Đào Thu Trang
Giới thiệu về bản thân
Câu 2:
Hiện tượng “chảy máu chất xám” – sự ra đi của những người tài giỏi sang các nước phát triển – đang là một vấn đề đáng báo động tại Việt Nam. Điều này gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, làm cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao khiến cho các ngành công nghiệp then chốt thiếu đi những chuyên gia giỏi, cản trở quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Thứ nhất, cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu tại Việt Nam còn nhiều hạn chế so với các nước phát triển, dẫn đến việc các nhà khoa học, kỹ sư khó có thể phát huy hết năng lực của mình. Thứ hai, mức thu nhập và chế độ đãi ngộ đối với người lao động có trình độ cao ở Việt Nam chưa tương xứng với năng lực và cống hiến của họ, khiến họ tìm kiếm cơ hội tốt hơn ở nước ngoài. Thứ ba, môi trường làm việc tại Việt Nam đôi khi còn thiếu minh bạch, hiệu quả, gây ra sự nản lòng cho những người tài năng. Cuối cùng, chính sách thu hút và giữ chân nhân tài của Việt Nam chưa đủ hấp dẫn và cạnh tranh so với các quốc gia khác.
Để giải quyết vấn đề này, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Đầu tiên, cần đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, kỹ sư phát triển nghiên cứu. Thứ hai, cần cải thiện mức thu nhập và chế độ đãi ngộ đối với người lao động có trình độ cao, tạo ra một môi trường làm việc cạnh tranh và hấp dẫn. Thứ ba, cần xây dựng một môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả, tạo điều kiện cho người tài phát huy năng lực. Cuối cùng, cần có những chính sách thu hút và giữ chân nhân tài cụ thể, hấp dẫn và cạnh tranh hơn. Việc này đòi hỏi sự nỗ lực của cả Chính phủ, các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Hiện tượng “chảy máu chất xám” là một thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, bằng việc triển khai các giải pháp toàn diện và quyết liệt, Việt Nam hoàn toàn có thể khắc phục được tình trạng này và giữ chân được những người tài năng, góp phần xây dựng một đất nước giàu mạnh và phồn vinh.
Câu 1:
Nghệ thuật lập luận trong Chiếu cầu hiền tài của Nguyễn Trãi vô cùng sắc bén và thuyết phục. Bài chiếu sử dụng lối lập luận chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa lí và tình, giữa lý lẽ sắc sảo với lời lẽ thiết tha, chân thành. Tác giả bắt đầu bằng việc nêu lên thực trạng đất nước đang gặp khó khăn, cần đến nhân tài để phục vụ. Đây là luận điểm chính, được triển khai bằng những dẫn chứng lịch sử cụ thể, rõ ràng, từ đó khẳng định tầm quan trọng của việc tìm kiếm hiền tài. Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề mà còn đưa ra giải pháp cụ thể, đó là kêu gọi mọi người, bất kể xuất thân, địa vị, đều có thể dâng hiến tài năng cho đất nước. Lập luận được củng cố bằng những lời lẽ tha thiết, thể hiện tấm lòng yêu nước sâu sắc của tác giả, khơi gợi lòng yêu nước và trách nhiệm của người dân. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí và tình đã tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ, khiến bài chiếu trở nên sâu lắng và cảm động. Cuối cùng, lời kêu gọi được nhấn mạnh bằng những câu văn hùng hồn, tạo nên một kết thúc đầy khí thế, khẳng định quyết tâm xây dựng đất nước của nhà vua và toàn dân.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài chiếu “Cầu hiền tài” là nghị luận.
Câu 2: Chủ thể bài viết là Lê Lợi.
Câu 3: Mục đích chính của văn bản trên là kêu gọi, khuyến khích việc tiến cử hiền tài để phục vụ đất nước. Những đường lối tiến cử hiền tài được đề cập trong văn bản gồm:
-
Lệnh cho các quan văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên, mỗi người cử một người (ở triều đình hoặc ở thôn dã, bất kể đã ra làm quan hay chưa) có tài văn võ, có thể trị dân coi quân. Người tiến cử được người tài sẽ được thưởng. Cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, cử được người tài đức hơn người thì được trọng thưởng.
-
Cho phép những người có tài tự ứng tuyển, không cần ai tiến cử. Dẫn chứng việc Mao Toại, Nịnh Thích tự ứng tuyển làm quan dưới thời Bình Nguyên quân và Tề Hoàn công.
-
Khuyến khích những người tài ở thôn dã không nên tự ti, e ngại mà không dám ứng tuyển.
Câu 4: Để minh chứng cho luận điểm “khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước”, người viết đã đưa ra dẫn chứng về các vị vua thời Hán, Đường như Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Ngụy Vô Tri tiến cử Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cừu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu. Những vị vua này đều trọng dụng hiền tài, nhờ đó mà đất nước thịnh trị. Cách dẫn chứng của người viết là cách dẫn chứng lịch sử, rất thuyết phục và có tính khái quát cao. Người viết nhấn mạnh việc trọng dụng hiền tài là điều kiện tiên quyết cho sự thịnh trị của đất nước.
Câu 1:
Nguyễn Quang Sáng, một trong những nhà văn nổi bật của nền văn học Việt Nam hiện đại, đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Trong đó, "Con chim vàng" là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với thiên nhiên, con người và những khát vọng chân thành của tuổi trẻ. Qua tác phẩm, tác giả không chỉ khắc họa được vẻ đẹp của tâm hồn nhân vật mà còn phản ánh được những trăn trở, mơ ước và niềm khao khát sống mãnh liệt."Con chim vàng" xoay quanh câu chuyện của cậu bé tên là Tí, một cậu bé mồ côi, sống với bà nội trong một ngôi nhà nhỏ bên bờ sông. Cậu Tí như một biểu tượng cho sự hồn nhiên, ngây thơ và những ước mơ trong sáng của tuổi thơ. Điều đặc biệt, Tí có một giấc mơ mãnh liệt về việc sở hữu một con chim vàng - biểu tượng cho sự tự do, hạnh phúc và những điều tốt đẹp trong cuộc sống.Cuộc sống của Tí tuy giản dị nhưng ẩn chứa nhiều niềm vui và nỗi buồn. Những buổi chiều hè, cậu thường đưa mắt dõi theo những con chim bay lượn trên bầu trời, trong lòng chất chứa những khao khát được bay lên cùng những chú chim ấy. Tình huống cao trào của tác phẩm xảy ra khi Tí tìm thấy con chim vàng trong giấc mơ của mình, nhưng lại phải đối mặt với sự thật nghiệt ngã: môi trường xung quanh không cho phép cậu được tự do và hạnh phúc như cách mà cậu mong muốn.Nhân vật Tí là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Tí là hình ảnh của một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim đầy yêu thương và mộng mơ. Tí không chỉ yêu thích thiên nhiên mà còn tôn trọng và trân trọng từng khoảnh khắc trong cuộc sống. Sự trong sáng của cậu được thể hiện qua từng hành động và suy nghĩ, từ việc chăm sóc những con chim cho đến niềm vui đơn giản khi nhìn ngắm chúng bay lượn trên bầu trời.Tí còn là hình mẫu của sự dũng cảm và kiên trì. Dù cuộc sống có nhiều khó khăn, cậu vẫn không từ bỏ những ước mơ của mình. Cậu luôn tin tưởng vào tương lai và giữ vững niềm tin vào sự tốt đẹp của cuộc sống. Tâm hồn lạc quan và tinh thần phấn khởi của Tí chính là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc: Dù trong hoàn cảnh nào, hãy biết giữ cho mình những ước mơ và khát vọng.Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật phong phú để khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên, tâm hồn nhân vật và những khát vọng sâu thẳm. Ngôn ngữ trong tác phẩm vừa giản dị, vừa súc tích, tạo cảm giác gần gũi và thân thuộc. Các hình ảnh, âm thanh về thiên nhiên được miêu tả một cách sinh động, mang đến cho người đọc cảm giác như họ đang sống cùng với nhân vật Tí trong từng khoảnh khắc.Tác phẩm "Con chim vàng" của Nguyễn Quang Sáng không chỉ là một câu chuyện về một cậu bé mơ mộng mà còn là bức tranh về những khao khát chân thành, khát vọng tự do và hạnh phúc trong cuộc sống. Qua nhân vật Tí, tác giả gửi gắm một thông điệp sâu sắc về tình yêu đời, về niềm hi vọng và nghị lực của tuổi trẻ. Tác phẩm khép lại nhưng để lại cho người đọc những suy tư về cuộc sống, về điều quý giá nhất mà mọi người cần giữ gìn: những ước mơ và khát vọng cháy bỏng.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là tự sự.
Câu 2: Tình huống truyện là câu chuyện về sự đối lập giữa cậu bé Bảo, một đứa trẻ nghèo phải làm việc ở đợ, và cậu chủ Quyên, con nhà giàu. Bảo phải tìm cách bắt một con chim vàng quý hiếm để làm vui lòng cậu chủ, nhưng cuối cùng lại bị thương nặng và con chim cũng chết. Tình huống này tạo nên xung đột và kịch tính cho câu chuyện.
Câu 3: Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba. Tác dụng của ngôi kể này là giúp người kể có thể kể lại câu chuyện một cách khách quan, toàn diện, miêu tả được tâm trạng của nhiều nhân vật, đặc biệt là tâm trạng của nhân vật Bảo.
Câu 4: Chi tiết "Mắt Bảo chớp chớp thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống, tay Bảo với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai" thể hiện sự bất lực, tuyệt vọng của Bào. Đây là khoảnh khắc đỉnh điểm của bi kịch, cho thấy sự cô đơn, đau đớn và sự bất lực của Bảo trước số phận nghiệt ngã. Chi tiết này cũng nhấn mạnh sự tàn nhẫn, vô tâm của người lớn, đặc biệt là mẹ thằng Quyên, đối với số phận của Bào.
Câu 5: Nhân vật cậu bé Bào trong đoạn trích là một cậu bé nghèo khổ, hiền lành, chịu thương chịu khó. Tác giả đã thể hiện tình cảm thương xót, cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh của Bào. Qua hình ảnh Bảo bị đánh đập, bị đối xử tàn nhẫn nhưng vẫn cố gắng bắt chim để làm vui lòng cậu chủ, ta thấy được sự nhẫn nhục, cam chịu nhưng cũng không kém phần mạnh mẽ, kiên cường của cậu bé. Sự bất lực cuối cùng của Bảo càng làm nổi bật lên bi kịch của cậu bé và sự bất công của xã hội.
Câu1
Một trong những thái độ sống đẹp và văn minh đó chính là sống ở thế chủ động, sống một cách tích cực và có mục tiêu trong cuộc sống. Thật vậy, theo em, đây chính là thái độ sống mà mỗi người cần có để có cuộc sống tích cực và là những yếu tố tiên quyết để làm chủ cuộc sống của chính mình.
Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta có một sự nghiệp, mục tiêu, một công việc khác nhau. Nhưng chúng ta đều cần có điểm chung đó là thái độ luôn sống chủ động, tức là chủ động học tập từ những người xung quanh, học tập từ nhiều nguồn, chủ động nhờ vả người khác và cũng chủ động để giúp đỡ người khác. Đây chính là lối sống hòa đồng để mà tương tác với những người xung quanh, đồng thời cũng chính là giúp đỡ chính bản thân mình.
Đầu tiên, sống chủ động như vậy chính là cách để mỗi chúng ta có thể làm chủ cuộc sống của chính mình. Điều chúng ta cần thì chúng ta chủ động học hỏi, chủ động nhờ vả người khác giúp, chủ động học thêm và làm thêm. Cứ như vậy, cuộc sống của chúng ta sẽ là của chúng ta chứ chẳng phải của ai khác. Thứ hai, sống chủ động chính là cách mà chúng ta cần để xây dựng sự nghiệp. Không có lòng tự chủ, tự lập và độc lập thì sao có thể đặt những nền móng vững chắc xây dựng tương lai. Hơn nữa, sự chủ động để ứng phó và chuẩn bị cho mọi tình huống xấu trong cuộc sống cũng là yếu tố quan trọng làm nên thành công. Thứ ba, sống chủ động còn chính là cách mà chúng ta giành được hạnh phúc trong cuộc sống của chính bản thân mình. Ta hạnh phúc vì làm được những điều mà mình mong muốn và rồi quan sát hành trình lớn lên và trưởng thành của chính mình.
Tóm lại, sống chủ động chính là sống một cách có mục tiêu, có động lực và có ý chí phấn đấu không ngừng nghỉ.
Câu 2
Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, bao gồm cả sáng tác chữ Hán và chữ Nôm. Ở phần nào ông cũng có những tác phẩm xuất sắc. Và Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ nổi bật nhất của ông trong tập Quốc âm thi tập. Tác phẩm thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết, lòng yêu dân, yêu nước sâu nặng của Nguyễn Trãi.
Bài thơ mở đâu bằng câu thơ mang tính chất thông báo :
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Rồi có nghĩa là nhàn rỗi, thảnh thơi, từ rồi được đảo lên đầu câu, cách ngắt nhịp lạ, độc đáo 1/2/3 đã giúp nhấn mạnh hoàn cảnh, tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đối với Nguyễn Trãi suốt một đời bận bịu, lo cho dân cho nước thì đây là khoảng thời gian hiếm hoi trong cuộc đời ông được thảnh thơi, ung dung. Từ rồi kết hợp với ngày trường (ngày dài) gợi nhắc về khoảng thời gian ông lui về ở ẩn, sống cuộc đời nhàn tản, ung dung, tự tại, hòa mình với thiên nhiên. Câu thơ mở đầu đã hé lộ cho người đọc thấy tâm thế mở lòng để đón nhận mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống
Sau câu thơ mở đầu, năm câu thơ tiếp theo khung cảnh mùa hè mở ra vô cùng sinh động, đẹp đẽ, ngập tràn sức sống :
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Mùa hè được tác giả khắc họa qua hàng loạt các sự vật: hòe, thạch lựu, sen, đây đều là những loài cây đặc trưng của mùa hè. Nhưng ấn tượng hơn chính là cách Nguyễn Trãi kết hợp các sự vật tự nhiên với các động từ: hòe đùn đùn, thạch lựu phun, sen tiễn, cho thấy sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt, sự trỗi dậy của cảnh vật, tất cả đều vận động theo chiều hướng đi lên, ngày một căng tràn nhựa sống hơn. Bức tranh mùa hè còn trở nên sinh động hơn với sự kết hợp của các màu sắc: xanh, đỏ, hồng những gam màu nóng, khiến cho bức tranh thêm phần sinh động, ngập đầy sức sống. Hòa trong không gian là hương thơm đặc trưng của mùa hè, đó là hương hoa sen, hương hoa lựu, hương của vạn vật cỏ cây, cái dịu nhẹ, thanh mát của chúng hòa tan trong không khí lan tỏa vào cả lòng thi nhân.
Trong bức tranh ấy còn có âm thanh của cuộc sống con người. Tiếng lao xao chợ cá gợi lên cuộc sống đông vui, tấp nập của làng chài, đây cũng là bức tranh thu nhỏ của cuộc sống con người. Đồng thời âm thanh tiếng lao xao cũng gợi cho ta liên tưởng về thứ âm thanh từ xa vọng lại, cho thấy sự tĩnh lặng của không gian và sự mở rộng tâm hồn của lòng người để cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống xung quanh.
Dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi, bức tranh mùa hè hiện lên với những nét đặc trưng của làng cảnh Việt Nam, ở đó mọi sự vật đều căng tràn sức sống, rộn rã âm thanh, cuộc sống con người tươi vui ấm no. Đồng thời qua những câu thơ cũng cho thấy một con người có tâm hồn thư thái, thảnh thơi, tâm hồn rộng mở để lắng nghe, quan sát và cảm nhận những vẻ đẹp tinh tế nhất của cuộc sống.
Trong những giây phút đắm say, hòa mình cùng nhịp sống thiên nhiên nhưng Nguyễn Trãi vẫn mang trong mình một mơ ước, một mong mỏi lớn :
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương
Ước mơ của ông thật đẹp đẽ, cao cả, ông ước có cây đàn của vua Nghiêu vua Thuấn, đàn lên khúc ca Nam Phong để dân chúng được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc đủ đầy hơn. Mơ ước đã thể hiện tâm hồn và lí tưởng cao đẹp của Nguyễn Trãi. Suốt cuộc đời ông luôn lo cho dân, cho nước, đây là tâm sự đã được ông thể hiện trong nhiều bài thơ :
Bui một tấm lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng
Tác phẩm là một sự sáng tạo trong thể thơ: thất ngôn xen lục ngôn. Ngôn ngữ tài hoa, phong phú, sử dụng những động từ mạnh, các từ láy, tượng thanh thành công để miêu tả thiên nhiên và cuộc sống con người. Tiết tấu bài thơ đa dạng, ngắt nhịp độc đáo, khiến bài thơ trở nên hấp dẫn, thú vị hơn.
Bài thơ đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên cảnh ngày hè phong phú, đa dạng, sinh động tràn đầy sức sống. Qua bài thơ ta còn thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi: yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có một tâm hồn thi sĩ và đặc biệt có một tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc.
Câu 1 văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
câu2 hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc,thanh cao của tác giả: mai, cuốc, cần câu, măng trúc, giá, hề sen,ao
Câu3 biện pháp tu từ: liệt kê: một mai, một cuốc; một cần câu.Tác dụng: tạo nhịp điệu đều đặn, chậm rãi. Gợi tả cuộc sống giản dị,thanh bạch. Nhấn mạnh sự tự do, phóng khoáng của con người. Tạo đối lập với cuộc sống Xô Bồ, bon chen
Câu 4. Sử dụng phép đối: dại><khôn, nơi vắng vẻ >< chốn lao xao cho thấy được sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường. Ông cho rằng nơi vắng vẻ là nơi thôn quê yên bình ở đó không còn bon chen chốn quan trường, đây mới thực là cuộc sống. Cách xưng hô"ta","người"=> Hai vế tương phản làm nổi bật ý nghĩa, nhấn mạnh phương châm, quan niệm sống của tác giả khác với thông thường. Đồng muốn ngầm ý phê phán thói đời, thói người, và thể hiện cái cao ngạo của kẻ sĩ.
Câu 5. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người học bác Uyên thâm, đã từng lăn lộn chốn quan trường, đã hiểu quy luật biến dịch của cuộc đời, cũng hiểu danh lợi là phù du, do đó ông đã tìm đến cuộc sống tĩnh lặng cho tâm hồn, hòa nhập cùng thiên nhiên xem Phú quý như một giấc chiêm bao, một giấc mộng phù du hư ảo. Đó mới chính là cuộc sống của một nhân cách lớn, một nhà trí tuệ lớn.