TRẦN THU NGÂN
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Đoạn trích “Mùa thu cho con” đã để lại trong em những rung động thật đẹp về tuổi trẻ và hành trình trưởng thành của mỗi con người. Bằng giọng thơ nhẹ nhàng mà tha thiết, tác giả đã mở ra một bức tranh mùa thu trong trẻo với “nắng mùa thu như ươm vàng rót mật”, thứ nắng không chỉ đẹp bởi sắc màu dịu ngọt mà còn gợi cảm giác ấm áp, nâng niu như tình yêu thương của gia đình và thầy cô dành cho con trẻ. Trong không gian ấy, tiếng trống trường vang lên “rộn rã”, hòa cùng “bước chân vui”, làm hiện lên niềm háo hức, say mê của tuổi học trò trước cánh cửa tri thức rộng mở. Nhưng sâu sắc hơn cả, đoạn thơ giống như một lời gửi gắm đầy yêu thương của người đi trước dành cho thế hệ trẻ. Điệp ngữ “Con hãy” vang lên như một lời động viên tha thiết, khuyên con phải sống tự tin, bản lĩnh, bước đi bằng “đôi chân kiêu hãnh” và giữ trong tim “ánh lửa tự hào”. Đó không chỉ là niềm tự hào về bản thân mà còn là niềm tin vào tương lai, vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Hình ảnh “cháy hết mình cho hoài bão” khiến em cảm nhận rõ vẻ đẹp của tuổi trẻ — tuổi của khát vọng, của đam mê và dám sống hết mình vì ước mơ. Đoạn thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp hồn nhiên của tuổi học trò mà còn nhắc nhở mỗi người trẻ cần biết nuôi dưỡng lí tưởng, sống có mục tiêu và không ngừng cố gắng để tuổi trẻ trở thành quãng đời rực rỡ và ý nghĩa nhất.
Câu 2:
Trong cuộc sống, thành công không đến với những người dễ dàng bỏ cuộc mà thuộc về những ai biết bền bỉ vượt qua khó khăn. Thế nhưng hiện nay, nhiều bạn trẻ lại thiếu sự kiên trì: gặp bài toán khó thì nhanh chóng nản lòng, đối mặt với thất bại liền mất niềm tin vào bản thân, thậm chí từ bỏ ước mơ chỉ vì vài lần vấp ngã. Điều đó cho thấy việc rèn luyện sự kiên trì là vô cùng cần thiết đối với mỗi người trẻ trên hành trình trưởng thành.
Kiên trì là sự bền bỉ, không chùn bước trước khó khăn, thử thách để theo đuổi mục tiêu đến cùng. Người có lòng kiên trì luôn biết cố gắng từng ngày, không dễ dàng đầu hàng trước thất bại. Trong cuộc sống, không có con đường nào chỉ trải đầy hoa hồng. Nếu thiếu đi sự kiên trì, con người sẽ dễ gục ngã trước trở ngại và khó chạm tới thành công. Thực tế cho thấy, nhiều người thành công đều từng trải qua vô số thất bại. Thomas Edison đã phải thử nghiệm hàng nghìn lần mới phát minh ra bóng đèn điện. Chính sự bền bỉ và quyết tâm không bỏ cuộc đã giúp ông đạt được thành tựu vĩ đại.
Để rèn luyện sự kiên trì, trước hết mỗi người cần xác định cho mình mục tiêu rõ ràng và ý nghĩa. Khi có mục tiêu, con người sẽ có động lực để cố gắng vượt qua khó khăn. Bên cạnh đó, cần tập thói quen không nản chí trước thất bại. Thất bại không phải dấu chấm hết mà là bài học giúp ta trưởng thành hơn. Mỗi lần vấp ngã là một cơ hội để nhìn lại bản thân, rút kinh nghiệm và tiếp tục tiến lên. Ngoài ra, chúng ta nên rèn luyện tính kỉ luật trong học tập và cuộc sống bằng những việc nhỏ như hoàn thành bài tập đúng hạn, giữ lời hứa với bản thân hay kiên trì theo đuổi một thói quen tốt. Chính những điều nhỏ bé ấy sẽ tạo nên ý chí mạnh mẽ. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần động viên, khích lệ người trẻ biết cố gắng thay vì chỉ chú trọng kết quả cuối cùng.
Tuy nhiên, kiên trì không có nghĩa là cố chấp hay bất chấp mọi thứ để theo đuổi mục tiêu sai lầm. Kiên trì cần đi cùng sự tỉnh táo, biết thay đổi phương pháp khi cần thiết để đạt hiệu quả tốt hơn.
Là học sinh, em hiểu rằng muốn chạm tới ước mơ, bản thân phải học cách bền bỉ trước mọi thử thách. Chỉ khi có sự kiên trì, con người mới đủ bản lĩnh vượt qua khó khăn và tạo nên giá trị cho cuộc sống của mình.
Câu 1.
Theo văn bản, vào ngày 5.6.1911, người rời Bến Nhà Rồng để ra đi tìm đường cứu nước là Nguyễn Tất Thành (Văn Ba).
Câu 2.
Đoạn văn được trình bày theo trình tự thời gian, từ sự kiện ngày 5.6.1911 Bác ra đi tìm đường cứu nước đến sau 30 năm bôn ba trở về Tổ quốc.
Câu 3.
- Văn bản sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ là: hình ảnh Bến Nhà Rồng.
- Tác dụng: giúp văn bản sinh động, trực quan hơn; giúp người đọc dễ hình dung về địa danh lịch sử; tăng sức hấp dẫn và làm nổi bật giá trị lịch sử của Bến Nhà Rồng.
Câu 4.
Nhan đề “Bến Nhà Rồng và dấu ấn ở Thành phố mang tên Bác” có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung văn bản. Nhan đề đã khái quát được đối tượng chính là Bến Nhà Rồng — nơi gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, đặc biệt là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Đồng thời, nhan đề còn nhấn mạnh dấu ấn lịch sử, văn hóa và ý nghĩa thiêng liêng của di tích này đối với Thành phố Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam.
Câu 5.
Việc gìn giữ, bảo tồn các di tích lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những di tích ấy là chứng nhân của lịch sử dân tộc, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về truyền thống yêu nước và sự hi sinh của cha ông. Bảo tồn di tích còn góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử quý báu cho mai sau. Đồng thời, đây cũng là cách thể hiện lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước. Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, bảo vệ và tuyên truyền về các di tích lịch sử của đất nước.
\(I\) (g.g) suy ra \(\frac{A I}{A C} = \frac{A E}{A I}\) hay \(A I^{2} = A E . A C\) (1)
Chứng minh tương tự:
\(\Delta A I K \sim \Delta A K B\) (g.g) suy ra \(\frac{A K}{A B} = \frac{A F}{A K}\) hay \(A K^{2} = A B . A F\) (2)
Mà \(\Delta A B E \sim \Delta A C F\) (g.g) suy ra \(\frac{A B}{A C} = \frac{A E}{A F}\) hay \(A B . A F = A C . A E\) (3)
Từ (1), (2) và (3) ta có \(A I^{2} = A K^{2}\) suy ra \(A I = A K\).
b) Vì \(\hat{A} = 60^{\circ}\) suy ra \(\hat{B_{1}} = 30^{\circ}\)
Trong tam giác \(A B E\) vuông tại \(E\) nên \(A E = \frac{1}{2} A B ,\)
Trong tam giác \(A F C\) vuông tại \(F\) có \(\hat{C_{1}} = 30^{\circ}\)suy ra \(A F = \frac{1}{2} A C\).
Do đó, \(\Delta A E F \sim \Delta A B C\) (c.g.c).
suy ra \(\frac{S_{A E F}}{S_{A B C}} = \left(\left(\right. \frac{A E}{A B} \left.\right)\right)^{2} = \frac{1}{4}\).
Vậy \(S_{A E F} = \frac{1}{4} . 120 = 30\) cm\(^{2}\).
Có \(B F\) cắt \(D C\) tại \(K\), \(B E\) cắt \(D C\) tại \(I\), và \(E F\) cắt \(A B\) tại \(G\).
\(\Delta F A B\) có \(D K\) // \(A B\) suy ra \(\frac{D K}{A B} = \frac{F D}{F A}\) (1)
\(\Delta F A G\) có \(D H\) // \(A G\) suy ra \(\frac{D H}{A G} = \frac{F D}{F A}\)(2)
Từ (1) và (2) suy ra \(\frac{D K}{A B} = \frac{D H}{A G}\) hay \(\frac{D K}{D H} = \frac{A B}{A G}\) (*)
Tương tự \(\Delta E I C\) có \(A B\) // \(I C\) suy ra \(\frac{I C}{A B} = \frac{E C}{E A}\) (3)
\(\Delta E H C\) có \(H C\) // \(A B\) suy ra \(\frac{H C}{A G} = \frac{E C}{E A}\)(4)
Từ (3) và (4) ta có \(\frac{I C}{A B} = \frac{H C}{A G}\) hay \(\frac{I C}{H C} = \frac{A B}{A G}\) (**)
Từ (*) và (**) ta có \(\frac{D K}{D H} = \frac{I C}{H C}\).
Mà \(D H = H C\) (gt) suy ra \(D K = I C\)
Mặt khác \(B D = B C\) (gt) nên \(\Delta B D C\) cân
Suy ra \(\hat{B D K} = \hat{B C I}\)
Vậy \(\Delta B D K = \Delta B C I\) (c.g.c)
Suy ra \(\hat{D B K} = \hat{C B I}\).
a) \(\Delta A B E\) có \(A M\) // \(D G\) suy ra \(\frac{A E}{E G} = \frac{E B}{E D}\) (1)
\(\Delta A D E\) có \(A D\) // \(B K\) suy ra \(\frac{E B}{E D} = \frac{E K}{E A}\)(2)
Từ (1) và (2) ta có \(\frac{A E}{E G} = \frac{E K}{E A}\) nên \(A E^{2} = E K . E G\).
b) Từ \(\frac{1}{A E} = \frac{1}{A K} + \frac{1}{A G}\) suy ra \(\frac{A E}{A K} + \frac{A E}{A G} = 1\)
\(\Delta A D E\) có \(A D\) // \(B C\) suy ra \(\frac{A E}{E K} = \frac{E D}{E B}\)
\(\frac{A E}{A E + E K} = \frac{E D}{E D + E B}\)
\(\frac{A E}{A K} = \frac{E D}{D B}\) (3)
Xét \(\Delta A E B\) có \(A B\) // \(D G\) suy ra \(\frac{A E}{E G} = \frac{B E}{E D}\)
\(\frac{A E}{A E + E G} = \frac{B E}{B E + E D}\)
\(\frac{A E}{A G} = \frac{B E}{B D}\) (4)
Khi đó \(\frac{A E}{A K} + \frac{A E}{A G} = \frac{E D}{B D} + \frac{B E}{B D} = 1\).
c) Ta có \(\frac{B K}{K C} = \frac{A B}{C G}\) suy ra \(B K = \frac{K C . A B}{C G}\) và \(\frac{K C}{A D} = \frac{C G}{D G}\).
Suy ra \(D G = \frac{A D . C G}{K C}\)
Nhân theo vế ta được \(B K . D G = A B . A D\)không đổi.