VŨ QUỐC VIỆT
Giới thiệu về bản thân
Ngay sau khi được tin mẹ bị lạc, cô bực tức hỏi mọi người trong gia đình sao không có ai ra ga tàu điện ngầm Seoul đón bố mẹ.
“Còn cô đã ở đâu?”
“Tôi ư?” Cô mím chặt môi. Tận bốn ngày sau khi mẹ bị lạc cô mới biết tin. Mọi người trong gia đình cô đổ lỗi cho nhau về chuyện mẹ bị lạc nhưng ai cũng cảm thấy day dứt trong lòng.
Rời khỏi nhà anh cả, cô bắt tàu điện ngầm về nhà nhưng rồi lại xuống ở ga Seoul, nơi mẹ biến mất. Trong nhà ga người đông như nêm, họ chen lấn va quệt vào cô khi cô tìm đường đi tới chỗ mẹ bị lạc. Chắc mẹ cô cũng bị lạc trong tình trạng hỗn loạn như thế này. Mọi người xô đẩy cô khi cô đứng tại nơi mẹ đã tuột mất bàn tay bố. Không ai nói một lời xin lỗi. Có lẽ mọi người đã ào ạt đi qua như thế trong khi mẹ cô đứng đấy, không biết phải làm gì.
Người ta có thể lật lại hồi ức được bao xa? Hồi ức về mẹ thì sao?
Ngay sau khi được tin mẹ bị lạc, cô bực tức hỏi mọi người trong gia đình sao không có ai ra ga tàu điện ngầm Seoul đón bố mẹ.
“Còn cô đã ở đâu?”
“Tôi ư?” Cô mím chặt môi. Tận bốn ngày sau khi mẹ bị lạc cô mới biết tin. Mọi người trong gia đình cô đổ lỗi cho nhau về chuyện mẹ bị lạc nhưng ai cũng cảm thấy day dứt trong lòng.
Rời khỏi nhà anh cả, cô bắt tàu điện ngầm về nhà nhưng rồi lại xuống ở ga Seoul, nơi mẹ biến mất. Trong nhà ga người đông như nêm, họ chen lấn va quệt vào cô khi cô tìm đường đi tới chỗ mẹ bị lạc. Chắc mẹ cô cũng bị lạc trong tình trạng hỗn loạn như thế này. Mọi người xô đẩy cô khi cô đứng tại nơi mẹ đã tuột mất bàn tay bố. Không ai nói một lời xin lỗi. Có lẽ mọi người đã ào ạt đi qua như thế trong khi mẹ cô đứng đấy, không biết phải làm gì.
Người ta có thể lật lại hồi ức được bao xa? Hồi ức về mẹ thì sao?
Câu 1. (2 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng đất nước trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau: Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.
Câu 1: Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2: Đoạn thơ trên thể hiện cảm xúc gì của nhân vật trữ tình?
Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:
Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp Một
Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi,
Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới
Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi!
Câu 4: Theo em, “vị ngọt” trong câu thơ cuối của đoạn trích là vị của điều gì? Vị ngọt đó có được từ đâu?
Câu 5: Từ nội dung của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về ý nghĩ của lòng yêu nước.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là nghị luận (kết hợp với biểu cảm). Câu 2: Đoạn (5) (thực chất là đoạn văn được đánh số trong ngữ cảnh đề bài) sử dụng thao tác lập luận phân tích. → Tác dụng: Thao tác phân tích giúp tác giả làm rõ thực trạng đáng lo ngại: con người, đặc biệt là người lớn, chưa quan tâm đúng mức đến đời sống tinh thần, những giấc mơ và khát vọng của trẻ em cũng như của chính mình. Qua đó, lập luận trở nên cụ thể, thuyết phục và dẫn dắt người đọc đến nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề. Câu 3: Tác giả cho rằng “chúng ta thực sự là những kẻ nghèo đói” vì con người đã đánh mất những giấc mơ, khát vọng và đời sống tinh thần phong phú. Dù có thể không nghèo về vật chất, nhưng khi “xoè bàn tay của tâm hồn” mà không còn “một hạt giống nào của giấc mơ”, con người trở nên trống rỗng, lạc hướng và nghèo nàn về ý nghĩa sống. Đó là sự nghèo đói tinh thần – một dạng nghèo đói sâu sắc và đáng sợ hơn cả thiếu thốn vật chất. Câu 4: Từ đoạn (11), có thể nêu một số cách khả thi để chữa chạy cho “những cơn đau ốm tâm hồn” như sau: Quan tâm đúng mức đến đời sống tinh thần của con người, đặc biệt là trẻ em, không chỉ chăm lo sức khỏe thể chất. Lắng nghe, thấu hiểu cảm xúc, suy nghĩ và ước mơ của trẻ, tạo không gian an toàn để các em được bộc lộ bản thân. Gieo “hạt giống của giấc mơ” thông qua giáo dục nhân văn, nghệ thuật, sách vở, sự động viên và truyền cảm hứng. Người lớn cần sống có ước mơ, có lý tưởng, bởi chỉ khi chính mình không “nghèo đói tinh thần” thì mới có thể nâng đỡ, chữa lành tâm hồn người khác.
Câu 1. (2 điểm) Trong đoạn trích, diễn biến tâm lí của ông giáo Thứ được Nam Cao khắc họa tinh tế, giàu chiều sâu, qua đó làm nổi bật những phẩm chất đáng quý của nhân vật. Ban đầu, Thứ rơi vào trạng thái ngỡ ngàng, day dứt khi nhận ra phần cơm dành cho mình là “vô lý”, bởi trong gia đình có quá nhiều người cần ăn hơn anh. Từ sự ngạc nhiên ấy, tâm trạng Thứ chuyển sang xót xa, tự trách và suy nghĩ miên man về cảnh đời bất công, nơi những kẻ chịu khổ thì khổ mãi, còn người hưởng thụ lại không đáng hưởng. Cao trào tâm lí được đẩy lên khi Thứ muốn nhường bát cơm cho bà, cho mẹ, cho vợ con và các em nhưng bất lực vì không ai dám nhận. Cuối cùng, Thứ rơi vào nỗi đau nghẹn ngào: vừa ăn vừa khóc, miếng cơm trở nên nặng nề, thấm đẫm tủi cực. Qua diễn biến tâm lí ấy, ông giáo Thứ hiện lên là một con người giàu lòng nhân ái, sống công bằng, biết yêu thương, giàu tự trọng nhưng cũng đầy bi kịch trong cảnh nghèo đói. Đây chính là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức nghèo lương thiện trong sáng tác Nam Cao. --- Câu 2. (4 điểm) Chiến dịch “Turn your back” của Dove với thông điệp “Vẻ đẹp là không có chuẩn mực” đã chạm đến một vấn đề rất thời sự của con người hiện đại: áp lực ngoại hình và sự lệ thuộc vào các hiệu ứng chỉnh sửa khuôn mặt bằng trí tuệ nhân tạo. Trong một thế giới mà mạng xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ, con người dễ bị cuốn vào những hình ảnh “hoàn hảo” được tạo ra bởi công nghệ, từ đó dần đánh mất sự tự tin và tình yêu dành cho chính bản thân mình. Thông điệp của Dove mang ý nghĩa thức tỉnh sâu sắc. Khi vẻ đẹp bị đóng khung trong những tiêu chuẩn cứng nhắc như làn da không tì vết, khuôn mặt V-line hay thân hình lý tưởng, rất nhiều người – đặc biệt là phụ nữ – cảm thấy tự ti, mặc cảm và luôn muốn “chỉnh sửa” bản thân để được công nhận. Dove khẳng định rằng chính những nét riêng, thậm chí là khiếm khuyết, mới làm nên vẻ đẹp chân thực và độc nhất của mỗi con người. Không ai cần phải trở thành bản sao của bất kì ai hay của một “chuẩn mực ảo” nào để được xem là đẹp. Bên cạnh đó, chiến dịch còn gửi gắm thông điệp nhân văn về sự tự do và tự trọng. Khi “quay lưng lại” với các bộ lọc AI, con người học cách đối diện với chính mình, chấp nhận bản thân như vốn có. Đó là hành trình khó khăn nhưng cần thiết để nuôi dưỡng sự tự tin và sức khỏe tinh thần. Một xã hội chỉ thực sự lành mạnh khi con người không bị đánh giá chủ yếu qua ngoại hình, mà qua nhân cách, trí tuệ và giá trị sống. Với giới trẻ hôm nay, thông điệp của Dove càng trở nên ý nghĩa. Thay vì chạy theo những hình ảnh hào nhoáng trên mạng xã hội, mỗi người cần học cách yêu thương chính mình, trân trọng sự khác biệt và không ngừng hoàn thiện bản thân từ bên trong. Vẻ đẹp không nằm ở sự hoàn hảo nhân tạo, mà ở sự chân thật và tự tin. Tóm lại, “Vẻ đẹp là không có chuẩn mực” không chỉ là một khẩu hiệu quảng cáo mà là một lời nhắn nhủ sâu sắc về cách con người nhìn nhận bản thân và người khác. Khi biết yêu cái đẹp chân thực của chính mình, con người sẽ sống hạnh phúc, tự do và nhân ái hơn trong một thế giới nhiều áp lực như hôm nay.
Câu 1. (2 điểm) Trong đoạn trích, diễn biến tâm lí của ông giáo Thứ được Nam Cao khắc họa tinh tế, giàu chiều sâu, qua đó làm nổi bật những phẩm chất đáng quý của nhân vật. Ban đầu, Thứ rơi vào trạng thái ngỡ ngàng, day dứt khi nhận ra phần cơm dành cho mình là “vô lý”, bởi trong gia đình có quá nhiều người cần ăn hơn anh. Từ sự ngạc nhiên ấy, tâm trạng Thứ chuyển sang xót xa, tự trách và suy nghĩ miên man về cảnh đời bất công, nơi những kẻ chịu khổ thì khổ mãi, còn người hưởng thụ lại không đáng hưởng. Cao trào tâm lí được đẩy lên khi Thứ muốn nhường bát cơm cho bà, cho mẹ, cho vợ con và các em nhưng bất lực vì không ai dám nhận. Cuối cùng, Thứ rơi vào nỗi đau nghẹn ngào: vừa ăn vừa khóc, miếng cơm trở nên nặng nề, thấm đẫm tủi cực. Qua diễn biến tâm lí ấy, ông giáo Thứ hiện lên là một con người giàu lòng nhân ái, sống công bằng, biết yêu thương, giàu tự trọng nhưng cũng đầy bi kịch trong cảnh nghèo đói. Đây chính là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức nghèo lương thiện trong sáng tác Nam Cao. --- Câu 2. (4 điểm) Chiến dịch “Turn your back” của Dove với thông điệp “Vẻ đẹp là không có chuẩn mực” đã chạm đến một vấn đề rất thời sự của con người hiện đại: áp lực ngoại hình và sự lệ thuộc vào các hiệu ứng chỉnh sửa khuôn mặt bằng trí tuệ nhân tạo. Trong một thế giới mà mạng xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ, con người dễ bị cuốn vào những hình ảnh “hoàn hảo” được tạo ra bởi công nghệ, từ đó dần đánh mất sự tự tin và tình yêu dành cho chính bản thân mình. Thông điệp của Dove mang ý nghĩa thức tỉnh sâu sắc. Khi vẻ đẹp bị đóng khung trong những tiêu chuẩn cứng nhắc như làn da không tì vết, khuôn mặt V-line hay thân hình lý tưởng, rất nhiều người – đặc biệt là phụ nữ – cảm thấy tự ti, mặc cảm và luôn muốn “chỉnh sửa” bản thân để được công nhận. Dove khẳng định rằng chính những nét riêng, thậm chí là khiếm khuyết, mới làm nên vẻ đẹp chân thực và độc nhất của mỗi con người. Không ai cần phải trở thành bản sao của bất kì ai hay của một “chuẩn mực ảo” nào để được xem là đẹp. Bên cạnh đó, chiến dịch còn gửi gắm thông điệp nhân văn về sự tự do và tự trọng. Khi “quay lưng lại” với các bộ lọc AI, con người học cách đối diện với chính mình, chấp nhận bản thân như vốn có. Đó là hành trình khó khăn nhưng cần thiết để nuôi dưỡng sự tự tin và sức khỏe tinh thần. Một xã hội chỉ thực sự lành mạnh khi con người không bị đánh giá chủ yếu qua ngoại hình, mà qua nhân cách, trí tuệ và giá trị sống. Với giới trẻ hôm nay, thông điệp của Dove càng trở nên ý nghĩa. Thay vì chạy theo những hình ảnh hào nhoáng trên mạng xã hội, mỗi người cần học cách yêu thương chính mình, trân trọng sự khác biệt và không ngừng hoàn thiện bản thân từ bên trong. Vẻ đẹp không nằm ở sự hoàn hảo nhân tạo, mà ở sự chân thật và tự tin. Tóm lại, “Vẻ đẹp là không có chuẩn mực” không chỉ là một khẩu hiệu quảng cáo mà là một lời nhắn nhủ sâu sắc về cách con người nhìn nhận bản thân và người khác. Khi biết yêu cái đẹp chân thực của chính mình, con người sẽ sống hạnh phúc, tự do và nhân ái hơn trong một thế giới nhiều áp lực như hôm nay.
Câu 1:
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:
Bài thơ thể hiện tâm trạng lo âu, bất an, sợ hãi trước sự mong manh của hạnh phúc và tình yêu, đồng thời chan chứa nỗi yêu thương sâu nặng, tha thiết của nhân vật trữ tình trước nguy cơ đổi thay của thời gian, hoàn cảnh và lòng người.
Câu 3:
Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng biện pháp nhân hoá qua hình ảnh “Mưa cướp đi ánh sáng của ngày”. Mưa được gán cho hành động “cướp đi”, vốn là hành động của con người, nhằm nhấn mạnh sức tàn phá của mưa không chỉ với cảnh vật mà còn với đời sống tinh thần. Mưa làm cho con đường trở nên “chập choạng”, kéo theo “trăm mối lo khó gỡ”, khiến con người “thức chẳng yên”, “dở dang giấc ngủ”. Qua đó, mưa trở thành biểu tượng cho những biến cố, bất trắc của cuộc đời có thể làm tan vỡ sự bình yên và khiến “hạnh phúc con người mong manh” như “mưa sa”. Biện pháp tu từ này giúp cảm xúc lo lắng, bất an được thể hiện sâu sắc và ám ảnh hơn.
Câu 4:
Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần giữ tâm thế bình tĩnh, chủ động và tích cực. Thay vì sợ hãi hay né tránh, ta cần chuẩn bị cho mình bản lĩnh, niềm tin và khả năng thích ứng trước những thay đổi. Đồng thời, con người cũng cần biết trân trọng hiện tại, sống chân thành với những giá trị tốt đẹp, yêu thương và trách nhiệm. Chính sự tỉnh táo, dũng cảm và nhân ái sẽ giúp con người vững vàng bước qua những bất định của tương lai.
Câu 1:
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:
Bài thơ thể hiện tâm trạng lo âu, bất an, sợ hãi trước sự mong manh của hạnh phúc và tình yêu, đồng thời chan chứa nỗi yêu thương sâu nặng, tha thiết của nhân vật trữ tình trước nguy cơ đổi thay của thời gian, hoàn cảnh và lòng người.
Câu 3:
Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng biện pháp nhân hoá qua hình ảnh “Mưa cướp đi ánh sáng của ngày”. Mưa được gán cho hành động “cướp đi”, vốn là hành động của con người, nhằm nhấn mạnh sức tàn phá của mưa không chỉ với cảnh vật mà còn với đời sống tinh thần. Mưa làm cho con đường trở nên “chập choạng”, kéo theo “trăm mối lo khó gỡ”, khiến con người “thức chẳng yên”, “dở dang giấc ngủ”. Qua đó, mưa trở thành biểu tượng cho những biến cố, bất trắc của cuộc đời có thể làm tan vỡ sự bình yên và khiến “hạnh phúc con người mong manh” như “mưa sa”. Biện pháp tu từ này giúp cảm xúc lo lắng, bất an được thể hiện sâu sắc và ám ảnh hơn.
Câu 4:
Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần giữ tâm thế bình tĩnh, chủ động và tích cực. Thay vì sợ hãi hay né tránh, ta cần chuẩn bị cho mình bản lĩnh, niềm tin và khả năng thích ứng trước những thay đổi. Đồng thời, con người cũng cần biết trân trọng hiện tại, sống chân thành với những giá trị tốt đẹp, yêu thương và trách nhiệm. Chính sự tỉnh táo, dũng cảm và nhân ái sẽ giúp con người vững vàng bước qua những bất định của tương lai.
❯ Phân tích bài thơ Tương tư Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám. Giữa những giọng điệu mới lạ, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được âm hưởng gần gũi với ca dao dân ca, giản dị hồn nhiên mà ngọt ngào, thắm thiết. Tương tư in trong tập Lỡ bước sang ngang, xuất bản năm 1940 tại Hà Nội. Tập thơ này đã mang lại tiếng vang cho tác giả và dấy lên trong đông đảo người đọc một phong trào thuộc thơ, yêu thơ Nguyễn Bính. Bài thơ Tương tư nói lên tâm trạng khắc khoải chờ mong của một chàng trai đang yêu với tình yêu đơn phương không được đáp đền. Mối tương tư ấy được đặt vào khung cảnh nông thôn với dáng dấp một mối tình chân chất như trong ca dao và mang hương vị đồng quê mộc mạc. Tâm lí của những kẻ đang yêu là luôn muốn được gần gũi bên nhau. Bởi vậy, một ngày không gặp dài bằng ba thu. Những người đang yêu nhớ nhau mà không gặp được nhau thì sinh ra tương tư. Thường là một người thương nhớ một người mà không được đền đáp lại, trường hợp này trong văn chương mới gọi là tương tư. Lịch sử tình yêu xưa nay đã ghi nhận bao trái tim Trương Chi tan nát bởi mối hận tình. Chàng trai trong bài thơ này cũng tương tư nhưng có phần nhẹ nhàng hơn bởi tình yêu chưa đặt được cơ sở rạch ròi. Bốn câu thơ đầu bày tỏ nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ đang yêu. Chàng trai không giấu là mình tương tư: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người. Nắng mưa là bệnh của giời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng Mối tương tư ấy được thể hiện bằng những hình thức quen thuộc trong ca dao xưa, ở đây, lối hoán dụ nghệ thuật, thủ pháp nhân hóa và thành ngữ dân gian kết hợp với nhau hài hòa, tự nhiên: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, rồi bệnh của giời, bệnh của tôi. Dường như đất trời cũng chia sẻ nhớ mong, dự phần tương tư với con người. Tôi yêu nàng, tôi tương tư, nào có khác chi trời lúc gió lúc mưa. Tâm trạng tương tư của chàng trai cũng tự nhiên như quy luật của trời đất vậy. “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện cùng với những “cái tôi” khác trong Thơ mới lúc bấy giờ; có điều nó mang màu sắc độc đáo bởi nó thiết tha, chân thành, gần gũi với cuộc đời bình dị của người dân quê. Nó có thôn Đông, thôn Đoài, có chín nhớ mười mong, có trầu, có cau. Tưởng như một đôi trai gái đồng quê mới bén duyên nhau bên hàng rào dâm bụt, bên giậu mồng tơi, vừa rõ ràng mà vừa mơ hồ. Nhân vật tôi thì đã rõ, còn nhân vật nàng thì vẫn thấp thoáng, vu vơ. Nếu ở khổ thơ đầu, nhà thơ nói thật là mình đang tương tư thì đến ba khổ thơ sau, nhà thơ trách người mình yêu sao quá hững hờ: Hai thôn chung lại một làng, Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng. Bảo rằng cách trở đò giang, Không sang là chẳng đường sang đã đành. Nhưng đây cách một đầu đình, Có xa xôi mấy mà tình xa xôi? Tương tư thức mấy đêm rồi, Biết cho ai, hỏi ai người biết cho? Bao giờ bến mới gặp đò? Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Vậy là chàng trai đang nhớ thật, đang tương tự thật, nhưng khổ tâm ở chỗ nhớ thương có đi mà không có lại. m điệu thơ lục bát uyển chuyển, mượt mà rất hợp với cách thể hiện dung dị: nào là hai bên chung lại một làng, bên ấy, bên này; nào là Cách nhau có một đầu đình; Có xa xôi mấy mà tình xa xôi. Trách móc rồi tự bộc bạch là mình Tương tư thức mấy đêm rồi và ước mong: Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Trách, hỏi liên tiếp, dồn dập mà người ta vẫn hững hờ, xa xôi. Ở đời có những tình yêu như thế bởi đối tượng mình yêu đến tương tư kia lại mơ hồ, vô định. Trách và hỏi đều rơi vào khoảng trống khiến cho nỗi tương tư càng trở nên xót xa, vô vọng. Vẫn là bên ấy, bên này cách biệt. Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nay đã thành cây lá vàng. Thời gian cứ lạnh lùng trôi mà bên ấy vẫn bằn bặt bóng chim tăm cá. Hỏi làm sao bên này chẳng chờ đợi đến hao mòn, tàn úa? Mơ làm chi đến chuyện bao nhiêu ngói bấy nhiêu tình hay chuyện tam tứ núi, ngũ lục sông? Thế là đã rõ: Tất cả đều vu vơ, chỉ có một điều rất thật là nỗi buồn da diết của chàng trai đang tương tư. Yêu người mà chẳng được người yêu, nhớ mong mà chẳng gặp. Một mối tình như thế sẽ kết thúc ra sao? Chàng trai trở lại với ước mơ thầm kín về một cuộc hôn nhân tốt đẹp cùng nỗi băn khoăn, khắc khoải của lòng mình: Nhà em có một giàn giầu, Nhà anh có một hàng cau liên phòng. Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Đến lúc này thì không cần vòng vo, ẩn giấu chi nữa, chàng trai không còn xưng tôi mà mạnh dạn xưng là anh và gọi nàng bằng em. Cũng chẳng cẩn bóng gió xa xôi: Bao giờ bến mới gặp đò hay Tương tư thức mấy đêm rồi mà nói thẳng đến chuyện hôn nhân: Nhà em có một giàn giầu, Nhà anh có một hàng cau liên phòng. Thử hình dung cau ấy, trầu này mà kết thành một mâm xinh đẹp thì thật tà đúng nghi lễ cưới xin. Nhưng trớ trêu làm sao: trầu thì ở nhà em, cau lại ở nhà anh. Em ở thôn Đông, anh ở thôn Đoài: Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông. Vậy: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? Như vậy là tương tư chưa đi quá nỗi nhớ và nỗi nhớ vẫn chỉ là một bên, một chiều. Tuy có nhích lên một chút cho thân mật hơn trong cách xưng hô anh và em, nhưng rồi lại quay về nơi ẩn náu cũ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, nghĩa là chẳng tiến lên được một bước nào. Mon men tới chuyện trầu cau nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi buồn bởi nhớ nhung người ta mà chẳng được người ta đền đáp lại. Cho nên đành chấm dứt nỗi sầu bằng một câu hỏi tu từ: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? “Cái tôi” hiện đại bộc lộ một cách tự nhiên dưới hình thức quen thuộc của ca dao xưa: thôn Đoài, thôn Đông… và nhờ đó mà nỗi đau dường như vợi bớt. Cho nên nỗi tương tư cũng mới chỉ đến mức chín nhớ mười mong hoặc thức mấy đêm rồi, kể cả sự vô vọng dường như kéo dài dằng dặc trong không gian và thời gian kia cũng chỉ là chuyện bến chưa gặp đò, hoa chưa gặp bướm mà thôi. Bài thơ là một mảnh hồn của nhà thơ, là “cái tôi”mang đậm phong cách Nguyễn Bính: giản dị, hồn nhiên, dân dã mà không kém phần thơ mộng, lãng mạn. Nhà thơ nói chuyện tương tư, kì thực là nói tới khao khát tình yêu và hạnh phúc. Qua đó khẳng định “cái tôi cá nhân” với quyền được sống đúng nghĩa của nó. Tương tư là một trong nhiều dẫn chứng chứng minh cho nhận xét tinh tế của Tô Hoài: Nguyễn Bính là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê.