi trường, vừa thể hiện trách nhiệm cộng đồng, góp phần lan tỏa văn hóa ứng xử thân thiện với thiên nhiên. Tuy nhiên, bên cạnh biểu hiện đẹp đó vẫn tồn tại một số vấn đề cần nhìn nhận nghiêm túc để hành động không chỉ là những khoảnh khắc viral mà trở thành phong trào bền vững.
Trước hết, cần khẳng định giá trị tích cực rõ ràng của phong trào: các chiến dịch dọn rác giúp làm sạch cảnh quan, giảm ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ đa dạng sinh học; hơn thế, chúng giáo dục cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, về tinh thần chủ động, ý thức công dân và tính tự giác. Khi một nhóm bạn thu gom rác, họ không chỉ nhặt chai nhựa mà còn truyền đi thông điệp “rác không nên vứt bừa bãi”, khuyến khích người xung quanh suy nghĩ và thay đổi hành vi. Những hành động cụ thể ấy xây dựng thói quen có lợi cho xã hội, đồng thời nâng cao niềm tự hào và trách nhiệm của giới trẻ với không gian sống chung. Tuy nhiên, có những ý kiến trái chiều đáng cân nhắc. Một số người cho rằng nhiều clip là “câu like”, dàn dựng để thu hút lượt xem; một số khác lo ngại hiệu quả chỉ mang tính tạm thời nơi được dọn sạch có thể lại trở về trạng thái cũ nếu ý thức cộng đồng chưa thay đổi. Những phê phán này có cơ sở và nhắc nhở chúng ta rằng thiện ý chưa đủ, cần có chiến lược và bền bỉ. Để hóa giải nhược điểm, cần kết hợp hành động truyền thông với giáo dục môi trường trong trường học, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các giải pháp hạ tầng (thùng rác, phân loại rác, thu gom định kỳ). Ngoài ra, minh bạch hoá mục đích các clip, kèm theo thông tin về kết quả thực tế (số kg rác thu, nơi xử lý) sẽ giảm tính “câu view” và tăng tính trách nhiệm. Giải pháp khác của người trẻ là chuyển những buổi dọn rác thành hoạt động lâu dài: lập đội tình nguyện, hợp tác với tổ chức môi trường, tổ chức sự kiện lồng ghép giáo dục cộng đồng, triển khai mô hình “đường sạch, khu phố sạch” có sự tham gia của cư dân. Đồng thời, khuyến khích sáng tạo giải pháp: tái chế, upcycling, thu gom rác nhựa đổi quà, ứng dụng công nghệ để theo dõi và quản lý rác. Sự phối hợp giữa hành động cá nhân, mặt trận truyền thông tích cực và chính sách hỗ trợ sẽ tạo ra tác động lan tỏa bền vững.
các clip thu gom rác của bạn trẻ là biểu tượng đẹp của tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái thời đại mới; song để hành động thực sự hiệu quả, cần vượt qua hình thức nhất thời bằng chiến lược lâu dài: giáo dục ý thức, minh bạch hoá hoạt động, đầu tư hạ tầng và tạo cơ chế khuyến khích. Khi đó, hành động nhỏ của mỗi người sẽ góp phần tạo ra khác biệt lớn cho môi trường và tương lai chung của cộng đồng.

Câu 1 : luận đề
Vẻ đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, thể hiện qua: vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn nhân vật ông Diểu và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên

Câu 2 : câu văn mang tính khẳng định
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”

Câu 3 : nhận xét
vẻ đẹp của thiên nhiên,
vẻ đẹp của sự hướng thiện,
vẻ đẹp tâm hồn con người,
sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” nêu trực tiếp và bao quát chính xác nội dung văn bản.
Nhan đề phù hợp, rõ ràng, giúp người đọc định hướng ngay nội dung nghị luận, đồng thời thể hiện trọng tâm phân tích của tác giả: tìm kiếm và chỉ ra các phương diện cái đẹp trong truyện.

Câu 4 : phân tích
“Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông.”
Tác dụng của phép liệt kê:
Khắc họa rõ nét sự phong phú, đa dạng và vẻ đẹp sống động của thiên nhiên rừng núi.
Tạo ra sự đối lập mạnh mẽ giữa sự yên bình – đẹp đẽ của thiên nhiên với bạo lực và tội lỗi từ hành động đi săn của ông Diểu.
Làm nổi bật tình huống thức tỉnh lương tri của nhân vật: sự hài hòa, đẹp đẽ của tự nhiên tương phản với tiếng súng dữ dội đã lay động và đánh thức cảm xúc, lương tâm của ông.
Gợi hình, gợi cảm, tạo sức ám ảnh mạnh trong lòng người đọc.

Câu 5 : phân tích đánh giá
Mục đích viết:
Giúp người đọc nhận ra những phương diện của cái đẹp trong truyện Muối của rừng: vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện, sự hòa hợp giữa người và rừng.
Khẳng định giá trị tư tưởng – nhân văn của truyện ngắn cũng như tài năng của Nguyễn Huy Thiệp trong việc khắc họa nhân vật và thiên nhiên.
Quan điểm của người viết:
Thiên nhiên có vẻ đẹp trong trẻo, thanh sạch và có khả năng cảm hóa con người.
Con người cần sống nhân hậu, hướng thiện, biết trân trọng sự sống của muôn loài.
Văn học chân chính phải làm sáng tỏ vẻ đẹp của con người và khơi dậy cái thiện.
Tình cảm của người viết:
Thể hiện sự trân trọng thiên nhiên và vẻ đẹp của nó.
Cảm thông và xúc động trước sự thay đổi nhận thức của ông Diểu.
Ngưỡng mộ trước vẻ đẹp nhân văn trong truyện và vẻ đẹp tâm hồn con người.
Một thái độ thiện cảm, đồng tình với những gì truyện muốn gửi gắm: tôn trọng sự sống, bảo vệ tự nhiên, hướng thiện trong tâm hồn.




Câu 1 :
Nhân vật Thủy Tinh trong Sự tích những ngày đẹp trời và trong truyền thuyết cổ tích Sơn Tinh – Thủy Tinh có điểm giống nhưng lại khác nhau sâu sắc. Giống nhau trước hết ở tình huống: cả hai đều tới Phong Châu dự hội kén rể của vua Hùng, cùng tranh cầu Mỵ Nương với Sơn Tinh; đều là đại diện cho lực lượng nước, mang quyền năng thần thánh. Tuy nhiên, khác biệt then chốt là cách xây dựng tính cách và hình ảnh. Ở truyền thuyết dân gian, Thủy Tinh thường được khắc họa thiên về xấu xí, hẹp hòi, ích kỉ, sẵn sàng dâng nước tàn phá khi thua cuộc, biểu tượng cho thiên nhiên tàn bạo và lòng thù hằn. Ngược lại, Thủy Tinh của Hòa Vang trong Sự tích những ngày đẹp trời được miêu tả là “thật đẹp và thật buồn”, là chàng trai si tình, bối rối và trăn trở; sau thất bại, chàng không chỉ đau khổ mà còn thể hiện sự cao thượng, quyết định không dùng quyền lực tàn phá chỉ vì tình, chấp nhận hy sinh để mong Mỵ Nương được hạnh phúc. Như vậy, Hòa Vang đã nhân văn hoá Thủy Tinh, làm rõ nội tâm và tôn vinh phẩm chất hi sinh, đem lại cái nhìn mới, sâu sắc và cảm thông hơn về nhân vật này.

Câu 2 :
Trong tình yêu, sự hi sinh là một trong những yếu tố tạo nên chiều sâu cảm xúc và sự bền vững của mối quan hệ. Hi sinh ở đây không chỉ là từ bỏ vật chất hay quyền lợi, mà còn là chia sẻ, chịu đựng, nhường nhịn để đối phương được hạnh phúc hành động đó vừa mang giá trị cá nhân vừa có ý nghĩa xã hội lớn lao.
Trước hết, hi sinh thể hiện tình yêu chân thành và trách nhiệm. Khi một người sẵn lòng lùi bước, chấp nhận thiệt thòi để người mình yêu được an vui, điều đó chứng tỏ tình cảm không phải bột phát mà sâu sắc, có sự thấu hiểu và đặt lợi ích của người kia lên trước. Ví dụ trong văn chương và đời sống, những cử chỉ nhẫn nại chăm sóc người bệnh, bỏ lỡ cơ hội riêng vì gia đình, hoặc như Thủy Tinh trong Sự tích những ngày đẹp trời chàng không muốn dùng sức mạnh hủy diệt để đoạt Mỵ Nương; thay vào đó chàng chọn chịu nỗi đau riêng, để người mình yêu được sống yên ấm. Đó là hi sinh mang tính vị tha, giữ phẩm giá con người và tôn trọng hạnh phúc của đối phương. Trước hết, hi sinh thể hiện tình yêu chân thành và trách nhiệm. Khi một người sẵn lòng lùi bước, chấp nhận thiệt thòi để người mình yêu được an vui, điều đó chứng tỏ tình cảm không phải bột phát mà sâu sắc, có sự thấu hiểu và đặt lợi ích của người kia lên trước. Ví dụ trong văn chương và đời sống, những cử chỉ nhẫn nại chăm sóc người bệnh, bỏ lỡ cơ hội riêng vì gia đình, hoặc như Thủy Tinh trong Sự tích những ngày đẹp trời — chàng không muốn dùng sức mạnh hủy diệt để đoạt Mỵ Nương; thay vào đó chàng chọn chịu nỗi đau riêng, để người mình yêu được sống yên ấm. Đó là hi sinh mang tính vị tha, giữ phẩm giá con người và tôn trọng hạnh phúc của đối phương. Thứ hai, hi sinh làm gắn kết và tạo niềm tin giữa hai người. Khi cả hai biết có những thời điểm phải nhún mình, thỏa hiệp vì nhau, mối quan hệ trở nên bền vững hơn. Hi sinh không chỉ là hành động đơn phương mà khi được đáp trả bằng sự cảm thông và trân trọng sẽ xây dựng nền tảng tin cậy, từ đó hai người cùng nhau vượt qua khủng hoảng. Ở tầm gia đình, sự hi sinh của cha mẹ vì con cái góp phần kết dệt tình thân và tạo môi trường an toàn cho thế hệ sau phát triển. Tuy nhiên, cần nhận diện giới hạn của hi sinh. Hi sinh mù quáng, liên tục từ bỏ bản thân đến mức mất đi giá trị cá nhân, bị lợi dụng, hoặc hi sinh để duy trì một mối quan hệ độc hại thì không còn là đức tính cao đẹp mà trở thành tự hủy. Do đó, hi sinh cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cân bằng và không đánh mất bản thân. Yêu thương khôn ngoan là biết khi nào nên nhường, khi nào nên giữ vững ranh giới; khi hi sinh có mục đích xây dựng chứ không phải làm đau chính mình. Một ý kiến trái chiều cho rằng tình yêu hiện đại cần bình đẳng, không cổ vũ hi sinh một chiều. Ý kiến này đúng ở chỗ nhấn mạnh công bằng và tự do cá nhân; tuy nhiên nó không phủ nhận giá trị của sự hi sinh có chừng mực. Thực tế, hi sinh tương hỗ (cùng nhau hy sinh vì mục tiêu chung) mới là yếu tố làm nên mối quan hệ nhân văn và bền lâu.
Sự hi sinh trong tình yêu có ý nghĩa quan trọng nó là bằng chứng của lòng vị tha, là keo dính gắn kết con người và là nguồn gốc của phẩm giá trong giao tiếp tình cảm. Nhưng hi sinh chỉ đáng quý khi được thực hiện có chừng mực, có hiểu biết và luôn song hành với tôn trọng bản thân. Yêu thương không phải là mất mát bản thân mà là cùng chia sẻ và lớn lên bên nhau đó mới là hi sinh chân chính và ý nghĩa.

Câu 1 : Thể loại: Truyện truyền thuyết

Câu 2 : Ngôi kể: Ngôi thứ ba-Người kể chuyện ẩn mình, chủ yếu tường thuật, đôi khi nhường lời để nhân vật tự bộc lộ cảm xúc.

Câu 3 : nhận xét
Cốt truyện dựa trên truyền thuyết quen thuộc (Sơn Tinh – Thủy Tinh), nhưng được phát triển thành câu chuyện mới, đào sâu nội tâm nhân vật.
Có thêm các tình huống mới: cuộc gặp lại giữa Mỵ Nương và Thủy Tinh, lời bộc bạch của Thủy Tinh, sự day dứt của các nhân vật.
Cốt truyện mang màu sắc tâm lí – trữ tình, chú trọng cảm xúc hơn là hành động.
Kết cấu rõ ràng, có mở – phát triển – cao trào – kết, tạo chiều sâu cho truyền thuyết cũ.

Câu 4 : “Nước suối cuộn sóng, dựng đứng lên, thành một chàng trai tuyệt vời đẹp và buồn.”
tác dụng :
Tạo màu sắc kì ảo đặc trưng của truyền thuyết, gợi sự thần linh của Thủy Tinh.
Tô đậm vẻ đẹp bi tráng, vừa quyền năng vừa cô độc của thần nước.
Làm nổi bật sự gặp gỡ đầy bất ngờ, cảm động giữa Thủy Tinh và Mỵ Nương.
Tăng tính hấp dẫn, huyền ảo cho truyện, khiến người đọc dễ rung động hơn.

Câu 5 : Em ấn tượng nhất với chi tiết Thủy Tinh nói rằng hằng năm sẽ hóa thân thành những hạt mưa thu đầu mùa để gặp Mỵ Nương.

Chi tiết đẹp và buồn, thể hiện tình yêu thủy chung nhưng đầy tuyệt vọng của Thủy Tinh.
Gợi cảm giác nhân văn: dù thất bại và đau khổ, Thủy Tinh vẫn giữ sự dịu dàng, không làm hại người mình yêu.
Chi tiết cũng giải thích một hiện tượng tự nhiên theo cách thơ mộng, đậm chất truyền thuyết.



Câu 1 :
Tam Lang qua văn bản Tôi kéo xe thể hiện rõ mong muốn xóa bỏ nghề kéo xe chở người như một nghề bần cùng, khốn khổ trong xã hội trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Tác giả mô tả cụ thể nỗi cực nhọc thể xác — “ruột thì như vặn… cổ thì nóng…”, “miệng thở, mũi thở, rồi đến cả tai cũng thở” — cùng cảnh bị khinh thường, mắng chửi, thậm chí bị đánh đập khi phục vụ khách. Những hình ảnh ấy không chỉ gợi lòng thương mà còn tố cáo tính bất công của xã hội cũ: lao động nặng nhọc mà không được tôn trọng, sức khỏe hao mòn, tuổi thọ ngắn. Từ trải nghiệm hoá thân vào thân phận phu xe, Tam Lang bộc lộ thái độ cảm thông sâu sắc và ngầm khẳng định rằng nghề ấy là hệ quả của cấu trúc xã hội bất công, cần được cải thiện hoặc loại bỏ để con người được sống đàng hoàng hơn. Như vậy, mong muốn của tác giả không đơn thuần là thương xót, mà là khao khát xã hội công bằng, tôn trọng lao động, nơi con người không bị biến thành công cụ mòn từng ngày.

Câu 2 :

Trong đời sống, nỗ lực là một phẩm chất nền tảng, có vai trò quyết định đối với sự trưởng thành, thành công và hạnh phúc của mỗi con người. Nỗ lực có thể hiểu là hành động kiên trì, có ý thức, vượt qua khó khăn để đạt mục tiêu; nó khác với may mắn bởi tính bền bỉ và hệ thống. Ý nghĩa của nỗ lực thể hiện ở nhiều phương diện: hoàn thiện bản thân, chinh phục mục tiêu, đóng góp cho xã hội và xây dựng phẩm giá.
Trước hết, nỗ lực giúp con người hoàn thiện kỹ năng và phẩm chất. Không ai sinh ra đã toàn năng; tất cả kiến thức, nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp hay tự chủ đều được mài giũa qua lao động có chủ ý. Khi ta nỗ lực học hỏi, rèn luyện, sai sót trở thành bài học; kiên trì biến năng lực tiềm ẩn thành năng lực hiện thực. Nhờ đó, cá nhân phát triển, tự tin hơn và có năng lực đối mặt thách thức.Thứ hai, nỗ lực là con đường để vượt qua nghịch cảnh và đạt được ước mơ. Trong đời, thất bại, khó khăn, chông gai là điều không tránh khỏi. Những người kiên trì thường tìm được lối thoát nhờ thử nghiệm, điều chỉnh phương pháp, không bỏ cuộc trước trở ngại. Lịch sử và đời thường đều cho thấy: thành tựu lớn hiếm khi đến với người chỉ trông chờ may mắn — nó thuộc về kẻ bền bỉ. Nỗ lực còn giúp ta nuôi dưỡng ý chí, rèn tinh thần chịu đựng và lòng dũng cảm.Thứ ba, nỗ lực của từng cá nhân đóng góp vào phát triển chung của cộng đồng. Khi mỗi người nỗ lực học hành, làm việc, sáng tạo — xã hội thu được tri thức, sản phẩm, dịch vụ; nền kinh tế tiến; văn hoá, khoa học được làm giàu. Nỗ lực còn lan tỏa: tấm gương kiên trì truyền cảm hứng cho người khác, tạo thành văn hoá tôn vinh lao động và trách nhiệm.Dĩ nhiên, có quan điểm cho rằng chỉ nỗ lực thôi chưa đủ — cần có cả cơ hội, môi trường và công bằng xã hội. Điều này đúng: nỗ lực trong bối cảnh thiếu cơ hội có thể bị hạn chế. Tuy nhiên, việc nhận diện bất công không bác bỏ giá trị của nỗ lực; thay vào đó, nó thúc giục xã hội tạo điều kiện công bằng để nỗ lực cá nhân thực sự phát huy. Nỗ lực kết hợp với trí tuệ, chiến lược và môi trường thuận lợi sẽ mang lại hiệu quả bền vững hơn.
Cuối cùng, nỗ lực còn là nguồn gốc của phẩm giá con người. Người biết nỗ lực không trốn tránh trách nhiệm, không cam chịu thua thiệt vô nghĩa; họ tôn trọng chính mình và tôn trọng người khác. Dù kết quả có khi chưa như mong muốn, quá trình cố gắng vẫn mang lại giá trị: học được bài học, giữ được tự trọng và xây dựng niềm tin cho tương lai.Nỗ lực không phải là phép màu tức thì, nhưng là hành trình tạo nên năng lực, thành quả và phẩm giá. Mỗi người hãy xác định mục tiêu rõ ràng, rèn kỷ luật tự giác và kiên trì hành động; đồng thời xã hội cần tạo điều kiện công bằng để nỗ lực của mọi người được đền đáp xứng đáng. Chính sự kết hợp ấy sẽ dẫn tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho từng cá nhân và cộng đồng.

câu 1 : thể loại của văn bản là Truyện kí

câu 2 : Văn bản ghi chép về trải nghiệm thực tế của tác giả khi giả làm người thất nghiệp để vào đội phu kéo xe, đặc biệt là một chuyến kéo xe vất vả từ Đồn Thuỷ lên Yên Phụ, qua đó cảm nhận sâu sắc nỗi khổ cực của nghề này

câu 3 : "Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cổ thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp."
Biện pháp tu từ: So sánh.
Ruột như bị vặn
Cổ nóng như cái ống gang
Tác dụng:
Khắc hoạ cảm giác đau đớn, nghẹt thở, cực nhọc tới mức như bị tra tấn của người kéo xe.
Làm nổi bật nỗi khổ thể xác dữ dộisự kiệt sức sau vài bước chạy.
Gợi sự thương cảm đối với phu kéo xe – những con người nghèo khổ phải lao động trong điều kiện tàn nhẫn.

câu 4 : Chi tiết “Miệng thở, mũi thở, rồi đến cả tai cũng thở, mồ hôi thì toát ra như mồ hôi trõ.” gây ấn tượng mạnh.
Diễn tả sự kiệt sức tột độ, thậm chí đến mức vô lý (“tai cũng thở”), tạo cảm giác chân thật nhưng đầy ám ảnh.
Thể hiện rõ nỗi nhọc nhằn khốn khổ mà phu kéo xe phải chịu đựng.
Góp phần làm người đọc thấu hiểu và thương xót cho tầng lớp lao động nghèo.

câu 5 : Tác giả thể hiện:
Sự thương cảm sâu sắc với những người lao động nghèo, đặc biệt là phu kéo xe.
Lên án xã hội thực dân – phong kiến bất công, khiến con người phải lao động nặng nhọc, bị khinh rẻ và dễ chết non.
Ý thức nhân đạo, trân trọng con người, nhất là những người ở đáy xã hội.
Tinh thần phê phán sự vô cảm của những người từng coi thường phu xe