NGUYỄN THỊ ANH THƯ

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN THỊ ANH THƯ
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: (2 điểm):

          Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Chi-hon trong đoạn trích.

Câu 2: (4 điểm):

          Viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tầm quan trọng của kí ức về những người thân yêu trong cuộc đời mỗi người.

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2: Bài thơ trên thể hiện cảm xúc gì của nhân vật trữ tình?

Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Mưa cướp đi ánh sáng của ngày

Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ

Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ

Hạnh phúc con người mong manh mưa sa.

Câu 4: Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần có cách cư xử như thế nào?

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2

Câu 1. (2 điểm) 

          Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng mưa trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa của Lưu Quang Vũ.

Câu 2. (4 điểm)

          Howard Thurman đã phát biểu như sau: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh.”.

(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội nhà văn, 2015, tr. 204)

Viết bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em về những điều làm con người tỉnh thức.

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2: Bài thơ trên thể hiện cảm xúc gì của nhân vật trữ tình?

Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Mưa cướp đi ánh sáng của ngày

Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ

Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ

Hạnh phúc con người mong manh mưa sa.

Câu 4: Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần có cách cư xử như thế nào?

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2

Câu 1. (2 điểm) 

          Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng mưa trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa của Lưu Quang Vũ.

Câu 2. (4 điểm)

          Howard Thurman đã phát biểu như sau: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh.”.

(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội nhà văn, 2015, tr. 204)

Viết bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em về những điều làm con người tỉnh thức.

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2: Bài thơ trên thể hiện cảm xúc gì của nhân vật trữ tình?

Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Mưa cướp đi ánh sáng của ngày

Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ

Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ

Hạnh phúc con người mong manh mưa sa.

Câu 4: Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần có cách cư xử như thế nào?

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2

Câu 1. (2 điểm) 

          Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng mưa trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa của Lưu Quang Vũ.

Câu 2. (4 điểm)

          Howard Thurman đã phát biểu như sau: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh.”.

(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội nhà văn, 2015, tr. 204)

Viết bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em về những điều làm con người tỉnh thức.

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2: Bài thơ trên thể hiện cảm xúc gì của nhân vật trữ tình?

Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Mưa cướp đi ánh sáng của ngày

Đường chập choạng trăm mối lo khó gỡ

Thức chẳng yên dở dang giấc ngủ

Hạnh phúc con người mong manh mưa sa.

Câu 4: Khi đối diện với một tương lai tràn ngập những điều chưa biết, con người cần có cách cư xử như thế nào?

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2

Câu 1. (2 điểm) 

          Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng mưa trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa của Lưu Quang Vũ.

Câu 2. (4 điểm)

          Howard Thurman đã phát biểu như sau: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh.”.

(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội nhà văn, 2015, tr. 204)

Viết bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em về những điều làm con người tỉnh thức.


Câu 1. (2 điểm)



Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)


Trong đoạn trích Sống mòn, diễn biến tâm lý của nhân vật ông giáo Thứ được khắc họa tinh tế, qua đó làm nổi bật những phẩm chất đáng trân trọng của một người trí thức nghèo. Ban đầu, Thứ mang tâm trạng chán chường, bế tắc trước cuộc sống quẩn quanh bởi cơm áo và trách nhiệm gia đình. Khi đối diện với bữa cơm tối, tâm trạng ấy dần chuyển thành sự day dứt, xót xa khi anh nhận ra mình được ăn trong khi bà, mẹ, vợ và các em đều nhịn đói. Cảm giác “vô lý”, “thẹn thùng” khiến Thứ không thể ăn một cách thanh thản, để rồi nước mắt ứa ra trong lặng lẽ. Những giọt nước mắt ấy là kết tinh của tình thương sâu nặng, của lương tri và ý thức công bằng trong anh. Qua diễn biến tâm lý đó, ông giáo Thứ hiện lên là người giàu lòng nhân ái, biết yêu thương, biết đau nỗi đau của người khác, đồng thời là một trí thức có ý thức đạo đức cao nhưng bị hoàn cảnh nghiệt ngã vùi dập, sống trong bi kịch tinh thần triền miên.





Câu 2. (4 điểm)



Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)


Trong xã hội hiện đại, khi mạng xã hội và công nghệ chỉnh sửa hình ảnh phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng bị cuốn vào những “chuẩn mực vẻ đẹp” phi thực tế. Gương mặt phải thon gọn, làn da phải không tì vết, vóc dáng phải hoàn hảo – tất cả dường như trở thành thước đo giá trị con người. Trước thực trạng đó, chiến dịch “Turn your back” của Dove đã mang đến một thông điệp nhân văn và mạnh mẽ: vẻ đẹp là không có chuẩn mực, và chính sự không hoàn hảo mới làm nên giá trị đích thực của mỗi con người.


Thông điệp của Dove trước hết là lời kêu gọi con người dũng cảm quay lưng lại với những hiệu ứng chỉnh sửa AI – những “lớp mặt nạ” khiến ta xa rời bản thân thật. Khi lạm dụng các bộ lọc làm đẹp, con người dễ rơi vào cảm giác tự ti, so sánh, thậm chí phủ nhận chính diện mạo tự nhiên của mình. Điều đáng buồn là càng chỉnh sửa, ta lại càng cảm thấy mình “chưa đủ đẹp”, từ đó đánh mất sự tự tin và niềm yêu thương bản thân. Dove đã chỉ ra rằng, vấn đề không nằm ở khuôn mặt thật của chúng ta, mà nằm ở những chuẩn mực ảo đang bị áp đặt lên con người.


Bên cạnh đó, chiến dịch còn góp phần khẳng định vẻ đẹp chân thực của con người. Mỗi nếp nhăn, mỗi khuyết điểm trên gương mặt đều là dấu ấn của thời gian, của trải nghiệm sống và cảm xúc cá nhân. Một nụ cười không hoàn hảo nhưng chân thành, một làn da không láng mịn nhưng khỏe mạnh – tất cả đều mang giá trị riêng mà không một hiệu ứng AI nào có thể thay thế. Khi con người dám xuất hiện với diện mạo thật, đó cũng là lúc họ thể hiện sự tự tin và lòng can đảm đối diện với chính mình.


Đối với giới trẻ – những người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ mạng xã hội – thông điệp của Dove càng mang ý nghĩa sâu sắc. Việc chạy theo vẻ đẹp chuẩn mực không chỉ gây áp lực tâm lý mà còn làm lệch lạc nhận thức về giá trị bản thân. Thay vì dành thời gian chỉnh sửa hình ảnh, giới trẻ cần học cách trau dồi tri thức, nhân cách và năng lực sống. Bởi vẻ đẹp bền vững nhất không nằm ở ngoại hình, mà ở sự tử tế, tự tin và bản lĩnh của con người.


Tóm lại, thông điệp “Vẻ đẹp là không có chuẩn mực” của Dove không chỉ là một chiến dịch quảng cáo, mà còn là lời thức tỉnh giàu tính nhân văn. Nó nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng bản thân, yêu thương những điều chưa hoàn hảo và sống thật với chính mình. Khi con người dám quay lưng lại với vẻ đẹp ảo, họ sẽ tiến gần hơn tới vẻ đẹp chân thực và giá trị đích thực của cuộc sống.



Câu 1. (2 điểm)



Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)


Trong đoạn trích Sống mòn, diễn biến tâm lý của nhân vật ông giáo Thứ được khắc họa tinh tế, qua đó làm nổi bật những phẩm chất đáng trân trọng của một người trí thức nghèo. Ban đầu, Thứ mang tâm trạng chán chường, bế tắc trước cuộc sống quẩn quanh bởi cơm áo và trách nhiệm gia đình. Khi đối diện với bữa cơm tối, tâm trạng ấy dần chuyển thành sự day dứt, xót xa khi anh nhận ra mình được ăn trong khi bà, mẹ, vợ và các em đều nhịn đói. Cảm giác “vô lý”, “thẹn thùng” khiến Thứ không thể ăn một cách thanh thản, để rồi nước mắt ứa ra trong lặng lẽ. Những giọt nước mắt ấy là kết tinh của tình thương sâu nặng, của lương tri và ý thức công bằng trong anh. Qua diễn biến tâm lý đó, ông giáo Thứ hiện lên là người giàu lòng nhân ái, biết yêu thương, biết đau nỗi đau của người khác, đồng thời là một trí thức có ý thức đạo đức cao nhưng bị hoàn cảnh nghiệt ngã vùi dập, sống trong bi kịch tinh thần triền miên.





Câu 2. (4 điểm)



Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)


Trong xã hội hiện đại, khi mạng xã hội và công nghệ chỉnh sửa hình ảnh phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng bị cuốn vào những “chuẩn mực vẻ đẹp” phi thực tế. Gương mặt phải thon gọn, làn da phải không tì vết, vóc dáng phải hoàn hảo – tất cả dường như trở thành thước đo giá trị con người. Trước thực trạng đó, chiến dịch “Turn your back” của Dove đã mang đến một thông điệp nhân văn và mạnh mẽ: vẻ đẹp là không có chuẩn mực, và chính sự không hoàn hảo mới làm nên giá trị đích thực của mỗi con người.


Thông điệp của Dove trước hết là lời kêu gọi con người dũng cảm quay lưng lại với những hiệu ứng chỉnh sửa AI – những “lớp mặt nạ” khiến ta xa rời bản thân thật. Khi lạm dụng các bộ lọc làm đẹp, con người dễ rơi vào cảm giác tự ti, so sánh, thậm chí phủ nhận chính diện mạo tự nhiên của mình. Điều đáng buồn là càng chỉnh sửa, ta lại càng cảm thấy mình “chưa đủ đẹp”, từ đó đánh mất sự tự tin và niềm yêu thương bản thân. Dove đã chỉ ra rằng, vấn đề không nằm ở khuôn mặt thật của chúng ta, mà nằm ở những chuẩn mực ảo đang bị áp đặt lên con người.


Bên cạnh đó, chiến dịch còn góp phần khẳng định vẻ đẹp chân thực của con người. Mỗi nếp nhăn, mỗi khuyết điểm trên gương mặt đều là dấu ấn của thời gian, của trải nghiệm sống và cảm xúc cá nhân. Một nụ cười không hoàn hảo nhưng chân thành, một làn da không láng mịn nhưng khỏe mạnh – tất cả đều mang giá trị riêng mà không một hiệu ứng AI nào có thể thay thế. Khi con người dám xuất hiện với diện mạo thật, đó cũng là lúc họ thể hiện sự tự tin và lòng can đảm đối diện với chính mình.


Đối với giới trẻ – những người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ mạng xã hội – thông điệp của Dove càng mang ý nghĩa sâu sắc. Việc chạy theo vẻ đẹp chuẩn mực không chỉ gây áp lực tâm lý mà còn làm lệch lạc nhận thức về giá trị bản thân. Thay vì dành thời gian chỉnh sửa hình ảnh, giới trẻ cần học cách trau dồi tri thức, nhân cách và năng lực sống. Bởi vẻ đẹp bền vững nhất không nằm ở ngoại hình, mà ở sự tử tế, tự tin và bản lĩnh của con người.


Tóm lại, thông điệp “Vẻ đẹp là không có chuẩn mực” của Dove không chỉ là một chiến dịch quảng cáo, mà còn là lời thức tỉnh giàu tính nhân văn. Nó nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng bản thân, yêu thương những điều chưa hoàn hảo và sống thật với chính mình. Khi con người dám quay lưng lại với vẻ đẹp ảo, họ sẽ tiến gần hơn tới vẻ đẹp chân thực và giá trị đích thực của cuộc sống.


Câu 1.

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng “y”, “Thứ”.




Câu 2.


  • Điểm nhìn: điểm nhìn trần thuật chủ yếu đặt bên trong nhân vật Thứ, theo dòng ý nghĩ, cảm xúc và nhận thức của Thứ.
  • Tác dụng:
    • Giúp người đọc thâm nhập sâu vào đời sống nội tâm nhân vật.
    • Làm nổi bật bi kịch tinh thần, nỗi đau âm thầm và sự giằng xé trong tâm hồn người trí thức nghèo.
    • Tăng tính chân thực, sức ám ảnh và giá trị nhân đạo của tác phẩm.





Câu 3.

Nước mắt của Thứ ứa ra khi ăn cơm vì:


  • Anh nhận ra nỗi bất công và vô lý trong cuộc sống: mình được ăn no trong khi bà, mẹ, vợ, con và các em đều nhịn đói.
  • Anh cảm thấy day dứt, xấu hổ, thương xót những người thân yêu đang chịu đói khổ.
  • Miếng cơm trở nên nghẹn đắng, bởi nó gắn với sự hi sinh, cam chịu và bất hạnh của cả gia đình, khiến Thứ không thể ăn một cách thanh thản.





Câu 4.

Thông qua nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao đã phản ánh:


  • Bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ: sống mòn mỏi, bế tắc, bị cơm áo gánh nặng gia đình bóp nghẹt ước mơ và nhân cách.
  • Hiện thực đói nghèo, bất công, tàn nhẫn của xã hội trước Cách mạng, nơi con người buộc phải hi sinh, nhịn nhục để tồn tại.
  • Đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc: cảm thông, trân trọng tấm lòng yêu thương, ý thức trách nhiệm và nỗi đau tinh thần của con người lương thiện.



chxjapskxnxncjcj. xlalajsxhhxhxhxc

Câu 1. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản. 

Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là gì?

Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích sau: Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!...

Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích.

Câu 5. Nêu suy nghĩ của anh/ chị về một triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản?