Nình Thị Mản

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nình Thị Mản
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: văn bản trên giới thiệu về danh lam thắng cảnh Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam.

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên là tự sự .

Câu 3 : Vì văn bản Quần Thể di tích Cố Đô Huế - di sản văn hoá thế giới của Việt Nam là vì nó kết hợp với nhiều thông tin lịch sử, kiến trúc ,văn hoá từ nhiều nguồn khác nhau .

Câu 4 : tác dụng

+ Nhấn mạnh câu văn để giúp người đọc thêm thích thú hơn

+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn giúp người đọc thêm sinh động hấp dẫn hơn.

Câu 5: Từ văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế − di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam em cảm nhận là một di sản vô hoá mang biểu tượng của người việt , vừa mang văn hoá đặc sắc.Tự hào về quên hương đất nước ý thức phát huy và bảo tồn cho thế hệ mai sau.

Câu 1: Điểm nhìn trong văn bản là Điểm nhìn trần thuật chủ yếu là điểm nhìn bên trong

Câu 2: Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là : Khi còn đi học, Thứ có những ước vọng rất cao xa và đẹp đẽ: Về học vấn: Đỗ Thành chung, đỗ Tú tài, vào đại học đường, đi sang Tây (Pháp). Về lý tưởng: Trở thành một vĩ nhân, đem đến những sự thay đổi lớn lao cho xứ sở, quê hương mình. Về thái độ sống: Không chấp nhận một cuộc đời tầm thường (làm ông phán, mắt cận, lưng gù, chỉ biết lĩnh lương nuôi vợ con).

Câu 3: Phân tích biện pháp tu từ trong đoạn trích Trong đoạn văn: "Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra... Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y..." Biện pháp tu từ: Liệt kê kết hợp với Điệp từ/Điệp cấu trúc ("sẽ", "khinh y") và Ẩn dụ ("mốc lên", "gỉ đi", "mòn", "mục ra"). Tác dụng: Về nội dung: Nhấn mạnh sự tàn phá khủng khiếp của hoàn cảnh sống nghèo đói, quẩn quanh đối với con người. Nó không chỉ tàn phá thể xác mà còn làm băng hoại giá trị, nhân cách và linh hồn. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, nặng nề như những nhát búa nện vào tâm trí, thể hiện nỗi lo sợ, đau đớn và bế tắc tột độ của Thứ trước tương lai mù mịt.

Câu 4: Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ Về cuộc sống: Đó là một cuộc sống "sống mòn" – một kiểu tồn tại lay lắt, quẩn quanh trong lo toan cơm áo gạo tiền, khiến con người bị tách rời khỏi lý tưởng và khát vọng. Về con người: Thứ là một trí thức có lương tri, có khát khao sống ý nghĩa và luôn nghiêm khắc tự kiểm điểm bản thân ("chết mà chưa sống"). Tuy nhiên, Thứ cũng mang nhược điểm chung của tầng lớp tiểu tư sản lúc bấy giờ: Nhu nhược và bất lực. Dù nhận ra bi kịch, dù uất ức nhưng y không đủ sức mạnh để bứt phá khỏi "con tàu" định mệnh của hoàn cảnh.

Câu 5: Suy nghĩ về một triết lý nhân sinh rút ra từ văn bản Một triết lý sâu sắc có thể rút ra là: "Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã." Ý nghĩa: Cái chết sinh học không đáng sợ bằng cái chết về tâm hồn. Khi một con người sống mà không có lý tưởng, không có sự thay đổi, để mặc cho thói quen và nỗi sợ hãi giam cầm mình trong sự tầm thường, ti tiện thì đó chính là lúc họ đã "chết". Bài học: Cuộc sống đích thực phải là sự vận động, thay đổi và dũng cảm dứt bỏ những sợi dây thừng của sự trì trệ để vươn tới tự do. Đoạn kết về tia sáng mong manh cuối truyện cho thấy, dù trong hoàn cảnh tối tăm nhất, con người vẫn cần giữ lấy niềm hy vọng và sự tự trọng để xứng đáng với những gì mình được hưởng.

Câu 1 : thất ngôn

Câu 2:

"Những chiếc khăn mầu thổn thức bay, Những bàn tay vẫy những bàn tay, Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt, Buồn ở đâu hơn ở chốn này?" Vần: Vần được gieo là vần "ay" (bay - tay - này). Kiểu vần: Đây là vần chân

Câu 3:

Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc thể, "Có lần tôi thấy" lặp lại ở đầu các khổ 2, 3, 5, 6, 7.Tác dụng:

Câu 4

Đề tài: Cảnh chia li và những cuộc đời phiêu bạt diễn ra tại chốn sân ga. Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn, sự chia lìa, và nỗi đau thân phận con người trước những cuộc ly tán không tránh khỏi của cuộc đời phiêu bạt nơi bến tàu, sân ga.

Câu 5

Yếu tố tự sự thể hiện qua việc "tôi" kể lại những câu chuyện, những khoảnh khắc mà mình đã chứng kiến tại sân ga: Ngôn ngữ kể chuyện: "Những cuộc chia lìa khởi tự đây...", "Có lần tôi thấy...". Sắp xếp tình huống: Nhà thơ lần lượt "trình bày" từng cảnh chia ly cụ thể, có nhân vật (cô bé, người yêu, vợ chồng, bà già, người đi lẻ) và có cả lời thoại (ví dụ: "Đường về nhà chị chắc xa xôi?", "Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!").Thể hiện tư tưởng: Yếu tố tự sự giúp thể hiện tư tưởng về thân phận con người - những kiếp người "phiêu bạt, thân đơn chiếc" - phải đối mặt với sự chia ly như một lẽ thường tình, phổ biến (tất cả đều diễn ra suốt tối ngày tại sân ga).Khơi gợi sự đồng cảm: Bằng cách liệt kê và cụ thể hóa từng hoàn Cảnh tăng tính chân thực và khách quan: Việc kể lại (tự sự) dưới góc nhìn "tôi thấy" biến nhân vật trữ tình thành một người chứng kiến, làm cho những cảnh chia ly trở nên chân thực, có thật và khách quan, không chỉ là cảm xúc chủ quan của riêng nhà thơ.