VƯƠNG MAI LINH

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của VƯƠNG MAI LINH
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, có nhiều vị anh hùng đã hiến dâng cuộc đời mình để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Trong số đó, Trần Quốc Toản là một vị anh hùng đặc biệt. Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng với lòng yêu nước sâu sắc và ý chí kiên cường, chàng trai trẻ họ Trần đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong trang sử vẻ vang của dân tộc.

Vào năm 1284, khi giặc Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Diên Hồng để bàn kế sách chống giặc. Tại cuộc họp quan trọng này, các bô lão, quần thần và các tướng lĩnh đều được mời tham dự. Trần Quốc Toản khi đó mới 16 tuổi, con nhà tướng, lòng đầy nhiệt huyết yêu nước, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên không được mời vào dự. Đứng ngoài cửa điện, lòng chàng trai trẻ đầy căm phẫn và uất ức trước nguy cơ đất nước bị xâm lược.

Trong tay cầm quả cam, vì quá tức giận và đau xót trước tình hình đất nước, Quốc Toản đã vô tình bóp nát quả cam không hay biết. Chất nước cam chảy ra, thấm đẫm cả tay áo mà chàng không hề hay. Đó là biểu tượng hùng hồn cho lòng yêu nước sôi sục, quyết tâm góp phần đánh đuổi giặc ngoại xâm của vị anh hùng trẻ tuổi.

Trở về nhà, không cam chịu bất lực, Trần Quốc Toản quyết tâm đóng góp sức mình cho công cuộc chống giặc. Chàng đã tập hợp những người thân, gia nhân và những thanh niên yêu nước quanh vùng, tự trang bị vũ khí và tập luyện quân sự. Trên lá cờ của đội quân trẻ có thêu tám chữ lớn: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Đánh tan kẻ thù mạnh, đền đáp ơn vua). Khẩu hiệu đó thể hiện rõ ý chí kiên cường và lòng yêu nước của chàng trai trẻ và đội quân của mình.

Với đội quân trẻ tuổi nhưng đầy nhiệt huyết, Trần Quốc Toản đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Dù đội quân không lớn nhưng với tài chỉ huy khéo léo, tinh thần quả cảm, đội quân của Quốc Toản đã lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc.

Trong trận chiến đẫm máu tại bến Chương Dương, đội quân của Trần Quốc Toản đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Họ xông pha nơi hiểm nguy, tiêu diệt được nhiều quân giặc. Chính trong trận chiến này, Quốc Toản đã thể hiện tài năng quân sự xuất chúng của mình dù tuổi còn rất trẻ. Sau nhiều trận đánh, đội quân của Trần Quốc Toản được sáp nhập vào đạo quân của Trần Quang Khải. Hai đội quân hợp lại, tạo nên một sức mạnh lớn lao, góp phần quan trọng vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta trước đạo quân xâm lược Nguyên Mông năm 1285.

Mặc dù cuộc đời của Trần Quốc Toản ngắn ngủi, nhưng tấm gương yêu nước, tinh thần dũng cảm và ý chí quyết tâm của chàng trai trẻ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Câu chuyện về quả cam bị bóp nát trong tay Quốc Toản đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước nồng nàn của tuổi trẻ Việt Nam qua bao thế hệ.

Hình ảnh chàng trai trẻ Trần Quốc Toản với tấm lòng yêu nước, dám nghĩ dám làm, sẵn sàng hy sinh vì đất nước đã trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Tinh thần Trần Quốc Toản vẫn sống mãi trong lòng dân tộc, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, độc lập, tấm gương của Trần Quốc Toản vẫn có ý nghĩa to lớn, thôi thúc thế hệ trẻ phát huy tinh thần yêu nước, dám nghĩ dám làm, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Qua câu chuyện về Trần Quốc Toản, chúng ta thấy rằng lòng yêu nước không phân biệt tuổi tác. Dù còn trẻ, nhưng với quyết tâm và lòng yêu nước, Trần Quốc Toản đã làm nên những chiến công hiển hách, góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc trước kẻ thù xâm lược. Tấm gương của chàng trai trẻ Trần Quốc Toản sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau.

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, có nhiều vị anh hùng đã hiến dâng cuộc đời mình để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Trong số đó, Trần Quốc Toản là một vị anh hùng đặc biệt. Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng với lòng yêu nước sâu sắc và ý chí kiên cường, chàng trai trẻ họ Trần đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong trang sử vẻ vang của dân tộc.

Vào năm 1284, khi giặc Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Diên Hồng để bàn kế sách chống giặc. Tại cuộc họp quan trọng này, các bô lão, quần thần và các tướng lĩnh đều được mời tham dự. Trần Quốc Toản khi đó mới 16 tuổi, con nhà tướng, lòng đầy nhiệt huyết yêu nước, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên không được mời vào dự. Đứng ngoài cửa điện, lòng chàng trai trẻ đầy căm phẫn và uất ức trước nguy cơ đất nước bị xâm lược.

Trong tay cầm quả cam, vì quá tức giận và đau xót trước tình hình đất nước, Quốc Toản đã vô tình bóp nát quả cam không hay biết. Chất nước cam chảy ra, thấm đẫm cả tay áo mà chàng không hề hay. Đó là biểu tượng hùng hồn cho lòng yêu nước sôi sục, quyết tâm góp phần đánh đuổi giặc ngoại xâm của vị anh hùng trẻ tuổi.

Trở về nhà, không cam chịu bất lực, Trần Quốc Toản quyết tâm đóng góp sức mình cho công cuộc chống giặc. Chàng đã tập hợp những người thân, gia nhân và những thanh niên yêu nước quanh vùng, tự trang bị vũ khí và tập luyện quân sự. Trên lá cờ của đội quân trẻ có thêu tám chữ lớn: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Đánh tan kẻ thù mạnh, đền đáp ơn vua). Khẩu hiệu đó thể hiện rõ ý chí kiên cường và lòng yêu nước của chàng trai trẻ và đội quân của mình.

Với đội quân trẻ tuổi nhưng đầy nhiệt huyết, Trần Quốc Toản đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Dù đội quân không lớn nhưng với tài chỉ huy khéo léo, tinh thần quả cảm, đội quân của Quốc Toản đã lập nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc.

Trong trận chiến đẫm máu tại bến Chương Dương, đội quân của Trần Quốc Toản đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Họ xông pha nơi hiểm nguy, tiêu diệt được nhiều quân giặc. Chính trong trận chiến này, Quốc Toản đã thể hiện tài năng quân sự xuất chúng của mình dù tuổi còn rất trẻ. Sau nhiều trận đánh, đội quân của Trần Quốc Toản được sáp nhập vào đạo quân của Trần Quang Khải. Hai đội quân hợp lại, tạo nên một sức mạnh lớn lao, góp phần quan trọng vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta trước đạo quân xâm lược Nguyên Mông năm 1285.

Mặc dù cuộc đời của Trần Quốc Toản ngắn ngủi, nhưng tấm gương yêu nước, tinh thần dũng cảm và ý chí quyết tâm của chàng trai trẻ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Câu chuyện về quả cam bị bóp nát trong tay Quốc Toản đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước nồng nàn của tuổi trẻ Việt Nam qua bao thế hệ.

Hình ảnh chàng trai trẻ Trần Quốc Toản với tấm lòng yêu nước, dám nghĩ dám làm, sẵn sàng hy sinh vì đất nước đã trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Tinh thần Trần Quốc Toản vẫn sống mãi trong lòng dân tộc, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, độc lập, tấm gương của Trần Quốc Toản vẫn có ý nghĩa to lớn, thôi thúc thế hệ trẻ phát huy tinh thần yêu nước, dám nghĩ dám làm, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Qua câu chuyện về Trần Quốc Toản, chúng ta thấy rằng lòng yêu nước không phân biệt tuổi tác. Dù còn trẻ, nhưng với quyết tâm và lòng yêu nước, Trần Quốc Toản đã làm nên những chiến công hiển hách, góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc trước kẻ thù xâm lược. Tấm gương của chàng trai trẻ Trần Quốc Toản sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau.

Có một câu nói mà con người của muôn thời đại đều cần phải khắc ghi, đó là nếu đánh mất và bỏ mặc quá khứ, bạn không bao giờ có hiện tại và tương lai. Hay một cách ngắn gọn, nó đằm mình trong câu tục ngữ truyền thống bao đời của dân tộc ta "Uống nước nhớ nguồn”. Chính vì thế, hàng năm, vẫn có những lễ hội truyền thống để nhắc nhở con cháu đời đời về nguồn cội vĩnh hằng của cha ông, lễ hội đền hùng chính là mang ý nghĩa thiêng liêng ấy.

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Khắp miền truyền mãi câu ca

Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”

Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 trở thành ngày lễ trọng đại của dân tộc. Tôi cũng đã có dịp may mắn một lần được hành hương về đất Tổ, phong cảnh, những câu chuyện lịch sử về các vị vua Hùng - những người đã dựng xây đất nước đã in sâu trong tâm trí tôi.

Lễ hội đền Hùng là dịp những đứa con ở khắp nơi trên tổ quốc cùng trở về Phú Thọ quê tổ để cùng thể hiện lòng thờ kính thiêng liêng dành cho nguồn cội lịch sử của dân tộc ta, để tri ân các vị vua Hùng đã có công dựng nước để con cháu sau này đời đời được sống trên mảnh đất giàu truyền thống và mang những nét đẹp tâm hồn riêng. Hàng năm, cứ vào dịp này, những người con đất Việt từ khắp nơi trên tổ quốc, thậm chí cả kiều bào ta sinh sống công tác ở nước ngoài cũng luôn lắng lòng để tưởng nhớ về lễ hội truyền thống của dân tộc. Chính vì mang trong nó không chỉ tính nghi lễ mà còn bao chứa cả lớp trầm tích văn hóa lịch sử ngàn đời cùng đạo lí dân tộc sâu sắc, mà ngày lễ giỗ tổ Hùng Vương được xem là ngày quốc lễ của dân tộc ta.

Giỗ Tổ bao gồm có 2 phần riêng biệt đó là phần lễ và phần hội. Lễ Rước Kiệu với các đền, chùa trên núi, các vị lãnh đạo của đất nước dâng hương lên vua Hùng tổ chức tại đền Thượng. Các nghi thức tổ chức, dâng hương sẽ được tổ chức long trọng, thành kính và sẽ được báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin. Đồng bào trong cả nước được dâng lễ trong các đền, chùa, với sự thành kính và cầu mong yên bình, làm ăn thành công.

Bên cạnh đó phải nhắc đến lễ Dâng Hương các đền, chùa trên núi. Lễ hội còn giúp người dân tham gia sinh hoạt văn hoá cổ xưa. Người dân sẽ được xem các trò chơi như đấu vật, chọi gà, rước kiệu, đánh cờ người…. Còn có sân khấu riêng của các đoàn nghệ thuật: chèo, kịch nói, hát quan họ,… Các nghệ sĩ, nghệ nhân từ nhiều nơi về đây để trình diễn những làn điệu hát xoan mượt mà, đặc sắc mang đến cho cho lễ hội đền Hùng đặc trưng riêng của Đất Tổ.

Những người đến đây không chỉ là xem lễ hội mà còn thể hiện sự tâm linh, thành kính với quê hương đất Tổ, ai cũng biết đây là nơi gốc gác linh thiêng, cội nguồn của dân tộc. Hàng năm, cứ đến mùng 10 tháng 3, người dân và du khách tham gia trẩy hội đền Hùng, đây là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lễ hội rất linh thiêng và thể hiện sự biết ơn công lao dựng nước và giữ nước của các vua Hùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Rất nhiều mẩu chuyện kể về cuộc đời của Người. Qua đó, chúng ta thấy được những đức tính tốt đẹp của người.

Vào giữa mùa thu năm 1954, Bác đến tham dự “Hội nghị rút kinh nghiệm cải cách ruộng đất” ở Hà Bắc. Tại hội nghị, khi biết có lệnh của Trung ương rút bớt một số cán bộ đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai cũng háo hức muốn đi, đặc biệt là những người quê ở Hà Nội. Sau nhiều năm xa cách quê hương, mọi người đều mong muốn được cấp trên chiếu cố. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có nhiều phân tán. Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Trời đã vào thu nhưng vẫn còn khá nóng, mồ hôi ướt đẫm hai bên vai áo nâu của Bác. Mở đầu, Bác trò chuyện về tình hình thời sự. Khi nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt. Rồi Bác hỏi các đồng chí cán bộ về chức năng của từng bộ phận của đồng hồ. Thế rồi, Bác mới hỏi:

- Trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng?

Mọi người đều im lặng, không ai trả lời:

- Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không?

- Thưa, không được ạ!- Các cán bộ lại đồng thanh đáp.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

- Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: Trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ… cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì còn là cái đồng hồ được không?

Nghe xong, cả hội trường trở nên im lặng. Mỗi người đều có những suy nghĩ riêng về lời nói của Bác.

Vào một dịp cuối năm 1954, Bác đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Thăm nơi ăn, chốn ngủ của các chiến sĩ bộ đội xong, Bác đã đã trò chuyện với họ. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quýt, chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại nói như vậy?

Bác vui vẻ nói tiếp:

- Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy. Nếu hoán đổi vị trí từng bộ phận cho nhau thì có còn là chiếc đồng hồ nữa không? Sau câu chuyện của Bác, anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành.

Không chỉ vậy, chiếc đồng hồ quả quýt còn là một hiện vật vô giá thể hiện tình cảm Quốc tế đối với Bác, đó là chiếc đồng hồ do Tổ chức Quốc tế “Cứu Tế đỏ” tặng, Bác luôn giữ nó trong mình, trong những năm tháng bị cầm tù gian khổ cho đến ngày Việt Nam giành được độc lập.

Câu chuyện về chiếc đồng hồ đã cho thấy được những phẩm chất đẹp đẽ của Bác Hồ, cũng như bài học sâu sắc mà bác muốn dạy cán bộ, chiến sĩ của mình.

Kí hiệu A, B là vị trí ông A và ông B đang đứng. C là vị trí bộ phát wifi.

Trong \(\Delta A B C\) có \(B C > A B - A C = 55 - 20 = 35\).

Suy ra khoảng cách từ ông B đến vị trí bộ phát wifi lớn hơn bán kính hoạt động của bộ phát. Do đó ông B không nhận được sóng wifi.

Khoảng cách từ ông A đến bộ phát wifi là \(20\) m(nhỏ hơn bán kính hoạt động của bộ phát) nên ông A nhân được sóng wifi.

Kí hiệu A, B là vị trí ông A và ông B đang đứng. C là vị trí bộ phát wifi.

Trong \(\Delta A B C\) có \(B C > A B - A C = 55 - 20 = 35\).

Suy ra khoảng cách từ ông B đến vị trí bộ phát wifi lớn hơn bán kính hoạt động của bộ phát. Do đó ông B không nhận được sóng wifi.

Khoảng cách từ ông A đến bộ phát wifi là \(20\) m(nhỏ hơn bán kính hoạt động của bộ phát) nên ông A nhân được sóng wifi.

Kí hiệu A, B là vị trí ông A và ông B đang đứng. C là vị trí bộ phát wifi.

Trong \(\Delta A B C\) có \(B C > A B - A C = 55 - 20 = 35\).

Suy ra khoảng cách từ ông B đến vị trí bộ phát wifi lớn hơn bán kính hoạt động của bộ phát. Do đó ông B không nhận được sóng wifi.

Khoảng cách từ ông A đến bộ phát wifi là \(20\) m(nhỏ hơn bán kính hoạt động của bộ phát) nên ông A nhân được sóng wifi.

a)

Xét △𝐴𝐷𝑀△ADM và △𝐴𝐵𝑀△ABM có:

 𝐴𝐷=𝐴𝐵AD=AB (giả thiết) 

𝐷𝑀=𝐵𝑀 (M là trung điểm của BD ) 

AM chung

Suy ra △𝐴𝐷𝑀=△𝐴𝐵𝑀 (c.c.c).

Do đó\(\) BAM=DAM (góc tương ứng)

Suy ra AM là tia phân giác góc BAC

b)

Xét \(\triangle A D M\) và \(\triangle A B M\) có \(A D = A B\) (giả thiết); \(D M = B M\) (giả thiết \(M\) là trung điểm của \(B D\) \(A M\) chung. Suy ra \(\triangle A D M = \triangle A B M\) (c.c.c).

Do đó \(\hat{D A M} = \hat{B A M}\) (góc tương ứng). Vì vậy \(A M\) là tia phân giác góc \(A\) của tam giác \(A B C\).

c)

Theo chứng minh trên, có \(A M\) là tia phân giác góc \(A\). Lại có \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(B\) với tia \(A E\) (giả thiết).

Như vậy \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(A\) với tia phân giác góc \(B\). Suy ra \(C E\) là phân giác góc \(C\) (theo định lí: ba đường phân giác của tam giác đồng quy tại một điểm).

Từ đó \(\hat{A C E} = \frac{1}{2} \hat{C} = 1 5^{\circ}\).

Lãi suất tiên gửi ngân hàng kì hạn 1 năm của một ngân hàng là \(x \%\). Một người gửi vào ngân hàng đó \(300\) triệu đồng theo phương thức lãi nhập gốc, tức là đến kì đáo hạn nếu người gửi không rút lãi thì toàn bộ số tiền lãi sẽ được nhập vào tiền vốn cho kì tiếp theo.

a) Viết đa thức \(A\) biểu diễn số tiền người đó nhận được (cả gốc lẫn lãi) sau khi gửi 1 năm.

b) Viết đa thức \(B\) biểu diễn số tiền người đó nhận được (cả gốc lẫn lãi) sau khi gửi 2 năm.

c) Viết đa thức \(C\) biểu diễn số tiền người đó nhận được (cả gốc lẫn lãi) sau khi gửi 2 năm.

d) Nếu lãi suất năm của ngân hàng là \(6 \%\) thì sau 1 năm, 2 năm, 3 năm khi rút cả gốc lẫn lãi người gửi nhận được bao nhiêu tiền?

Hướng dẫn giải:

a) (0,5 điểm)

Gốc (triệu đồng)

Lãi (triệu đồng)

Gốc+Lãi (triệu đồng)

\(300\)

\(300. x : 100 = 3 x\)

\(300 + 3 x\)

Sau 1 năm, người đó nhận được (nếu rút cả gốc lẫn lãi)

\(A = 3 x + 300\) (triệu đồng)

b) (0,5 điểm)

Gốc (triệu đồng)

Lãi (triệu đồng)

Gốc+Lãi (triệu đồng)

\(A = 3 x + 300\)

\(A . x : 100 = 0 , 03 x^{2} + 3 x\)

\(0 , 03 x^{2} + 6 x + 300\)

Sau 2 năm, người đó nhận được (nếu rút cả gốc lẫn lãi)

\(B = 0 , 03 x^{2} + 6 x + 300\) (triệu đồng)

c) (0,5 điểm)

Gốc (triệu đồng)

Lãi (triệu đồng)

Gốc+Lãi (triệu đồng)

\(B = 0 , 03 x^{2} + 6 x + 300\)

\(B . x : 100 = 0 , 0003 x^{3} + 0 , 06 x^{2} + 3 x\)

\(0 , 0003 x^{3} + 0 , 09 x^{2} + 9 x + 300\)

Sau 3 năm, người đó nhận được (nếu rút cả gốc lẫn lãi)

\(C = 0 , 0003 x^{3} + 0 , 09 x^{2} + 9 x + 300\) (triệu đồng)

 d) (0,5 điểm)

Nếu lãi suất năm của ngân hàng là \(6 \%\) thì \(x = 6\). Số tiền người đó nhận được khi rút cả gốc lẫn lãi sau 1 năm là giá trị của \(A\) tại \(x = 6\) và bằng \(318\) triệu.

Tương tự, nếu rút cả gốc và lãi sau 2 năm thì người đó được nhận \(337 , 08\) triệu đồng.

Nếu rút cả gốc và lãi sau 3 năm thì người đó được nhận \(357 , 3048\) triệu đồng.

a)

Gốc (triệu đồng)

Lãi (triệu đồng)

Gốc+Lãi (triệu đồng)

\(300\)

\(300. x : 100 = 3 x\)

\(300 + 3 x\)

Sau 1 năm, người đó nhận được (nếu rút cả gốc lẫn lãi)

\(A = 3 x + 300\) (triệu đồng)

b) 

Gốc (triệu đồng)

Lãi (triệu đồng)

Gốc+Lãi (triệu đồng)

\(A = 3 x + 300\)

\(A . x : 100 = 0 , 03 x^{2} + 3 x\)

\(0 , 03 x^{2} + 6 x + 300\)

Sau 2 năm, người đó nhận được (nếu rút cả gốc lẫn lãi)

\(B = 0 , 03 x^{2} + 6 x + 300\) (triệu đồng)

c)

Gốc (triệu đồng)

Lãi (triệu đồng)

Gốc+Lãi (triệu đồng)

\(B = 0 , 03 x^{2} + 6 x + 300\)

\(B . x : 100 = 0 , 0003 x^{3} + 0 , 06 x^{2} + 3 x\)

\(0 , 0003 x^{3} + 0 , 09 x^{2} + 9 x + 300\)

Sau 3 năm, người đó nhận được (nếu rút cả gốc lẫn lãi)

\(C = 0 , 0003 x^{3} + 0 , 09 x^{2} + 9 x + 300\) (triệu đồng)

 d)

Nếu lãi suất năm của ngân hàng là \(6 \%\) thì \(x = 6\). Số tiền người đó nhận được khi rút cả gốc lẫn lãi sau 1 năm là giá trị của \(A\) tại \(x = 6\) và bằng \(318\) triệu.

Tương tự, nếu rút cả gốc và lãi sau 2 năm thì người đó được nhận \(337 , 08\) triệu đồng.

Nếu rút cả gốc và lãi sau 3 năm thì người đó được nhận \(357 , 3048\) triệu đồng.