NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, hình tượng mưa mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, góp phần thể hiện thế giới nội tâm giàu cảm xúc của nhân vật trữ tình. Trước hết, mưa là hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên, gợi không gian buồn, lặng và dễ làm con người chùng xuống. Trong bài thơ, mưa không chỉ là hiện tượng thời tiết mà còn là biểu tượng cho những biến động, chia xa và mong manh của hạnh phúc. “Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa” là nỗi lo rất khẽ nhưng day dứt, bởi mưa có thể làm gián đoạn cuộc gặp gỡ, làm nhạt nhòa những khoảnh khắc yêu thương đang hiện hữu. Bên cạnh đó, mưa còn tượng trưng cho những thử thách bất ngờ của cuộc đời mà con người không thể kiểm soát. Qua hình tượng mưa, Lưu Quang Vũ gửi gắm tâm trạng lo âu trước sự vô thường, đồng thời thể hiện khát vọng được níu giữ những điều đẹp đẽ, bình yên trong tình yêu. Chính sự giản dị mà giàu sức gợi của hình tượng mưa đã làm nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ.
Câu 2:
Trong cuốn Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Howard Thurman từng nói: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh.” Câu nói gợi ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi con người: sự tỉnh thức trong nhận thức, hành động và lối sống.
Trước hết, “tỉnh thức” có thể hiểu là trạng thái con người nhận ra giá trị thật sự của cuộc sống, hiểu rõ bản thân là ai, mình sống để làm gì và cần sống như thế nào cho có ý nghĩa. Một người tỉnh thức không sống mơ hồ, buông trôi theo thói quen hay đám đông, mà biết suy nghĩ, lựa chọn và chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình. Trong xã hội hiện đại, khi con người dễ bị cuốn theo vật chất, danh vọng hay những chuẩn mực ảo, sự tỉnh thức càng trở nên cần thiết.
Có nhiều điều có thể khiến con người tỉnh thức. Đó có thể là những biến cố như mất mát, thất bại, bệnh tật – khi con người buộc phải chậm lại và nhìn sâu vào cuộc sống. Đó cũng có thể là những trải nghiệm giản dị: một lời nói chân thành, một hành động tử tế, hay khoảnh khắc nhận ra mình đã vô tâm với người thân. Với nhiều người trẻ, tỉnh thức đến từ việc nhận ra thời gian là hữu hạn, tuổi trẻ không kéo dài mãi, và mỗi ngày trôi qua đều đáng trân trọng.
Tỉnh thức còn đến từ tri thức và sự suy ngẫm. Khi con người đọc sách, học hỏi, quan sát cuộc sống bằng tư duy phản biện, họ dần thoát khỏi những định kiến hẹp hòi và lối sống hời hợt. Một người tỉnh thức sẽ biết phân biệt đúng – sai, biết lên tiếng trước cái xấu, cái ác, đồng thời sống nhân ái và có trách nhiệm hơn với cộng đồng. Chính những con người như vậy mới có thể tạo ra giá trị tích cực cho xã hội.
Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người vẫn đang “ngủ quên” trong sự vô cảm, lối sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà thờ ơ với người khác. Sự thiếu tỉnh thức khiến con người dễ đánh mất phương hướng, sống lãng phí thời gian và tiềm năng của chính mình. Điều đó không chỉ gây tổn hại cho cá nhân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
Từ câu nói của Howard Thurman, mỗi người cần tự hỏi: điều gì khiến mình thức tỉnh và mình đã thực sự sống tỉnh thức hay chưa. Với bản thân em, tỉnh thức là sống có mục tiêu, biết trân trọng gia đình, bạn bè, không ngừng học hỏi và dám sống đúng với giá trị mình tin tưởng. Khi mỗi cá nhân biết thức tỉnh, thế giới sẽ có thêm nhiều con người sống ý nghĩa, tử tế và nhân văn hơn.
Câu 1: Tự do
Câu 2: Bài thơ thể hiện cảm xúc lo lắng, bất an, tràn đầy hoài nghi của nhân vật trữ tình đối với 1 tương lai chưa biết
Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng: Nhân hoá "Mưa cướp đi ánh sáng của ngày"
Tác dụng:
+ Làm câu thơ trở nên sinh động
+ Gợi hình ảnh mưa giống như một tên kẻ xấu xa mang hết đi những hi vọng của con người
Câu 4: Con người có thể bất an, lo lắng và sợ hãi tuy nhiên họ nên chuẩn bị tốt tinh thần vững vàng để đối mặt điều đó.
Câu 1:
Những giấc mơ không chỉ là những hình ảnh, cảm xúc thoáng qua trong giấc ngủ, mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống tinh thần và sự phát triển của con người. Trước hết, giấc mơ là phản ánh trung thực của những điều ẩn sâu trong tiềm thức, là nơi những nỗi lo âu, khát khao, hay những mong muốn bị kìm nén được bộc lộ. Chúng giúp ta nhìn nhận lại tâm tư, tình cảm, những vấn đề mà ta có thể đang cố gắng lảng tránh khi tỉnh táo, từ đó thúc đẩy quá trình tự nhận thức và chữa lành tâm lý. Quan trọng hơn, giấc mơ còn là nguồn cảm hứng bất tận cho sự sáng tạo. Nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ đã tìm thấy lời giải cho vấn đề hay ý tưởng đột phá từ những hình ảnh trong mơ. Giấc mơ còn chứa đựng những mục tiêu, hoài bão của cá nhân, là động lực để con người vươn lên, cố gắng hiện thực hóa những điều tốt đẹp đó. Tóm lại, việc trân trọng và tìm hiểu những giấc mơ giúp ta sống một cuộc đời ý nghĩa hơn, kết nối sâu sắc hơn với bản thân và mở ra những cánh cửa mới của trí tưởng tượng.
Câu 2:
Nguyễn Bính (1918-1966) được mệnh danh là “nhà thơ chân quê” bởi hồn thơ mộc mạc, đậm đà phong vị ca dao, dân ca, luôn giữ trọn nét đẹp truyền thống trong bối cảnh thơ ca hiện đại. Bài thơ Tương tư là một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất của ông, nơi nỗi nhớ nhung, khao khát yêu đương thầm kín của người dân quê được thể hiện một cách tinh tế, duyên dáng, gói gọn trọn vẹn "căn bệnh" muôn thuở của người đang yêu.
Nỗi tương tư trong thơ Nguyễn Bính được mở ra bằng một không gian thân thuộc, mang tính biểu tượng cao: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”. Hành động nhân hóa này không chỉ biến cảnh vật vô tri trở thành chủ thể trữ tình đồng điệu mà còn khẳng định nỗi nhớ đã trở thành một trạng thái phổ quát, thường trực. Nỗi nhớ đó được đo đếm bằng những con số tuyệt đối, dân dã: “Một người chín nhớ mười mong một người”, gợi lên cường độ da diết, khắc khoải, đậm chất thành ngữ ca dao. Nỗi tương tư sau đó được định nghĩa một cách duyên dáng, hợp lẽ tự nhiên, nâng tầm tình yêu thành một quy luật tất yếu: “Gió mưa là bệnh của giời / Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Sự so sánh độc đáo này khẳng định tình yêu là một lẽ sống, một sự thật không thể chối từ, mang đến sự lãng mạn, hồn nhiên cho nỗi nhớ.
Điều làm nên sự day dứt đặc biệt của mối tương tư này chính là nghịch lí về không gian. Tình yêu không hề bị ngăn cách bởi "đò giang" hay "đường sang" hiểm trở thường thấy trong văn học cổ.
Mối tình chỉ cách nhau “một đầu đình” – một khoảng cách rất gần, hữu hình, có thể vượt qua. Chính sự gần gũi về địa lí lại càng làm bật lên sự xa cách vô hình trong tâm hồn, những rào cản vô ngôn của lễ giáo, sự e thẹn đã khiến tình yêu không thể lên tiếng. Câu hỏi tu từ “Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?” thể hiện sự ngỡ ngàng, hụt hẫng và nỗi đau khổ khi tình cảm bị đóng khung. Kèm theo đó là sự xót xa của thời gian: “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng,” ẩn chứa sự nuối tiếc, sự mòn mỏi chờ đợi đến vô vọng khi thanh xuân dần phai nhạt mà tình yêu vẫn chưa được hồi đáp.
Càng về cuối, nỗi tương tư càng được bộc lộ trực tiếp, cháy bỏng hơn, thể hiện sự cô đơn tột cùng: “Tương tư thức mấy đêm rồi, / Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!”. Điệp từ “ai” liên tiếp nhấn mạnh sự bí mật, nỗi đau thầm kín của người mang nặng tình yêu đơn phương. Khát vọng gặp gỡ được thể hiện qua những hình ảnh ước lệ quen thuộc nhưng đầy tính gợi cảm: “Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”. “Bến” – “đò”, “Hoa khuê các” – “bướm giang hồ” là những cặp hình ảnh đối lập nhưng khao khát hòa hợp, gói trọn hy vọng về một cuộc hội ngộ, xóa tan mọi rào cản.
Bài thơ khép lại bằng những hình ảnh mang tính biểu tượng đặc trưng của hồn thơ Nguyễn Bính: sự đối xứng giữa “giàn giầu” và “hàng cau liên phòng”, gợi đến hình ảnh trầu cau, biểu tượng truyền thống của sự gắn kết vợ chồng. Tuy nhiên, nỗi nhớ lại bị đặt vào một câu hỏi lửng lơ: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”. Nỗi nhớ đã lan tỏa từ người sang vật, từ cau đến giầu, từ thôn Đoài đến thôn Đông, biến cả không gian và vật chất thành những chủ thể đồng điệu, nhưng lại kết thúc bằng sự băn khoăn, nhấn mạnh tính chất đơn phương, chưa được đáp lại của mối tương tư.
Tóm lại, bằng giọng thơ nhẹ nhàng, tâm tình, ngôn ngữ mộc mạc đậm chất ca dao, cùng nghệ thuật nhân hóa và so sánh tài tình, Nguyễn Bính đã không chỉ tái hiện một tình yêu chân thành, e ấp mà còn gửi gắm nỗi buồn về sự lỡ làng, xa cách. Tương tư mãi là một bài thơ đẹp, là tiếng lòng chung của những người trẻ tuổi khao khát tình yêu trong khuôn khổ truyền thống, giữ trọn vẹn nét duyên dáng, hồn hậu của tình quê.
Câu 1: Nghị luận
Câu 2: Thao tác phân tích và bình luận. Tác dụng: Giúp văn bản trở nên rõ ràng và thuyết phục hơn.
Câu 3: Vì người lớn đã quên và đánh mất những giấc mơ của chính mình, không còn "hạt giống của giấc mơ" trong tâm hồn để gieo trồng và chữa lành cho thế hệ sau
Câu 4: Cách khả thi để chữa chạy cho "những cơn đau ốm tâm hồn":
-Nhận thức rõ ràng về tâm quan trọng của việc nuôi dưỡng tâm hồn.
-Tự mình tìm lại và nuôi dưỡng những "hạt giống của giấc mơ" đã lãng quên.
a) Năng lượng điện tiêu thụ là
\(A = P . t = 60.5 = 300\) Wh = 0,3 kWh
b) Tổng thời gian sử dụng bóng đèn trong 30 ngày là 30.5 = 150 giờ.
Năng lượng điện tiêu thụ trong 30 ngày là
\(A^{'} = P . t^{'} = 60.150 = 9000\) Wh = 9 kWh
Số tiền điện phải trả là 9.3000 = 27000 đồng.
a) Cường độ dòng điện đặc trưng cho tác dụng mạnh, yếu của dòng điện, được xác định bằng lượng điện tích dịch chuyển qua tiết diện thẳng của vật dẫn trong một đơn vị thời gian:
\(I = \frac{\Delta q}{\Delta t}\)
Điện lượng chuyển qua tiết diện thẳng của dây dẫn trong 2 giây nếu cường độ dòng điện trong dây 3 A là
\(\Delta q = I . \Delta t = 3.2 = 6\) C
b) Cường độ dòng điện đặc trưng cho dòng điện mạnh hay yếu vì nó cho biết số lượng hạt mang điện (electron) dịch chuyển trong một giây. Dòng điện càng lớn, số electron dịch chuyển qua tiết diện thẳng càng nhiều, dẫn đến tác dụng điện, nhiệt hoặc từ càng mạnh.
a) Hai tụ \(C_{1}\) và \(C_{2}\) được ghép nối tiếp với nhau nên:
\(C_{12} = \frac{C_{1} . C_{2}}{C_{1} + C_{2}} = \frac{4.6}{4 + 6} = 2 , 4\) μF
Hai tụ \(C_{1}\) và \(C_{2}\) được ghép nối tiếp với nhau, sau đó ghép song song với tụ \(C_{3}\) nên:
\(C_{b} = C_{12} + C_{3} = 2 , 4 + 12 = 14 , 4\) μF
b) Ta có \(U_{12} = U_{3} = U = 24\) V
Điện tích của tụ \(C_{3}\) là
\(Q_{3} = C_{3} . U_{3} = 12.24 = 288\) μC
Điện tích của cả bộ tụ là
\(Q = C_{b} . U = 14 , 4.24 = 345 , 6\) μC
Điện tích trên tụ 1 và 2 là
\(Q_{1} = Q_{2} = Q_{12} = Q - Q_{3} = 345 , 6 - 288 = 57 , 6\) μC
a) Điện năng mà quạt đã tiêu thụ trong 4 giờ là
\(A = P . t = 75.4.60.60 =\) J = 1080 kJ
b) Ta có: \(H = \frac{A_{i}}{A_{t p}} . 100\)
\(\rightarrow A_{i} = A_{t p} . \frac{H}{100 \%} = 1080. \frac{80}{100} = 864\) kJ
a) Điện năng mà quạt đã tiêu thụ trong 4 giờ là
\(A = P . t = 75.4.60.60 =\) J = 1080 kJ
b) Ta có: \(H = \frac{A_{i}}{A_{t p}} . 100\)
\(\rightarrow A_{i} = A_{t p} . \frac{H}{100 \%} = 1080. \frac{80}{100} = 864\) kJ