LÊ TÙNG LÂM
Giới thiệu về bản thân
- Giữa thế kỉ XIX, Vương quốc Xiêm đứng trước sự đe doạ của thực dân phương Tây, nhất là thực dân Anh và Pháp trong cuộc chạy đua về thuộc địa để tìm kiếm nguyên nhiên liệu, lao động và thị trường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.
- Trước sự đe doạ của thực dân phương Tây và yêu cầu cấp bách để bảo vệ nền độc lập, phát triển đất nước, vua Mông-kút (Ra-ma IV) và vua Chu-la-long-con (Ra-ma V) đã tiến hành công cuộc cải cách.
- Về kinh tế: nhà nước giảm thuế nông nghiệp, xoá bỏ chế độ lao dịch, khuyến khích tư nhân bỏ vốn kinh doanh, xây dựng nhà máy, mở hiệu buôn bán, ngân hàng,… Tư bản nước ngoài được phép đầu tư kinh doanh.
- Về chính trị: đứng đầu nhà nước là vua, bên cạnh vua có Hội đồng Nhà nước giữ vai trò là cơ quan tư vấn. Hội đồng Chính phủ phụ trách hành pháp, gồm 12 bộ trưởng do các hoàng thân du học ở phương Tây về đảm nhiệm. Quân đội được trang bị và huấn luyện theo kiểu phương Tây.
- Về xã hội: nhà nước xoá bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ, giải phóng người lao động.
- Về văn hoá, giáo dục: mở các trường học theo mô hình phương Tây.
- Về ngoại giao: Xiêm thực hiện ngoại giao mềm dẻo, từng bước xoá bỏ các hiệp ước bất bình đẳng.
- Ngày 1-1-1984, Bru-nây tuyên bố độc lập và bắt đầu công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế. Bru-nây là một trong những nước có thu nhập đầu người vào hàng cao nhất thế giới nhờ có trữ lượng đáng kể về dầu mỏ và khí tự nhiên. Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, Chính phủ Bru-nây thực hiện chính sách đa dạng hoá nền kinh tế, gia tăng sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
- Mi-an-ma sau khi được Anh trao trả độc lập đã thực hiện chính sách tự lực hướng nội, kinh tế tăng trưởng chậm chạp. Từ cuối năm 1988, Mi-an-ma tiến hành cải cách kinh tế và mở cửa, kinh tế có phần khởi sắc. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân Mi-an-ma vẫn còn nhiều khó khăn.
- Đông Ti-mo tuyên bố độc lập vào ngày 28-11-1975, sau khi Bồ Đào Nha rút khỏi nước này. Tuy nhiên, nhân dân Đông Ti-mo đã phải trải qua thời gian dài đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của các lực lượng In-đô-nê-xi-a. Ngày 20-5-2002, Đông Ti-mo đã được quốc tế công nhận là một quốc gia độc lập.
- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.
+ Ở Inđônêxia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.
+ Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.
+ Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.
- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.
♦ Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á lục địa
- Sau quá trình lâu dài xâm nhập và chuẩn bị, đến thế kỉ XIX, các nước thực dân phương Tây bắt đầu quá trình xâm lược vào các nước Đông Nam Á lục địa.
+ Ở Miến Điện, sau ba cuộc chiến tranh xâm lược (1824 - 1826, 1852, 1885) thực dân Anh thôn tính Miến Điện rồi sáp nhập nước này thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh.
+ Ba nước Việt Nam, Lào, Campuchialà đối tượng xâm lược của thực dân Pháp. Đến cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược những nước này và bắt đầu thi hành chính sách bóc lột, khai thác thuộc địa.
+ Vương quốc Xiêm, trong nửa cuối thế kỉ XIX, trở thành vùng tranh chấp của thực dân Anh và Pháp. Với chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo của vua Ra-ma V, Xiêm là nước duy nhất ở Đông Nam Á giữ được nền độc lập tương đối về chính trị.
- Thực dân Anh và thực dân Pháp tiến hành chính sách “chia để trị” nhằm xóa bỏ nền độc lập đối với Miến Điện và ba nước Đông Dương. Về kinh tế, thực thi chính sách khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách thuế khóa nặng nề. Về văn hoá, thực hiện chính sách nô dịch và đồng hoá.
- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.
+ Ở Inđônêxia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.
+ Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.
+ Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.
- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.
♦ Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á lục địa
- Sau quá trình lâu dài xâm nhập và chuẩn bị, đến thế kỉ XIX, các nước thực dân phương Tây bắt đầu quá trình xâm lược vào các nước Đông Nam Á lục địa.
+ Ở Miến Điện, sau ba cuộc chiến tranh xâm lược (1824 - 1826, 1852, 1885) thực dân Anh thôn tính Miến Điện rồi sáp nhập nước này thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh.
+ Ba nước Việt Nam, Lào, Campuchialà đối tượng xâm lược của thực dân Pháp. Đến cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược những nước này và bắt đầu thi hành chính sách bóc lột, khai thác thuộc địa.
+ Vương quốc Xiêm, trong nửa cuối thế kỉ XIX, trở thành vùng tranh chấp của thực dân Anh và Pháp. Với chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo của vua Ra-ma V, Xiêm là nước duy nhất ở Đông Nam Á giữ được nền độc lập tương đối về chính trị.
- Thực dân Anh và thực dân Pháp tiến hành chính sách “chia để trị” nhằm xóa bỏ nền độc lập đối với Miến Điện và ba nước Đông Dương. Về kinh tế, thực thi chính sách khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách thuế khóa nặng nề. Về văn hoá, thực hiện chính sách nô dịch và đồng hoá.
Câu 1: Hãy nêu những thành tựu tiêu biểu về chính trị của nền văn minh Đại Việt.
- Xây dựng được một nhà nước quân chủ tập quyền tương đối hoàn chỉnh với bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương.
- Ban hành nhiều bộ luật như “Quốc triều hình luật” để quản lý xã hội.
- Đặt ra các chức quan lại rõ ràng, thi cử để tuyển chọn nhân tài (khoa cử).
- Khẳng định chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ đất nước qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm (chống Tống, chống Nguyên - Mông…).
Câu 2: Phân tích tác động của những thành tựu về kinh tế đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt? - Kinh tế phát triển đã tạo nền tảng vững chắc cho đất nước ổn định và hùng mạnh.
- Nông nghiệp phát triển giúp đời sống nhân dân ổn định, từ đó tạo điều kiện cho văn hóa – giáo dục phát triển.
- Thủ công nghiệp và thương mại phát triển góp phần giao lưu văn hóa, mở rộng mối quan hệ trong và ngoài nước.
- Nhờ kinh tế mạnh, nhà nước có nguồn lực để xây dựng quân đội, củng cố chính quyền và chống ngoại xâm hiệu quả.
1.
Giáo dục của Văn Minh Đại Việt
Những thành tựu tiêu biểu bao gồm:
-Tổ chức khoa cử chọn nhân tài đầu tiên năm 1075 với mục đích chọn người tài giúp nước
-Mở trường học Quốc Tử Giám năm 1076 để đào tạo nhân tài cho triều đình và công chúa, hoàng tử
-Thời Trần, Triều đình lập quốc cho con em quan lại học tập
-Thời Lê sơ, con em bình dân học giỏi được đi học, thi, hệ thống trường mở rộng
-Tổ chức các kì thi như: Thi Hương, Thi Đình, Thi Hội
2.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tác động to lớn đối với văn minh Đại Việt:
-Là Trung tâm giáo dục đầu tiên của nước ta ( Trường đại học đầu tiên của nước ta)
-Góp phần xây dựng tầng lớp tri thức
-Khẳng định tinh thần trọng hiền tài, trọng học vấn
-Là biểu tượng của văn hóa giáo dục lịch sử