Phùng Thị Thảo Vy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phùng Thị Thảo Vy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
1. Ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với Đông Nam Á Chế độ thực dân đã để lại những tác động sâu sắc và đa chiều trên nhiều lĩnh vực:
  • Về Chính trị:
    • Hầu hết các quốc gia mất độc lập, bị biến thành thuộc địa hoặc vùng bảo hộ.
    • Chính sách "chia để trị" gây ra sự chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo và vùng miền, để lại hậu quả là các xung đột nội bộ kéo dài sau khi giành độc lập.
  • Về Kinh tế:
    • Nền kinh tế bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa cho chính quốc.
    • Hệ thống hạ tầng (đường sắt, cảng biển) được xây dựng chủ yếu phục vụ mục đích khai thác thuộc địa.
    • Sự phát triển không đồng đều, phụ thuộc vào kinh tế phương Tây.
  • Về Văn hóa - Xã hội:
    • Tích cực: Du nhập các yếu tố phương Tây như chữ viết hệ Latinh, tôn giáo (Công giáo), lối sống và hệ thống giáo dục hiện đại.
    • Tiêu cực: Làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống; tạo ra sự phân hóa giai cấp mới (tư sản, tiểu tư sản, công nhân) và mâu thuẫn xã hội gay gắt.
2. Liên hệ thực tế tại Việt Nam Trong thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam chịu ảnh hưởng rõ rệt trên các khía cạnh:
  • Chính trị: Pháp chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) với ba chế độ cai trị khác nhau nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.
  • Kinh tế:
    • Thực hiện các cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn, tập trung vào khai thác khoáng sản (than đá) và lập đồn điền (cao su, cà phê).
    • Kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lệ thuộc hoàn toàn vào tư bản Pháp.
  • Văn hóa - Giáo dục:
    • Chữ Quốc ngữ (sử dụng mẫu tự Latinh) dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm và trở thành công cụ quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng mới.
    • Kiến trúc đô thị (như tại Hà Nội, TP.HCM) mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
  • Hệ quả xã hội: Sự xuất hiện của giai cấp công nhân Việt Nam - lực lượng nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc sau này.
Kết luận: Chế độ thực dân vừa kìm hãm sự phát triển tự nhiên của Đông Nam Á, vừa vô tình tạo ra những tiền đề khách quan cho sự hình thành xã hội hiện đại thông qua quá trình giao thoa văn hóa và kinh tế.
Quá trình xâm lược của thực dân phương Tây đối với các quốc gia Đông Nam Á hải đảo diễn ra sớm hơn so với khu vực lục địa, bắt đầu ngay sau các cuộc phát kiến địa lý. Cụ thể:
  • Tại Indonesia:
    • Từ thế kỷ XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan bắt đầu tranh giành ảnh hưởng tại đây.
    • Trải qua quá trình cạnh tranh quyết liệt, đến thế kỷ XIX, Hà Lan đã hoàn thành việc thôn tính và thiết lập ách cai trị thực dân lên toàn bộ quần đảo này.
  • Tại Philippines:
    • Từ thế kỷ XVI, Philippines bị thực dân Tây Ban Nha xâm lược và thống trị trong nhiều thế kỷ.
    • Năm 1898, sau thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ, Tây Ban Nha buộc phải nhượng quyền kiểm soát Philippines cho Mỹ.
  • Tại Malaysia, Singapore và Brunei:
    • Đầu thế kỷ XIX, thực dân Anh bắt đầu thiết lập quyền bảo hộ và kiểm soát các vị trí chiến lược như Singapore (1819) và các bang của Malaysia.
    • Đến đầu thế kỷ XX, Anh đã hoàn tất việc đặt ách thống trị lên các khu vực này.

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người. 

Câu1:

thể thơ: Lục bát

Câu2:Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ đầy đặn, da diết, da diết và không nguôi, bao hàm cả sự nhớ nhung đến cồn cào và khao khát cháy bỏng. Nỗi nhớ này được cường điệu bằng cách kết hợp "chín nhớ" (nhớ nhiều) và "mười mong" (mong mỏi khôn nguôi), mượn lối nói dân gian để thể hiện tình cảm tương tư sâu sắc của chàng trai với cô gái bên thôn Đông.

Câu3:Biện pháp tu từ chính trong câu thơ "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" là -ẩn dụ : Thôn Đoài chỉ tràng trai, Thôn Đông chỉ cô gái.

-Nhân hoá : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

TD: Sự kết hợp của hai biện pháp tu từ này giúp thi nhân diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ thương của những cặp đôi đang yêu xa. Nỗi nhớ không chỉ của riêng một người mà là nỗi nhớ chung, lan tỏa cả không gian, thời gian, biến cả không gian thành những tâm hồn đang mong chờ, hoài niệm. 

Câu4:

Những câu thơ "Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?" gợi lên cảm nhận về nỗi nhớ nhung, sự băn khoăn, lo lắng về tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Các hình ảnh ẩn dụ "bến", "đò", "hoa khuê các", "bướm giang hồ" tượng trưng cho sự xa cách về không gian và thời gian, thể hiện một nỗi niềm tương tư day dứt và niềm mong chờ về một cuộc sum họp, gắn kết bền lâu. 

Câu5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết, ta nhận thấy tình yêu là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, giúp con người vượt qua nỗi nhớ, sự bồn chồn để tin tưởng và vững bước trong cuộc sống. Tình yêu là động lực để con người khao khát hạnh phúc, là sợi dây vô hình kết nối những trái tim, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Dù mang đến những dằn vặt, tương tư lại khiến tình yêu thêm sâu sắc, phong phú và là minh chứng cho khao khát được yêu thương, chia sẻ của con người.