PHẠM HẢI ĐỨC
Giới thiệu về bản thân
Để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia trước sự đe dọa của thực dân phương Tây giữa thế kỷ XIX, Xiêm (nay là
Thái Lan) đã chủ động thực hiện chính sách cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị: Tập trung quyền lực vào tay vua, giảm bớt quyền lực của các quý tộc địa phương, xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình phương Tây. Kinh tế: Khuyến khích phát triển công thương nghiệp, mở cửa thương mại với các nước, xây dựng cơ sở hạ tầng. Quân sự: Tố chức lại quân đội theo kiểu phương Tây, trang bị vũ khí hiện đại. Ngoại giao:
Thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo, ký kết các hiệp ước thương mại với các nước phương Tây để giảm bớt áp lực, đồng thời tận dụng mâu thuẫn giữa các nước thực dân (như Anh và Pháp) để giữ vững độc lập.
1. Bru-nây Tái thiết và Chính trị: Giành độc lập hoàn toàn từ
Anh vào ngày 1/1/1984. Bru-nây xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế do Quốc vương đứng đầu. Phát triển Kinh tế: Dựa vào nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt phong phú. Chính phủ thực hiện chính sách phúc lợi cao cho người dân, miễn phí y tế và giáo dục. 2. Mi-an-ma Tái thiết và Chính trị: Giành độc lập năm 1948. Sau đó, quốc gia trải qua thời kỳ dài bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc và sự năm quyền của chính quyền quân sự. Phát triển Kinh tế:
Nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, phát triển chậm và chịu ảnh hưởng của các lệnh cấm vận quốc tế. Những năm gần đây có bước chuyển mình sang kinh tế thị trường nhưng vẫn còn nhiều thách thức. 3. Đông Ti-mo Tái thiết và Chính trị: Là quốc gia non trẻ nhất, chính thức độc lập năm 2002 sau thời gian dài tranh đấu và dưới sự quản lý của Liên Hợp Quốc. Phát triển Kinh tế: Tái thiết từ con số không sau chiến tranh. Kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khấu dầu mỏ và nông nghiệp, vẫn đang trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển bền vững.
Giải thích: Về chính trị: Các nước thực dân phương Tây thiết lập bộ máy cai trị trực tiếp hoặc gián tiếp, tước đoạt độc lập, chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á. Chia để trị: Chia nhỏ các nước, tạo ra các mâu thuẫn dân tộc, tôn giảo và biên giới kéo dài. Về kinh tế: Biến Đông Nam Á thành nơi cung cấp nguyên liệu thô và tiêu thụ hàng hóa cho chính quốc, kìm hãm sự phát triển công nghiệp địa phương. Xây dựng hệ thống giao thông vận tải, cảng biển chủ yếu phục vụ mục đích khai thác và bóc lột, không phải vì sự phát triển của nền kinh tế bản địa. Phát triển nền kinh tế độc canh (chuyên canh cây công nghiệp hoặc khai thác mỏ) khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương. Về văn hóa - xã hội: Du nhập văn hóa, ngôn ngữ phương Tây, làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống. Tạo ra sự phân hóa giai cấp sâu sắc, xuất hiện các giai cấp mới như công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Hệ thống giáo dục được thiết lập nhằm mục đích đào tạo tay sai phục vụ bộ máy cai trị. Liên hệ thực tế ở Việt Nam: Chính trị: Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, phong trào yêu nước diễn ra mạnh mẽ nhưng bị đàn áp dã man. Kinh tế: Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần thứ nhất và thứ hai, tập trung vào khai thác mỏ và đồn điền cao su, làm thay đổi cấu trúc kinh tế nhưng theo hướng phụ thuộc. Xã hội: Xuất hiện các giai cấp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản), tạo cơ sở xã hội cho các phong trào cách mạng theo khuynh hướng mới. Văn hóa: Chịu" ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Pháp, tuy nhiên cũng tiếp thu những yếu tố tích cực như chữ Quốc ngữ, báo chí, kiến trúc hiện đại.
Giai đoạn từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX: Các nước phương Tây, chủ yếu là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và sau đó là Hà Lan, Anh, Pháp, bắt đầu xâm nhập khu vực này thông qua các hoạt động thương mại và truyền giáo.
Họ lợi dụng vị trí địa lí quan trọng và nguồn tài nguyên phong phú (đặc biệt là hương liệu) của khu vực. Ban đầu chỉ là thiết lập các thương điếm, nhưng dần dần họ can thiệp sâu vào công việc nội bộ và bắt đầu quá trình chiếm đóng lãnh thổ. Giai đoạn từ nửa sau thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XIX: Quá trình xâm lược diễn ra mạnh mẽ và quyết liệt hơn. Các nước tư bản phương Tây đã hoàn thành cách mạng tư sản, cần thị trường và thuộc địa nên đấy mạnh việc xâm chiếm toàn bộ khu vực. Họ lợi dụng sự suy yếu, khủng hoảng của chế độ phong kiến tại các quốc gia
Đông Nam Á để dễ dàng xâm lược. Kết quả: Đến cuối thế kỉ XIX, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á hải đảo (như In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Mã Lai,...) đều trở thành thuộc địa của các cường quốc phương Tây.