LẠI NHƯ MAI
Giới thiệu về bản thân
Câu 3:
Phép tu từ điệp cấu trúc:" Mỗi.. đều.."
Tác dụng: + Tạo nên sự nhấn mạnh đối lập giữa hiện tại tươi đẹp và mất mát đau thương.
+ Tạo nhịp điệu mạnh mẽ, cảm xúc dồn dập, gây ấn tượng với người đọc
+ Thể hiện niềm tự hào, ngợi ca đất nước của tác giả
Câu 1: thể thơ: tự do
Dấu hiệu: Bố cục bài thơ, số chữ trong một dòng thơ và số dòng thơ không giới hạn, tuân theo quy luật nhất định
Câu 2: thể hiện cảm xúc ngợi ca, tự hào về đất nước
Đó là sự xót xa, đồng cảm của nhà thơ về một đất nước phải hứng chịu bom đạn, gian khổ trong quá khứ; nhưng vô cùng anh dũng để rồi vượt lên đau thương, hồi sinh và chuyển mình một cách phi thường
Câu 4:
+ Theo em, vị ngọt đó là vị ngọt của độc lập tự do, của hòa bình
+ Vị ngọt đó có được là từ những công lao của ông cha cha, đánh đổi bằng những sự hy sinh xương máu của những thế hệ đã nằm xuống để đổi lấy trái ngọt hòa bình, vươn mình và phá triển như hiện nay
Câu 5:
Đoạn trích trong bài thơ " Đất nước " của Bằng Việt đã để lại trong độc giả suy nghĩ sâu sắc về lòng yêu nước. Mỗi người Việt Nam chúng ta đều có trong mình nét đẹp truyền thống của dân tộc: lòng yêu nước. Tình yêu nước xuất hiện ở mọi nơi trong ý thức, hành động hàng ngày của mỗi người: trong thời chiến, tình yêu nước đầy sức sống và mãnh liệt thể hiện qua nhũng cuộc kháng chiến và sự hy sinh anh dũng để bảo vệ độc lập dân tộc; đến thời bình, thế hệ trẻ lại cùng nhau học hỏi, lao động sáng tạo để đưa đất nước vươn tới kỉ nguyên mới. Có thể nói, lòng yêu nước của thế hệ trươc được truyền qua thế hệ sau, tạ thành sợi dây kết nối của "con cháu Lạc Hồng", giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: " Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta."
Câu 2:
Lịch sử là dòng chảy không ngừng của thời gian, ghi lại những sự kiện đã qua, những bước thăng trầm của một dân tộc và của nhân loại. Thế nhưng, thực tế cho thấy nhiều người trong chúng ta thường thờ ơ với những bài giảng lịch sử khô khan, đầy mốc thời gian và sự kiện. Ngược lại, ta lại dễ dàng xúc động, thậm chí rơi nước mắt trước những con người đã làm nên lịch sử. Chính vì vậy, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã nêu lên một suy ngẫm sâu sắc về cách con người tiếp nhận và cảm nhận lịch sử.Trước hết, cần hiểu rằng những bài giảng lịch sử trong sách vở thường được trình bày dưới dạng hệ thống hóa sự kiện, con số, ngày tháng. Cách tiếp cận này giúp người học nắm được kiến thức cơ bản nhưng lại thiếu đi hơi thở của cuộc sống và cảm xúc con người. Vì thế, nhiều học sinh cảm thấy lịch sử khô cứng, khó nhớ, khó tạo được sự rung động trong tâm hồn. Không phải lịch sử nhàm chán, mà là cách truyền tải lịch sử chưa chạm được đến trái tim người học.Ngược lại, khi lịch sử được kể thông qua số phận và câu chuyện của những con người cụ thể, cảm xúc trong ta lập tức được đánh thức. Đó là hình ảnh những người lính sẵn sàng hy sinh tuổi xuân nơi chiến trường, là những bà mẹ tiễn con ra trận với nước mắt lặng thầm, là những anh hùng ngã xuống để đất nước được độc lập, tự do. Chính những con người bằng xương bằng thịt ấy đã khiến lịch sử trở nên sống động, gần gũi và lay động lòng người. Ta xúc động không chỉ vì chiến thắng hay thất bại, mà vì những mất mát, đau thương và lý tưởng cao đẹp mà con người đã mang theo trong hành trình làm nên lịch sử.Hơn thế nữa, con người chính là trung tâm của lịch sử. Mọi sự kiện đều bắt nguồn từ hành động, lựa chọn và khát vọng của con người. Khi ta hiểu được nỗi đau, niềm tin, sự hy sinh của họ, ta mới thấu cảm được giá trị thật sự của lịch sử. Sự xúc động ấy không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời, mà còn khơi dậy trong ta lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm và niềm tự hào dân tộc.Tuy nhiên, ý kiến trên không có nghĩa là phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử. Vấn đề đặt ra là cần đổi mới cách dạy và học lịch sử, gắn kiến thức với câu chuyện con người, với trải nghiệm và cảm xúc. Khi lịch sử được kể bằng trái tim, người học sẽ không chỉ “biết” lịch sử mà còn “cảm” được lịch sử.Tóm lại, chúng ta có thể không dễ xúc động trước những trang sách ghi chép sự kiện, nhưng luôn rung động trước những con người đã sống, đã chiến đấu và đã hy sinh để làm nên lịch sử. Chính sự xúc động ấy giúp lịch sử trở thành ký ức sống động, là hành trang tinh thần để mỗi thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục viết tiếp những trang sử mới cho dân tộc.
Câu 1:
Trong văn bản Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, mang ý nghĩa sâu sắc. Đất nước không được cảm nhận qua những khái niệm trừu tượng mà hiện ra từ những hình ảnh rất đời thường: con đường, nhịp cầu, lớp học, áo cưới, những bàn tay lao động. Đó là đất nước của nhân dân, của những con người bình dị đã sống, chiến đấu và hy sinh trong chiến tranh. Đặc biệt, hình tượng đất nước còn gắn liền với những mất mát đau thương do bom đạn gây ra, nhưng từ trong tàn phá ấy, con người vẫn kiên cường đứng lên, dựng xây cuộc sống mới. Đất nước vì thế mang vẻ đẹp của sức sống bền bỉ, của sự hồi sinh mạnh mẽ sau chiến tranh. Không chỉ là quá khứ gian khổ, đất nước còn là hiện tại và tương lai, nơi các thế hệ tiếp nối truyền cho nhau “sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ”. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với những con người đã làm nên lịch sử dân tộc, đồng thời khơi gợi ở người đọc ý thức trách nhiệm trong việc trân trọng hòa bình và xây dựng đất nước hôm nay.