CAO THẢO MY

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của CAO THẢO MY
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Thê loại của văn bản " Chén thuốc độc " là bi kịch

Câu 2:

Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức ngôn ngữ độc thoại nội tâm ( nhân vật Thông Thu tự nói với chính mình để bộc lộ những suy nghĩ, dằn vặt và tính toán trong lòng)

câu 3:

Một số lời chỉ dẫn sân khấu trong văn bản:

+ "Bóp trán nghĩ ngợi"

+ "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống"

+ "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy"

+ "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện"

+ "Một lát lại nói"

Vai trò − Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu:

+ Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật Thông Thu.

+ Khắc họa sâu sắc sự bế tắc, nỗi đau đớn và giằng xé gay gắt của Thông Thu trước quyết định sinh tử (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống).

+ Tạo sự sinh động hấp dẫn, nhịp điệu căng thẳng, kịch tính giúp khắc họa sâu sắc bi kịch của nhân vật

câu 4

Tâm lý thầy Thông Thu trong hồi 2: hiện lên với sự tỉnh ngộ muộn màng và hối hận. Nhân vật bắt đầu tính toán lại nợ nần, nhận ra sự hoang phí của bản thân vào các cuộc ăn chơi. Thầy Thông Thu cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm phá sản gia đình.

Tâm lý thầy Thông Thu trong hồi thứ 3: diễn biễn tâm lý đẩy lên mức bi kịch và tuyệt vọng. Thông Thu thấy mình không còn lối thoát tiền mất, danh dự mất, tương lai là cảnh tù tội. Anh ta rơi vào giằng xé, một mặt muốn chết để chấm dứt sự nhục nhã, mặt khác lại đau đớn khi nghĩ đến mẹ già, vợ yếu và con thơ không ai chăm sóc. Hành động "nâng chén thuốc lên rồi đặt xuống" lặp lại nhiều lần cho thấy sự đấu tranh ghê gớm giữa bản năng sống, trách nhiệm gia đình và sự bế tắc của danh dự. Cuối cùng sự bế tắc lấn át, dẫn đến quyết định tìm đến cái chết

Sự thay đổi: tâm lý nhân vật có sự chuyển biến mạnh mẽ từ hối hận về vật chất, sang bi kịch về nhân phẩm. Đây là quá trình từ sự tỉnh ngộ muộn màng dẫn đến hành động cực đoan như một cách giải thoát duy nhất trước sự bế tắc của số phận.

Câu 5

Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Dù hiểu rằng Thu đang rơi vào bi kịch cùng cực, nợ nần chồng chất và đối mặt với cảnh tù tội, nhưng cái chết ở đây là một sự trốn chạy hèn nhát hơn là sự giải thoát cao thượng. Bằng cách tự sát, Thu đã bỏ mặc trách nhiệm với người mẹ già, vợ hiền và các con nhỏ, đẩy họ hàng vào cảnh khốn cùng hơn. Thay vì chết, nhân vật nên can đảm đối mặt với sai lầm, chấp nhận hình phạt và tìm cách làm lại cuộc đời để bù đắp cho gia đình. Cái chết của Thu chỉ giải quyết được nỗi nhục của cá nhân anh ta nhưng lại để lại nỗi đau đớn vô cùng tận cho người ở lại.




Câu 3

a/ Áp dụng công thức

E=U.d

ta tính được cường độ điện trường trong màng tế bào bằng: 

E=0,078.10−9=8,75.106V/m


b/

Điện trường trong màng tế bào sẽ hướng từ phía ngoài vào trong. Vì lực tác dụng lên ion âm ngược chiều với cường độ điện trường nên lực điện sẽ đẩy ion âm ra phía ngoài tế bào. Độ lớn của lực điện bằng: F = qE = 3,2.10-19.8,75.106 = 28.10-13 N.

CÂU 2

Tính năng lượng tối đa mà bộ tụ có thể tích trữ được:

W=1/2CV²

C = 99000uF = 0,099F

V=200V

Năng lượng tối đa là:

Wmax=1/2.0,099.200²=1980

Năng lượng giải phóng là:

Ê=P.t=2500.0,5=1250J

Phần trăm năng lượng điện được giải phóng số với năng lượng đã tích lũy:

E/Wmax . 100%

= 1250/1980 . 100%=63,13%

Câu 1

a) để tách mép các túi nylon dính vào nhau, có một số cách:

- Thổi hơi vào miệng túi

- Xoa hai tay vào túi

- Vẩy mạnh túi

Giải thích: Các túi nylon dính vào nhau do lực hút tĩnh điện giữa các lớp màng mỏng. Khi các túi được sản xuất và xếp chồng lên nhau, các electron có thể đi chuyển giữa các lớp, tạo ra sự tích điện trái dấu. Lực hút tĩnh điện giữa các điện tích điện trái dấu này khiến các túi dính chặt vào nhau. Các phương pháp trên đều nhằm mục đích giảm hoặc loại bỏ lực hút tĩnh điện này, giúp các túi dễ dàng tách rời.

b) Để lực điện tác dụng lên điện tích q3=0, điện tích này phải nằm trên đường thẳng nối q1 và q2, và lực điện do q1 và q2 tác dụng lên q3 phải cân bằng nhau

Gọi x là khoảng cách từ q1 đến q3. Khoảng cách từ q2 đến q3 là 6-x(cm)

Để lực điện tác dụng lên q3 bằng 0, ta có:

F13=F23

k|q1q3|/x²=k|q2q3|/(6-x)²

|q1|/x²=|q2|/(6-x)²

1,5/x²=6/(6-x)²

(6-x)²=4x²

36-12x+x²=4x²

3x²+12x-36=0

x²+4x-12=0

(x+6)(x-2)=0

x=-6 hoặc có=2

Vì xừa khoảng cách nên có>0. Vậy x= 2cm thoả mãn

Để lực điện tác dụng lên q3 bằng 0, q3 phải mang điện tích trái dấu với q1 và q2. Tuy nhiên, vì cả q1 và q2 đều dương, q3 phải nằm giữa chúng và điện tích âm. Tuy nhiên, giá trị của q3 không ảnh hưởng đến việc lực điện tác dụng lên nó bằng 0.


Câu 3
a/ Áp dụng công thức
E=U.d
ta tính được cường độ điện trường trong màng tế bào bằng: 
E=0,078.10−9=8,75.106V/m

b/
Điện trường trong màng tế bào sẽ hướng từ phía ngoài vào trong. Vì lực tác dụng lên ion âm ngược chiều với cường độ điện trường nên lực điện sẽ đẩy ion âm ra phía ngoài tế bào. Độ lớn của lực điện bằng: F = qE = 3,2.10-19.8,75.106 = 28.10-13 N.


Câu 3
a/ Áp dụng công thức
E=U.d
ta tính được cường độ điện trường trong màng tế bào bằng: 
E=0,078.10−9=8,75.106V/m

b/
Điện trường trong màng tế bào sẽ hướng từ phía ngoài vào trong. Vì lực tác dụng lên ion âm ngược chiều với cường độ điện trường nên lực điện sẽ đẩy ion âm ra phía ngoài tế bào. Độ lớn của lực điện bằng: F = qE = 3,2.10-19.8,75.106 = 28.10-13 N.


a. Cách tách túi nylon:
Xoa hai mép túi vào nhau.

Giải thích:
Ma sát làm các lớp túi trượt lên nhau, phá vỡ lực dính giữa chúng nên túi dễ tách ra.



b.
q1 = 1,5 µC
q2 = 6 µC
r = 6 cm

Đặt q3 trên đoạn nối q1q2, cách q1 2 cm (tức là cách q2 4 cm).

q3 có thể nhận bất kì giá trị nào.

BÀI 3


Cho m = 2 kg ; ω = 5 rad/s ; A = 8 cm = 0,08 m


Năng lượng toàn phần:

W = 1/2 * m * ω² * A² = 1/2 * 2 * 25 * 0,08² = 0,16 J


a) Khi x = 4 cm = 0,04 m

W_t = 1/2 * m * ω² * x² = 1/2 * 2 * 25 * 0,04² = 0,08 J

W_d = W - W_t = 0,16 - 0,08 = 0,08 J


Kết quả: W_t = 0,08 J ; W_d = 0,08 J


b) Khi thế năng bằng động năng:

W_t = W_d = 1/2 W => x = A / √2 = 0,08 / √2 = 0,0566 m = 5,66 cm


Kết quả: x = ±5,66 cm

BÀI 2


Đồ thị vận tốc có: v_max = 4 cm/s ; chu kỳ T = 2 s

=> ω = 2π/T = π rad/s

Tại t = 0, v = +4 => v = 4cos(πt)


a) Phương trình vận tốc:

v = 4cos(πt) (cm/s)


b) Phương trình li độ và gia tốc:

x = (v_max / ω) sin(πt) = (4/π) sin(πt) (cm)

a = dv/dt = -4π sin(πt) (cm/s²)


Kết quả:

v = 4cos(πt) ; x = (4/π)sin(πt) ; a = -4π sin(πt)


BÀI 2


Đồ thị vận tốc có: v_max = 4 cm/s ; chu kỳ T = 2 s

=> ω = 2π/T = π rad/s

Tại t = 0, v = +4 => v = 4cos(πt)


a) Phương trình vận tốc:

v = 4cos(πt) (cm/s)


b) Phương trình li độ và gia tốc:

x = (v_max / ω) sin(πt) = (4/π) sin(πt) (cm)

a = dv/dt = -4π sin(πt) (cm/s²)


Kết quả:

v = 4cos(πt) ; x = (4/π)sin(πt) ; a = -4π sin(πt)