Cư Văn Trường

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Cư Văn Trường
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Bài thơ Chân quê là một trong những sáng tác tiêu biểu cho hồn quê của Nguyễn Bính. Ở đây ta cảm nhận được nỗi bi kịch của một người muốn níu giữ những giá trị văn hóa quê hương xưa. Tuy nhiên lại không làm được, điều này đã làm con người ta ám ảnh khôn nguôi.Bài thơ mở đầu bằng những câu thơ đợi chờ. Đó là một biểu hiện của tình yêu trai gái quê đầy giản dị và gắn bó. Đó cũng chính là từ lời ăn tiếng nói tới cách ăn mặc của người quê. Khi người yêu đi tỉnh về chàng trai không khỏi trông ngóng bồn chồn và còn ra tận con đê đầu làng để đón người yêu,con đê chính là một biểu hiện của làng quê xưa. Đó cũng chính là cái để bảo vệ xóm làng trước bão lũ, cũng là ranh giới giữa các địa phương. Đây là một hình ảnh vô cùng thân thuộc ở các làng quê. Tâm trạng của chàng trai lúc này là bồi hồi chờ đợi và có cả nhớ mong, trong khung cảnh làng quê ta càng cảm nhận được sâu sắc điều đó.Qua bài thơ Chân quê Nguyễn Bính đã khắc họa sự thay đổi của người con gái ở thôn quê. Đó là khi chờ đợi chàng trai hết sức ngỡ ngàng về sự thay đổi trong cách ăn mặc của cô gái. Trước mắt chàng trai, người yêu của mình như trở thành một người xa lạ. Bởi khi này cô gái khoác lên chiếc khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm… Đó đều là những thứ xa lạ ở thôn quê. Chính nó là các sản phẩm của thị thành được sản xuất tiêu biểu dành cho lớp người ở đây. Và giữa khung cảnh làng quê thanh bình ấy thì hình ành này không mấy phù hợp và trở nên kệch cỡm.Bài thơ Chân quê đã thổi hồn vào những người con trên mảnh đất quê mình. Đó là hình ảnh chàng trai muốn níu giữ nét chân chất thật thà khi người yêu đi tỉnh về. Bởi ở đó cô đã bị nhiễm lối sống phương Tây xa lạ. Tuy nhiên đó là điều không được. Đó cũng chính là ly do đọc bài thơ Chân quê ta cảm nhận được sự ám ảnh khôn nguôi.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản là phân tích và bình luận, kết hợp với yếu tố tự sự, trữ tình.

Câu 2. Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì? Người viết thể hiện cảm xúc đồng cảm, xót xa và suy tư, cho rằng sự "lạc lõng" của thi nhân trong bài thơ gợi lên một cảm giác chung của con người khi đối diện với không gian và thời gian mênh mông, vô tận.

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"? Nét khác biệt là:

Sự trống vắng của "Tràng giang": Được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ, quạnh hiu, tuyệt đối hoang vắng.

Thanh vắng cổ điển: Được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại .

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang? Tác giả phân tích các yếu tố sau: Từ láy: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn" gợi nhịp triền miên. Cặp câu tương xứng: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song", tạo cảm giác nối tiếp, trùng lặp. Cấu trúc câu: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu" tạo nhịp chảy trôi, rong ruổi. Cụm từ chỉ sự trùng điệp: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng".

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

Em ấn tượng với cách nhà thơ diễn tả "nhịp chảy trôi miên viễn" bằng các yếu tố ngôn ngữ như từ láy, cấu trúc câu... bởi nó tạo ra một dòng âm hưởng mạnh mẽ, khiến người đọc cảm nhận được cả chiều không gian và thời gian của dòng sông.


Câu 1

Nguyễn Bính là một trong ba đỉnh cao của thơ Mới giai đoạn năm 1932-1941, nếu như người ta ấn tượng với một Xuân Diệu nồng nàn, cháy bỏng với những vần thơ tình táo bạo điên cuồng, Hàn Mặc Tử với những vần thơ điên hòa quyện giữa hai trường phái đối lập là trong sáng thơ mộng với sự ghê rợn ám ảnh, thì đến Nguyễn Bính người ta lại nhìn thấy một nhà thơ bình bình chân chất, mà giống như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận định Nguyễn Bính là một nhà thơ với những vần thơ thật "quê mùa" và gần gũi. Bản thân Nguyễn Bính có thể không có những giai đoạn nổi bật với những tác phẩm vụt sáng như những nhà thơ mới khác, thế nhưng khi nhắc đến thơ Mới người ta vẫn phải trân trọng dành cho ông một vị trí cao quý, bởi lẽ thơ hiện đại nhưng vẫn mang vác được cái hồn quê chân chất với lối nói quê và giọng điệu quê kết hợp thì có lẽ xưa nay hiếm và chỉ ở Nguyễn Bính mới có được. Một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Nguyễn Bính phải kể đến Tương tư, một bài thơ với giọng thơ lục bát dân tộc, hồn nhiên, trong sáng, tình yêu đôi lứa ý nhị, duyên dáng đậm chất dân quê.


Câu 1: thuộc thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt biến thể

Câu 2: Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? Cụm từ này diễn tả nỗi nhớ vô cùng mãnh liệt, khắc khoải, da diết, ở mức độ tột cùng của nỗi tương tư.

Câu 3 Biện pháp tu từ: Nhân hóa.

Tác dụng: + Diễn tả tâm trạng: Nỗi nhớ nhung của nhân vật trữ tình đã lan tỏa ra cả không gian, khiến cho "Thôn Đoài" (đại diện cho chủ thể trữ tình) cũng biết nhớ "thôn Đông".

Câu 4:

+ Những dòng thơ này gợi lên cảm giác thương cảm, xót xa cho tình yêu còn dang dở, chưa thành hiện thực.

+ Chúng thể hiện nỗi nhớ nhung, chờ đợi, hy vọng mong manh rằng một ngày nào đó hai người sẽ có cơ hội gặp gỡ.

Câu 5:

Tình yêu là nguồn sống mãnh liệt nhất, là gia vị không thể thiếu làm cho cuộc đời thêm thi vị, thú vị. Dù tình yêu có thể mang lại nỗi nhớ, nỗi buồn nhưng đó chính là minh chứng cho sự tồn tại của tình yêu và hạnh phúc.


Câu 1. văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn .

Câu 2 .xác định đề tài của áo Tết là tình bạn hồn nhiên giữa hai cô gái hoàn cảnh khác nhau .

Câu 3.sự thay đổi và điểm nhìn trong đoạn trích là đoạn trích.

+Ban đầu, câu chuyện tập trung vào suy nghĩ, cảm xúc và điểm nhìn của nhân vật bé Em.

+Sau đó, điểm nhìn chuyển sang tập trung vào cảm xúc, hoàn cảnh và suy nghĩ của nhân vật con Bích (qua lời kể của người kể chuyện ngôi thứ ba).

+Cuối cùng, điểm nhìn trở lại với suy nghĩ nội tâm của bé Em khi cả hai đi chơi Tết.

Tác dụng.

+Việc thay đổi điểm nhìn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về thế giới nội tâm, hoàn cảnh và tính cách của cả hai nhân vật.

+Nó tạo sự đồng cảm cho người đọc với cả bé Em (người có điều kiện) và bé Bích (người nghèo).

Câu 4.

+Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết trung tâm, bộc lộ tính cách nhân vật một cách sâu sắc.

Với bé Em :

+ Chiếc áo ban đầu thể hiện sự háo hức, niềm vui con trẻ khi được diện đồ mới ngày Tết, và chút hồn nhiên muốn khoe khoang với bạn bè.

+Tuy nhiên khi nhận ra hoàn cảnh của Bích, bé Em đã từ bỏ ý định mặc chiếc áo nổi bật đó để giữ gìn tình bạn, thể hiện sự tinh tế, lòng trắc ẩn và biết nghĩ cho cảm xúc của người khác.

Với con Bích:

Chiếc áo làm nổi bật lên sự thiệt thòi, hoàn cảnh nghèo khó của Bích. Dù có thoáng buồn tủi khi so sánh, Bích vẫn giữ sự hiền lành, không ganh tị. Tình cảm của Bích dành cho bé Em không phụ thuộc vào vật chất.

Câu 5

câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn chân thành và sự sẻ chia tế nhị. Tình bạn không đo bằng vật chất hay những bộ quần áo đẹp, mà đo bằng sự thấu hiểu, đồng cảm và tôn trọng lẫn nhau. Bé Em đã dạy em về sự tinh tế khi biết đặt mình vào hoàn cảnh bạn, từ bỏ niềm vui cá nhân (mặc áo đầm hồng) để giữ gìn niềm vui chung và sự tự trọng của bạn.