MAI NGUYỄN BẢO TRÂN

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của MAI NGUYỄN BẢO TRÂN
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ thuộc bài thơ Trăng hè.

2.0

 

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đoạn văn 200 chữ. HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.

0.25

 

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ thuộc bài thơ Trăng hè.

0.25

 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: 

- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

* Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.

* Thân đoạn: Triển khai thành các luận điểm để phân tích, đánh giá:

- Phông nền của bức tranh quê: Một đêm trăng nơi miền quê đồng bằng Bắc bộ (đêm vắng, ánh trăng ngân).

- Vẻ đẹp của bức tranh quê: Hình ảnh thiên nhiên hòa quyện với hình ảnh con người (màu sắc lấp lánh của ánh trăng ngân, âm thanh tiếng võng kẽo kẹt,...).

- Vẻ đẹp của bức tranh quê thanh tĩnh, bình dị, an lành, thân quen.

- Vẻ đẹp của bức tranh quê đầy thơ mộng, gợi cảm (bóng cây lả lơi bên hàng dậu, tàu cau lấp lánh ánh trăng,...).

* Kết đoạn:

- Khẳng định vẻ đẹp của bức tranh quê: Bình dị, gần gũi; cảm nhận của nhà thơ tinh tế; tình cảm yêu thương, gắn bó; ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ đặc sắc...

- Từ đó, bức tranh quê gợi lên trong lòng người đọc sự trân quý, có những phát hiện về vẻ đẹp của quê hương.

0.5

 

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

0.5

 

đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

0.25

 

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

0.25

2

Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.

4.0

 

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

0.5

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.

0.5

 

c. Đề xuất hệ thống ý phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề:

Sau đây là một hướng gợi ý:

* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.

 * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm để phân tích, đánh giá:

- Giải thích khái niệm: Sự nỗ lực hết mình là sự cố gắng hết sức, kiên trì tới cùng để vượt qua những thử thách và hoàn thành mục tiêu bản thân đặt ra.

- Trình bày vấn đề:

+ Cần phải nỗ lực hết mình để:

++ Vượt qua khó khăn thử thách, nghịch cảnh, coi đó là phép thử để tôi rèn khả năng kiên trì của bản thân.

++ Thay đổi và phát triển chính mình, khiến mình trở thành một phiên bản tốt hơn mỗi ngày.

+ Nỗ lực hết mình có ý nghĩa quan trọng:

++ Giúp con người phát hiện và khai thác tối đa tiềm năng vốn có của bản thân, cố gắng không ngừng để vượt qua mọi khó khăn.

++ Giúp con người chinh phục được những mục tiêu của cuộc đời.

++ Giúp truyền đi thông điệp về một thái độ sống tích cực: Hãy kiên trì bước về phía trước, bóng tối sẽ ở sau lưng bạn.

++ Cá nhân nỗ lực hết mình sẽ góp phần tạo ra giá trị vật chất và tinh thần, thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội.

+ Những điều cần làm để nỗ lực hết mình:

++ Tự tin để nhận ra giá trị riêng của mình.

++ Không ngừng trau dồi, tích lũy kinh nghiệm sống cho bản thân.

++ Xác định rõ mục tiêu, đam mê sẽ khiến con người con người có động lực để cố gắng, bứt phá được mọi giới hạn của bản thân.

- Mở rộng, phản biện: Nỗ lực, khao khát để thành công không có nghĩa là cố chấp theo đuổi mục tiêu xa vời hoặc đạt được thành công bằng mọi giá.

- Bài học: Nhận thức được sức mạnh của sự nỗ lực không ngừng nghỉ, phải trau dồi tri thức, tôi rèn bản lĩnh vững vàng, đủ nghị lực để không nản chí, đủ niềm tin để vững bước vào tương lai.

* Kết bài:

- Khẳng định ý chí, sự nỗ lực đến cùng là chìa khóa thành công.

- Liên hệ bản thân: Cần biết nỗ lực hết mình để theo đuổi đam mê, đạt mục tiêu, mục đích sống.

1.0

 

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Triển khai được đầy đủ các luận điểm để làm rõ vấn đề nghị luận.

- Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

1.0

 

đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong bài văn.

0.5

 

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.


1

Ngôi kể của người kể chuyện: Ngôi thứ ba.

0.5

2

Một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ:

+ Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng.

+ Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm.

+ ...

0.5

3

Nhân vật Bớt hiện lên qua đoạn trích là người:

- Có cuộc sống vất vả, nhiều lo toan: Một mình tự xoay xở công việc nhà, cố gắng hoàn thành công tác...

- Giàu tình cảm yêu thương, nhân hậu, vị tha:

+ Với mẹ: là người con hiếu thảo, rộng lượng, ứng xử phải đạo.

+ Với gia đình nhỏ: Yêu chồng, thương con...

=> Nhân vật hội tụ vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, người phụ nữ thời kháng chiến chống Mỹ.

1.0

4

Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa:

- Thể hiện sự áy náy của Bớt vì trót vô tư kể lại câu chuyện về cách đối xử đầy yêu thương của chồng chị với bé Hiên.

- Cho thấy Bớt sợ mẹ chạnh lòng nghĩ ngợi, áy náy chuyện quá khứ mẹ đã từng đối xử không công bằng với chị.

- Thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm, lo lắng của chị đối với mẹ.

1.0

5

Có thể nêu một trong các thông điệp sau:

- Đối với những bậc làm cha làm mẹ: Hãy yêu thương và đối xử công bằng với con cái.

- Đối với những người làm con: Cần phải sống đúng đạo hiếu, biết quan tâm, yêu thương, hiếu kính, chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già.

+ Với con người nói chung: Trân trọng, vun đắp tình cảm gia đình vì đó là tình cảm ấm áp, thiêng liêng, vô cùng quý giá. 

1.0


Câu 1 (khoảng 200 chữ)



Bài thơ Bàn giao của Vũ Quần Phương là lời nhắn gửi đầy xúc động của thế hệ đi trước dành cho thế hệ mai sau. Qua hình ảnh “bàn giao”, tác giả không chỉ nói về sự chuyển tiếp của thời gian mà còn trao gửi niềm tin, tình yêu thương và trách nhiệm. Người ông trong bài thơ đã gửi lại cho cháu không phải của cải vật chất mà là những giá trị tinh thần bền vững: truyền thống, kinh nghiệm sống và khát vọng vươn lên. Điều đó cho thấy sự hi sinh thầm lặng và tình cảm sâu nặng của thế hệ trước. Đồng thời, bài thơ cũng gợi lên ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp nối và phát huy những điều tốt đẹp ấy. Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, giọng điệu chân thành, tha thiết, tạo nên sự gần gũi và lay động lòng người. Bàn giao không chỉ là một bài thơ về tình cảm gia đình mà còn mang ý nghĩa rộng lớn về sự kế thừa giữa các thế hệ trong cuộc sống.





Câu 2 (khoảng 600 chữ)



Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, và trải nghiệm chính là con đường giúp tuổi trẻ trở nên ý nghĩa. Trải nghiệm được hiểu là quá trình con người trực tiếp tham gia, va chạm với thực tế để tích lũy kiến thức, kĩ năng và bài học sống. Chính nhờ trải nghiệm mà con người trưởng thành và hoàn thiện bản thân.


Trước hết, tuổi trẻ là giai đoạn con người có nhiều ước mơ, hoài bão và khát vọng khám phá. Đây là lúc chúng ta có đủ năng lượng, sự nhiệt huyết để thử sức với những điều mới mẻ. Nếu không trải nghiệm, tuổi trẻ sẽ trở nên nhạt nhòa, thiếu dấu ấn. Trải nghiệm giúp mỗi người hiểu rõ hơn về bản thân: biết mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu, từ đó định hướng tương lai một cách đúng đắn hơn. Không những vậy, những chuyến đi, những lần thử sức hay thậm chí là những thất bại đều góp phần tạo nên bản lĩnh sống.


Bên cạnh đó, trải nghiệm còn là “người thầy” quý giá. Những khó khăn, thử thách trong quá trình trải nghiệm giúp con người rèn luyện ý chí, sự kiên trì và khả năng thích nghi. Một người trẻ dám bước ra khỏi vùng an toàn sẽ học được cách đối mặt với thực tế, từ đó trưởng thành hơn từng ngày. Thất bại không phải là điều đáng sợ, mà chính là bài học giúp ta tiến bộ. Như người ta thường nói, thành công không đến từ sự dễ dàng mà được đánh đổi bằng mồ hôi và cả những lần vấp ngã.


Tuy nhiên, trải nghiệm không đồng nghĩa với việc sống liều lĩnh, bất chấp mọi giới hạn. Tuổi trẻ cần trải nghiệm một cách có suy nghĩ, có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Những hành động tiêu cực, sai trái không thể được xem là trải nghiệm đúng nghĩa. Vì vậy, mỗi người cần cân nhắc kĩ lưỡng trước khi hành động, biết chọn lọc những trải nghiệm tích cực để phát triển bản thân.


Đối với bản thân, tôi nhận thấy rằng việc trải nghiệm là vô cùng cần thiết. Mỗi lần tham gia hoạt động mới, mỗi lần thử sức với thử thách đều giúp tôi tự tin và hiểu mình hơn. Tôi tin rằng tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta dám sống, dám thử và dám trưởng thành.


Tóm lại, trải nghiệm là yếu tố không thể thiếu trong hành trình của tuổi trẻ. Nó giúp con người trưởng thành, bản lĩnh và sống có ý nghĩa hơn. Vì vậy, mỗi người trẻ hãy biết trân trọng quãng thời gian quý giá này để không ngừng khám phá và hoàn thiện bản thân.


Câu 1. Thể thơ của văn bản: Tự do.

Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông bàn giao cho cháu những thứ sau: gió heo may; góc phố có mùi ngô nướng bay; tháng giêng hương bưởi - cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày; những mặt người đẫm nắng - đẫm yêu thương trên trái đất này; một chút buồn; ngậm ngùi một chút, chút cô đơn; câu thơ vững gót làm người.

Câu 3. Người ông chẳng bàn giao cho cháu những tháng ngày vất vả, chiến tranh vì:


- Những thứ đó là những dấu hiệu của sự lam lũ, vất vả, cực nhọc trong cuộc sống.


- Vì ông rất yêu thương cháu, mong cháu và thế hệ của cháu được sống cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc.

Câu 4. 

- Biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ: bàn giao.


- Tác dụng:


+ Tạo liên kết, tạo nhịp điệu cho bài thơ; giúp cho sự diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn.


+ Nhấn mạnh những điều mà người ông muốn và không muốn bàn giao, trao gửi lại cho người cháu.


+ Qua đó, thể hiện tình cảm yêu thương, mong muốn tốt đẹp mà người ông - cũng là thế hệ đi trước dành cho người cháu - thế hệ sau.

Câu 5. HS viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của bản thân, có thể theo hướng: Chúng ta cần có thái độ trước những điều thiêng liêng, quý giá mà cha ông ta bàn giao như sau: 


- Biết ơn những gì thế hệ cha ông đã để lại cho mình.


- Trân trọng, tự hào về những điều đó. 


- Có ý thức gìn giữ, bảo vệ những thứ đã được nhận bàn giao từ thế hệ trước.


- Cần cố gắng phát huy những gì đã được tiếp nhận để tiếp tục bàn giao cho những thế hệ mai sau.


Câu 1 (2 điểm)



Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ)


Trong đoạn trích Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, mang chiều sâu lịch sử và cảm xúc. Đất nước không được cảm nhận qua khái niệm trừu tượng mà qua những hình ảnh rất đời thường: con đường, nhịp cầu, bàn tay lao động, em bé đến lớp, cô gái may áo cưới. Đó là một đất nước từng đi qua chiến tranh khốc liệt, chịu “triệu tấn bom rơi”, nhưng vẫn không ngừng hồi sinh, vươn lên mạnh mẽ. Đất nước trong thơ là kết tinh của sự hy sinh to lớn của nhiều thế hệ, là nơi lưu giữ ký ức đau thương mà hào hùng của dân tộc. Đồng thời, hình tượng đất nước còn gắn với niềm tin và hy vọng vào tương lai, khi “vị ngọt” của hòa bình, độc lập vẫn theo con người Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến hôm nay. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu nước sâu sắc, niềm tự hào và lòng biết ơn đối với những con người đã làm nên lịch sử dân tộc.





Câu 2 (4 điểm)



Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)


Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, gợi cho ta cách nhìn đúng đắn về lịch sử và con người – những chủ thể đã tạo nên lịch sử ấy.


Lịch sử, về bản chất, không chỉ là những mốc thời gian, sự kiện hay con số khô khan trong sách vở. Nếu lịch sử chỉ được truyền đạt bằng những bài giảng nặng về ghi nhớ, thiếu cảm xúc, người học dễ cảm thấy xa lạ và thờ ơ. Điều khiến con người rung động thật sự không phải là ngày tháng hay tên gọi của các chiến dịch, mà chính là số phận, sự hy sinh, lòng dũng cảm và lý tưởng cao đẹp của những con người đã sống, chiến đấu và cống hiến trong dòng chảy lịch sử ấy.


Những người làm nên lịch sử là những con người rất đỗi bình thường nhưng mang tinh thần phi thường. Đó có thể là những chiến sĩ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, những bà mẹ tiễn con ra trận không hẹn ngày trở lại, hay những em nhỏ sinh ra giữa bom đạn nhưng vẫn lớn lên, học tập và mơ ước. Chính họ đã biến lịch sử từ những trang giấy vô tri thành những câu chuyện sống động, giàu cảm xúc. Khi ta đọc về một người lính ngã xuống vì độc lập dân tộc, ta không chỉ “biết” lịch sử mà còn “cảm” được lịch sử bằng trái tim.


Ý kiến trên không phủ nhận vai trò của việc học lịch sử, mà nhấn mạnh rằng lịch sử cần được nhìn nhận qua lăng kính con người. Bởi con người chính là trung tâm và động lực của lịch sử. Những bài học lịch sử chỉ thật sự có ý nghĩa khi giúp chúng ta hiểu được nỗi đau, niềm tin, khát vọng và giá trị sống của các thế hệ đi trước. Khi đó, lịch sử không còn là môn học để đối phó, mà trở thành nguồn nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm với hiện tại.


Trong bối cảnh hôm nay, khi đất nước đang sống trong hòa bình, ý kiến trên càng có ý nghĩa sâu sắc. Chúng ta cần học lịch sử không chỉ để nhớ, mà để biết ơn. Biết ơn những con người đã đánh đổi tuổi trẻ, hạnh phúc riêng để đem lại “vị ngọt” của độc lập, tự do cho thế hệ sau. Từ sự xúc động ấy, mỗi người trẻ cần sống xứng đáng hơn: học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo, giữ gìn bản sắc văn hóa và sẵn sàng cống hiến cho đất nước.


Tóm lại, chúng ta xúc động không phải vì lịch sử khô cứng, mà vì những con người đã làm nên lịch sử bằng máu, nước mắt và niềm tin. Nhận thức được điều đó chính là cách để lịch sử sống mãi trong lòng mỗi con người hôm nay và mai sau.



Câu 1. Dấu hiệu xác định thể thơ



Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.

Dấu hiệu:


  • Số chữ trong mỗi dòng không đều, không theo khuôn mẫu cố định.
  • Nhịp thơ linh hoạt, thay đổi tự nhiên.
  • Không gò bó về vần luật, phù hợp để bộc lộ cảm xúc, suy tư sâu lắng về đất nước.






Câu 2. Cảm xúc của nhân vật trữ tình



Đoạn thơ thể hiện niềm xúc động, tự hào, tin yêu và biết ơn sâu sắc của nhân vật trữ tình trước:


  • Sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh
  • Những con người cần cù, kiên cường
  • Các thế hệ đã hy sinh để làm nên hòa bình hôm nay



Đó là cảm xúc lắng đọng nhưng mãnh liệt, vừa hoài niệm đau thương, vừa tràn đầy niềm tin vào tương lai.





Câu 3. Phân tích biện pháp tu từ



Biện pháp tu từ nổi bật: Điệp cấu trúc kết hợp với đối lập


“Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp Một

Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi,

Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới

Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi!”



Ý nghĩa:



  • Điệp từ “Mỗi” nhấn mạnh tính phổ quát: mọi thế hệ hôm nay đều có chung một quá khứ chiến tranh.
  • Hình ảnh đối lập giữa:
    • “tung tăng vào lớp Một”, “may áo cưới” (hòa bình, hạnh phúc)
    • với “triệu tấn bom rơi”, “công sự bom vùi” (chiến tranh, mất mát)
      → Làm nổi bật sự trưởng thành, hồi sinh mạnh mẽ của con người Việt Nam, đồng thời khắc sâu giá trị của hòa bình được đánh đổi bằng hy sinh.






Câu 4. Ý nghĩa của “vị ngọt”



  • “Vị ngọt” là vị ngọt của hòa bình, độc lập, hạnh phúc, tự do mà đất nước đang được hưởng.
  • Vị ngọt đó có được từ:
    • Cách mạng Tháng Tám
    • Máu xương, hy sinh của các thế hệ đi trước
    • Những năm tháng kháng chiến gian khổ, kiên cường của dân tộc



→ Đó là vị ngọt của lịch sử, thấm đẫm đau thương nhưng đầy tự hào.





Câu 5. Suy nghĩ về ý nghĩa của lòng yêu nước



Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng, là sức mạnh tinh thần to lớn giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách. Trong chiến tranh, yêu nước là sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do. Trong hòa bình, yêu nước được thể hiện qua việc sống có trách nhiệm, trân trọng quá khứ, học tập và lao động để xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

Đoạn thơ nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết biết ơn, gìn giữ và tiếp nối những giá trị mà cha ông đã đánh đổi bằng cả máu xương để có được.


a) Tính năng lượng điện mà bóng đèn tiêu thụ trong 5 giờ

Dữ kiện:

  • Công suất bóng đèn: 60 W = 0,06 kW
  • Thời gian sử dụng: 5 giờ

Công thức:

\(\text{N} \overset{ }{\text{a}} \text{ng}\&\text{nbsp};\text{l}ượ\text{ng}\&\text{nbsp};\text{ti} \hat{\text{e}} \text{u}\&\text{nbsp};\text{th}ụ = \text{C} \hat{\text{o}} \text{ng}\&\text{nbsp};\text{su} \overset{ˊ}{\hat{\text{a}}} \text{t} \times \text{Th}ờ\text{i}\&\text{nbsp};\text{gian}\) \(E = 0,06 \times 5 = 0,3 \&\text{nbsp};\text{kWh}\)

Vậy năng lượng điện tiêu thụ là:
👉 0,3 kWh


b) Tính tiền điện phải trả trong 30 ngày

Dữ kiện:

  • Mỗi ngày dùng 5 giờ
  • 30 ngày → tổng thời gian: \(30 \times 5 = 150\) giờ
  • Công suất: 0,06 kW
  • Giá điện: 3000 đồng/kWh

Tính năng lượng tiêu thụ trong 30 ngày:

\(E = 0,06 \times 150 = 9 \&\text{nbsp};\text{kWh}\)

Tính tiền điện:

\(\text{Ti} \overset{ˋ}{\hat{\text{e}}} \text{n}\&\text{nbsp};đ\text{i}ệ\text{n} = 9 \times 3000 = 27,000 \&\text{nbsp};đ \overset{ˋ}{\hat{\text{o}}} \text{ng}\)

a) Cường độ dòng điện là một khái niệm cơ bản trong lĩnh vực điện học và điện tử. Nó đo lường lượng điện tích (các hạt điện tử) trôi qua một điểm trong mạch điện trong một khoảng thời gian cụ thể.

Công thức cơ bản để tính cường độ dòng điện là:

  • I = V/R
  • Trong đó: V là hiệu điện thế (volt, V) R là điện trở (ohm, Ω
  • b) Cường độ dòng điện là đại đặc trưng cho độ mạnh yếu của dòng điện, số lượng điện tử đi qua tiết diện của vật dẫn trong một đơn vị thời gian nhất định. Dòng điện và cường độ tỉ lệ thuận với nhau. Khi dòng điện càng mạnh thì cường độ càng lớn và ngược lại, dòng điện càng yếu thì cường độ càng nhỏ.

a) Đổi 4h = 4.3600 = 14400 s.

Quạt điện ghi 220 - 75 W tức là hiệu điện thế định mức của quạt là 220 V, công suất định mức là 75 W.

Vì mắc quạt vào hiệu điện thế 220 V nên công suất của đèn lúc này cũng là 75 W.

Điện năng mà quạt tiêu thụ trong 24h là

A=P.t=75.4.3600=1080000J.A=P.t=75.4.3600=1080000J.

b) Quạt có hiệu suất 80% như vậy cơ năng của quạt là

H=WA.100%=80%⇒W=80.A100=864000J.

a) Khi K mở, vôn kế chỉ giá trị của suất điện động của nguồn:

Vì Uv = E - Ir có I = 0, vậy E = 6V.

Khi K đóng, vôn kế chỉ hiệu điện thế hai đầu nguồn điện:

Uv = E - Ir ⇒ 5,6 = 6-2.r ⇒r = 0,2ΩΩ.

b) Theo định luật Ohm, ta có: I=UvRtđRtđ=UvI=5,60,2=2,8ΩI=UvRtđ⇒Rtđ=UvI=5,60,2=2,8Ω.

R23=R2R3R2+R3=1,2ΩR23=R2R3R2+R3=1,2Ω

Mặt khác R1=RtdR23=1,6ΩR1=Rtd−R23=1,6Ω

U23=IR23=2,4V.U23=IR23=2,4V.

Cường độ dòng điện qua R2 và R3 là:

I2=U23R2=1,2A.I2=U23R2=1,2A.

I3=II2=0,8A.I3=I−I2=0,8A.