NGUYỄN THỊ NGỌC NHƯ

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của NGUYỄN THỊ NGỌC NHƯ
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường, lớp 7A chúng em đã có một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa đến với Khu di tích Lịch sử Thanh Tùng, nơi ghi dấu bao chiến công hiển hách của cha ông ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vừa bước chân đến cổng khu di tích, lòng em đã trào dâng một cảm xúc thiêng liêng và kính cẩn.


Con đường dẫn vào khu di tích rợp bóng cây xanh mát, hai bên là những bức phù điêu tái hiện sinh động các trận đánh oai hùng. Đoàn chúng em được cô hướng dẫn viên thuyết minh về lịch sử hình thành và những đóng góp to lớn của các anh hùng liệt sĩ tại đây. Em đặc biệt ấn tượng với tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” sừng sững giữa quảng trường, nơi có hàng ngàn ngôi mộ của các anh hùng đã hy sinh. Đứng trước những nấm mồ im lìm, lòng em dâng lên sự xúc động xen lẫn lòng biết ơn sâu sắc.


Sau đó, chúng em còn được thăm Bảo tàng Lịch sử, nơi trưng bày vô số hiện vật quý giá như vũ khí, quân phục, giấy tờ, hình ảnh,… đã từng gắn bó với các chiến sĩ năm xưa. Mỗi hiện vật đều như kể một câu chuyện về sự gian khổ, hy sinh nhưng cũng đầy quả cảm. Chuyến đi không chỉ giúp em hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc mà còn hun đúc trong em tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trách nhiệm phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Chuyến tham quan tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại trong em những bài học sâu sắc và những kỷ niệm khó quên.


CÂu 1 : Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 : Bốn dòng thơ đầu nhắc đến những hình ảnh thiên nhiên sau:

• Cây hoè với tán lá xanh um tùm, che rợp bóng mát.

• Cây thạch lựu đang rực rỡ sắc đỏ.

• Sen hồng trong ao tỏa ngát hương thơm.

Câu 3 :

• Câu thơ:

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

• Biện pháp tu từ: Đảo ngữ. Thông thường, vị ngữ (hình ảnh âm thanh, màu sắc, mùi hương) được đặt sau chủ ngữ (đối tượng miêu tả). Ở đây, các cụm từ chỉ âm thanh (“Lao xao chợ cá”, “Dắng dỏi cầm ve”) và cảnh vật (“làng ngư phủ”, “lầu tịch dương”) được đảo lên trước.

• Tác dụng: Biện pháp đảo ngữ này có tác dụng làm nổi bật âm thanh náo nhiệt của chợ cá và tiếng ve kêu inh ỏi. Nó tạo ra một bức tranh ngày hè sôi động, đầy sức sống, tương phản với sự tĩnh lặng, thanh tao của cảnh vật như cây hoè, cây thạch lựu hay hoa sen ở những câu trên. Đồng thời, nó giúp nhấn mạnh sự hòa quyện giữa âm thanh thiên nhiên và cuộc sống sinh hoạt của con người.

Câu 4 :

Trong hai dòng thơ cuối:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

tác giả bộc lộ tình cảm, cảm xúc ước mong về một xã hội thái bình, thịnh vượng, dân giàu đủ khắp nơi. Đó là mong ước chân thành, xuất phát từ tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. Ông lấy khúc đàn Nam phong của vua Thuấn làm chuẩn mực, mong muốn có được sự an lạc, hạnh phúc cho muôn dân.

Câu 5:

Chủ đề: Chủ đề của bài thơ là niềm vui sống, lạc quan yêu đời và mong ước về một xã hội thái bình, thịnh vượng.

•Căn cứ:

◦Tám câu thơ đầu khắc họa một bức tranh ngày hè tươi đẹp, tràn đầy sức sống với màu xanh cây hoè, sắc đỏ thạch lựu, hương thơm hoa sen, âm thanh rộn rã của chợ cá và tiếng ve. Những hình ảnh này cho thấy tác giả tìm thấy niềm vui, sự thư thái trong thiên nhiên.

◦ Hai câu cuối thể hiện ước mong cao cả về một xã hội lý tưởng “dân giàu đủ khắp đòi phương”, điều này cho thấy tâm hồn rộng lớn, luôn hướng về đại cục của tác giả.

◦ Sự kết hợp giữa vẻ đẹp thiên nhiên và ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp cho muôn dân đã làm nên chủ đề xuyên suốt của bài thơ.

Câu 6:

Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra bài học quý giá về cách giữ gìn tinh thần lạc quan. Cuộc sống dù có bộn bề, lo toan, nhưng xung quanh ta luôn có những điều bình dị đáng để trân trọng: một tán cây xanh mát, một đóa hoa nở rộ, hay thậm chí là âm thanh quen thuộc của cuộc sống. Thay vì chỉ tập trung vào những khó khăn, chúng ta nên học cách mở lòng để cảm nhận và tận hưởng những vẻ đẹp nhỏ bé đó. Điều này không chỉ giúp tâm hồn ta thư thái, nhẹ nhàng hơn mà còn là cách để tiếp thêm năng lượng tích cực, đối diện với thử thách một cách mạnh mẽ hơn.


Sự kiện Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn (1418)
Ta là Lê Lợi, một hào trưởng đất Lam Sơn, chứng kiến cảnh nước Nam rơi vào tay giặc Minh, nhân dân lầm than, ta không thể khoanh tay đứng nhìn. Vì thế, vào mùa xuân năm 1418, ta cùng nghĩa quân phất cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn, Thanh Hóa, chính thức mở ra cuộc chiến giành lại độc lập cho Đại Việt.

Ta tự xưng là Bình Định Vương, kêu gọi những anh hùng nghĩa sĩ khắp nơi cùng đứng lên chống giặc. Nghĩa quân của ta ban đầu còn yếu, lực lượng ít ỏi, phải liên tục đối phó với những trận vây ráp ác liệt của quân Minh. Có lúc, ta và nghĩa quân phải rút lên núi Chí Linh, chịu cảnh thiếu thốn, nhưng vẫn kiên cường bám trụ.

Dù trải qua muôn vàn gian khổ, nhưng với tinh thần bền bỉ và chiến lược linh hoạt, ta cùng nghĩa quân dần giành lại thế chủ động. Sau 10 năm chiến đấu, đến năm 1427, nghĩa quân ta đánh tan viện binh Liễu Thăng ở Chi Lăng – Xương Giang, buộc quân Minh đầu hàng. Cuối cùng, năm 1428, ta lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Hậu Lê, mở ra thời kỳ độc lập, thái bình cho Đại Việt.

Đó chính là dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc – sự kiện ta dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn, khởi đầu cho công cuộc đánh đuổi giặc Minh, giành lại non sông gấm vóc.

Khi Trần Quốc Tuấn còn nhỏ, thân phụ ông với vua Trần Thái Tông, vốn là hai anh em trở nên bất hòa. Năm 1251, trước khi qua đời, Trần Liễu trăng trối với con trai rằng: "Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ. Nếu không, nơi chín suối, cha không thể nhắm mắt!". Trần Quốc Tuấn tuy gật đầu, nhưng ông không cho đó là điều phải mà luôn tìm mọi cách xóa bỏ mọi hiềm khích trong hoàng tộc .

Cuối năm 1284, giặc Nguyên - Mông sắp kéo đại binh sang xâm lược nước ta, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh. Từ Vạn Kiếp, Vương kéo quân mã về Thăng Long để cùng Triều đình bàn kế chống giặc.

Một hôm, Trần Quốc Tuấn mời Thái sư Thượng tướng quân Trần Quang Khải xuống chiếc thuyền đóng tại Đông Bộ Đầu để đàm đạo. Trần Quốc Tuấn đã dùng nước thơm tắm cho Trần Quang Khải. Vừa dội nước thơm lên người Thái sư, vị Tiết chế Quốc công nói:

- Thật hạnh ngộ, tôi được tắm hầu Thái sư.

- Diễm phúc biết bao, tôi được Quốc công tắm cho.

Từ đó, mối tị hiềm giữa hai người được xóa bỏ hẳn.

Lúc bấy giờ thế giặc mạnh lắm, ta nên "đánh" hay nên "hòa"? Trần Quốc Tuấn đã xin Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông mời các bô lão cao tuổi nhất, danh vọng nhất về Thăng Long để bàn kế giữ nước. Tại điện Diên Hồng tiếng hô "Quyết chiến! Quyết chiến!" của các bô lão rung chuyển Kinh thành.

Trần Quốc Tuấn viết "Hịch tướng sĩ" và "Binh thư yếu lược". Tướng sĩ hăm hở luyện tập cung tên, giáo mác, chiến mã. Hàng vạn hùng binh thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát". Mùa hè năm 1285, 50 vạn quân xâm lược Nguyên - Mông bị đánh tơi tả. Toa Đô bị quân ta chém đầu. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng tránh mũi tên tẩm thuốc độc mới thoát chết!


Vua Lý Thái Tổ (Lý Công uẩn) 

Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. 

Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. 

Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225). 

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.