Kiều Ngọc Bích
Giới thiệu về bản thân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH
(Về việc chứng kiến vụ tai nạn giao thông)
Kính gửi: Cơ quan công an phường hà lầm
Em tên là: kiều ngọc bích
Sinh ngày: 24/7/2013
Địa chỉ: tổ 367 khu 67 phường hà lầm
Em xin trình bày lại sự việc mà em đã chứng kiến như sau:
Vào khoảng 9giờ 36 phút, ngày 3 tháng6 năm2067, tại đoạn đường hoàng hoa thắm em chứng kiến một vụ tai nạn giao thông xảy ra giữa xe máy mang biển kiểm soát 14A.6776và xe 14A3663. Nguyên nhân ban đầu là do hai phương tiện di chuyển nhanh và không chú ý quan sát nên đã va chạm với nhau. Sau cú va chạm, người điều khiển xe bị ngã xuống đường và bị thương. Nhiều người dân xung quanh đã nhanh chóng đến giúp đỡ và gọi cơ quan công an cùng xe cấp cứu đến hiện trường.
Em viết bản tường trình này để trình bày lại đúng sự việc mà em đã chứng kiến.
Em xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật.
Hà Lầm, ngày 3 tháng 6 năm 2067
Người viết tường trình
(Ký và ghi rõ họ tên)
Bích
Kiều Ngọc Bích
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH
(Về việc hai bạn đánh nhau trong lớp)
Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 7a4
Em tên là:Kiều Ngọc Bích
Học sinh lớp:7A4
Em xin trình bày lại sự việc mà em đã chứng kiến như sau:
Vào giờ ra chơi ngày 6 tháng 7năm2036 , tại lớp học, em thấy bạn Hải Anh và bạn Tấn Tài xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau lớn tiếng. Sau đó, hai bạn đã xô đẩy rồi đánh nhau trước sự chứng kiến của nhiều bạn trong lớp. Một số bạn đã vào can ngăn và báo với cô giáo. Sau khi được nhắc nhở, hai bạn đã dừng lại và trật tự lớp học được ổn định.
Em viết bản tường trình này để trình bày đúng sự việc em đã chứng kiến với cô giáo chủ nhiệm.
Em xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật
Hà Lầm, ngày 6 tháng 7 năm 2036
Người viết tường trình
(Ký và ghi rõ họ tên)
Bích
Kiều Ngọc Bích
Tóm tắt 5 – 6 dòng:
Văn bản “Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa” giới thiệu những cách đi lại và vận chuyển hàng hóa của đồng bào dân tộc thời trước. Do sống ở vùng núi, sông suối hiểm trở nên mỗi dân tộc có phương tiện phù hợp riêng như ngựa thồ, voi, thuyền độc mộc, gùi,… Những phương tiện ấy giúp con người đi lại, lao động và trao đổi hàng hóa dễ dàng hơn. Chúng thể hiện sự sáng tạo và khả năng thích nghi với thiên nhiên của người dân. Qua văn bản, người đọc hiểu thêm về nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc Việt Nam.
Tóm tắt 10 – 12 dòng:
Văn bản “Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa” giới thiệu về những phương tiện đi lại và chở hàng của đồng bào dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc sống ở điều kiện tự nhiên khác nhau nên sử dụng các phương tiện riêng phù hợp với địa hình. Ở vùng núi, người dân thường dùng ngựa thồ, voi hoặc gùi để vận chuyển hàng hóa. Tại những nơi có nhiều sông suối, người dân sử dụng thuyền độc mộc để đi lại. Các phương tiện này đều được làm từ những vật liệu gần gũi trong thiên nhiên. Chúng phục vụ cho lao động sản xuất, săn bắt và trao đổi hàng hóa giữa các vùng. Những phương tiện ấy thể hiện sự thông minh, sáng tạo của con người trong cuộc sống xưa. Đồng thời, chúng còn phản ánh nét văn hóa riêng của từng dân tộc. Qua văn bản, người đọc hiểu hơn về đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam ngày trước. Văn bản cũng góp phần giúp mọi người thêm yêu quý và trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
5 đến 6 dòng:
Văn bản “Ghe xuồng Nam Bộ” giới thiệu về ghe xuồng – phương tiện quen thuộc của người dân miền sông nước Nam Bộ. Do có nhiều sông ngòi, kênh rạch nên ghe xuồng giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hằng ngày. Có nhiều loại ghe xuồng khác nhau, phục vụ việc đi lại, đánh bắt cá và buôn bán trên sông. Ghe xuồng còn gắn liền với những chợ nổi đặc trưng của Nam Bộ. Qua văn bản, tác giả giúp người đọc hiểu thêm về nét văn hóa độc đáo và con người Nam Bộ.
10 đến 12 dòng :
Văn bản “Ghe xuồng Nam Bộ” giới thiệu về ghe xuồng – phương tiện đi lại quen thuộc của người dân Nam Bộ. Do sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên ghe xuồng giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống nơi đây. Có nhiều loại ghe xuồng khác nhau như xuồng ba lá, ghe tam bản, ghe chài,… mỗi loại đều có công dụng riêng. Ghe xuồng được dùng để đi lại, chở hàng hóa, đánh bắt cá và buôn bán trên sông. Hình ảnh ghe xuồng còn gắn liền với các chợ nổi nổi tiếng của miền Nam. Người dân Nam Bộ rất khéo léo trong việc đóng và sử dụng ghe xuồng. Những chiếc ghe thường được làm bằng gỗ chắc chắn để chịu nước tốt. Ghe xuồng không chỉ là phương tiện lao động mà còn thể hiện nét văn hóa đặc sắc của vùng sông nước. Qua văn bản, tác giả giúp người đọc hiểu hơn về cuộc sống và con người Nam Bộ. Đồng thời, văn bản cũng thể hiện tình yêu và niềm tự hào đối với văn hóa miền sông nước Việt Nam.