Nguyễn Hoài Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả một nỗi nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
− Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ; "thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những người sống trong thôn đó.
− Tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ:
+ Gợi nét chân quê, mộc mạc và bình dị của tình yêu thôn xóm.
+ Diễn tả nỗi nhớ tình yêu một cách kín đáo, tinh tế và vô cùng thú vị.
+ Tăng tính gợi hình, gợi cảm cho những dòng thơ.
Câu 4. Những dòng thơ “Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?” gợi lên nỗi khắc khoải, mong chờ trong tình yêu đôi lứa. Hình ảnh bến và đò, hoa khuê các và bướm giang hồ là những biểu tượng đầy chất thơ, thể hiện sự cách biệt, xa xôi giữa hai người yêu nhau, khiến người đọc cảm nhận được nỗi nhớ nhung da diết và niềm hy vọng mong manh được đoàn tụ.
Câu 5.Từ tâm trạng tương tư tha thiết ấy, em nhận thấy tình yêu là một giá trị thiêng liêng trong cuộc sống. Tình yêu giúp con người sống chân thành, biết quan tâm, chia sẻ và hy sinh. Dù có thể mang đến nỗi buồn, nhưng chính tình yêu cũng làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 1.
Thể thơ: Thơ bảy chữ.
Câu 2.
– Vần được gieo: Vần “ay” trong “bay” – “tay” – “này”.
– Kiểu vần được gieo: Các vần này đều thuộc kiểu vần chân, bên cạnh đó “bay” – “tay” còn thuộc kiểu vần liền, “tay” – “này” thuộc kiểu vần cách.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng xuyên suốt trong văn bản khi chỉ ra những cuộc chia ly trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
– Tác dụng: Khắc hoạ chân thực những cuộc chia ly trong những hoàn cảnh khác nhau, từ đó tô đậm nỗi buồn sâu sắc của những cuộc chia ly trên sân ga.
Câu 4.
– Đề tài: Những cuộc chia ly.
– Chủ đề: Nỗi buồn của những cuộc chia ly trên sân ga.
Câu 5.
– Biểu hiện của yếu tố tự sự trong bài thơ:
+ Nhân vật trữ tình xưng “tôi” đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga.
+ Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc chia ly trên sân ga. Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim.
+ Trong những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp: “– Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”.
– Tác dụng:
+ Tạo tính chân thực, sống động cho văn bản, giúp cho bài thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tua chậm, tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga.
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ: Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp cho người đọc dễ dàng đồng cảm hơn.
Câu 1.
Kiểu văn bản: Văn bản thông tin.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
Câu 3.
Nhan đề “Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái Đất”:
- Là một nhan đề rõ ràng, thể hiện trực tiếp đối tượng thông tin trong văn bản (4 hành tinh mới trong một hệ sao gần Trái đất) và khái quát được nội dung cốt lõi của bài viết.
- Có tính hấp dẫn, khơi gợi sự tò mò của người đọc khi sử dụng động từ “phát hiện” ở đầu câu và dùng cụm từ “hệ sao láng giềng” thúc đẩy người đọc quan tâm, tìm hiểu về những phát hiện mới mẻ này.
=> Nhan đề ngắn gọn, súc tích, truyền tải chính xác nội dung cốt lõi, đồng thời khơi gợi trí tò mò của người đọc về một khám phá khoa học mới mẻ, hấp dẫn.
Câu 4.
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
- Tác dụng: Giúp người đọc hình dung được rõ ràng, chính xác hơn về hệ sao Barnard và những hành tinh mới được phát hiện, đồng thời làm tăng tính trực quan, hấp dẫn cho bài viết.
Câu 5. Văn bản có tính chính xác và khách quan cao, vì thông tin được trích dẫn từ các nguồn uy tín như chuyên san "The Astrophysical Journal Letters", Đài ABC News và Đại học Chicago. Các báo cáo khoa học, tên công trình nghiên cứu, và các cơ quan, cá nhân tham gia đều được đề cập rõ ràng.
Câu 1 :
Xã hội phát triển cao như hiện nay là do những phát minh vĩ đại của những nhà khoa học cũng như những nỗ lực sáng tạo ngày đêm không ngừng nghỉ của con người trong cuộc sống. Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: sáng tạo có vai trò rất lớn đối với con người và nhân loại. Sáng tạo là phát minh ra những điều, những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Bên cạnh đó, sáng tạo còn là sự sắp xếp công việc của mình một cách hợp lí, logic để thuận tiện hơn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống này nhất là thời kì phát triển hiện nay. Người có tính năng động và sáng tạo thường không bằng lòng với cái có sẵn, không bắt chước hoàn toàn cách làm đã có. Họ luôn say mê, tìm tòi, phát hiện, linh hoạt xử lí các tình huống, tìm ra cách làm mới, sản phẩm mới, hiệu quả cao. Chính bởi thế, họ luôn là người tiên phong trong công việc, tiên phong cho sự cải cách của xã hội. Mỗi người là một cá thể riêng biệt không giống ai, tất cả đều có thể tạo nên những ý tưởng đột phá, những sáng tạo có ích trong xã hội. Cuộc sống không có sự sáng tạo là một cuộc sống nghèo nàn bởi cuộc sống đó chỉ biết phụ thuộc vào những điều có sẵn. Con người đặc biệt là các bạn trẻ hiện nay không những cần sáng tạo trong cuộc sống mà cần sáng tạo trong cả việc học tập để tìm ra phương pháp học tập tối ưu nhất để tiếp thu, chuyển thể kiến thức thành bài học cho bản thân mình. Năng động và sáng tạo không phải lúc nào cũng sẵn có mà cần phải rèn luyện và bồi dưỡng thường xuyên bằng cách không ngừng đặt câu hỏi và lí giải những câu hỏi, thắc mắc của bản thân về con người và cuộc sống sao cho đáp án đó tối ưu nhất. Mỗi người một lần đực sống, hãy sáng tạo để thấy cuộc sống thú vị hơn cũng như để cho bản thân tiến bộ vượt bậc hơn.
Câu 1: Kiểu văn bản của ngữ liệu trên :Văn bản thông tin.
Câu 2. Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.:
Các ghe bán hàng dạo chế ra cách “bẹo” hàng bằng âm thanh lạ tai của những chiếc kèn: Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc).
Riêng các cô gái bán đồ ăn thức uống thì thường “bẹo hàng” bằng lời rao: Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lảnh lót, thiết tha!
Câu 3. Việc sử dụng tên các địa danh giúp thông tin trở nên phong phú, xác thực và sinh động.
Câu 4. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên giúp tăng tính xác thực và trực quan cho thông tin
Câu 1. Thể thơ: tự do.
Câu 2. Trong văn bản trên, hạnh phúc được miêu tả qua những tính từ: xanh, thơm, vô tư.
Câu 3. Nội dung của đoạn thơ:
- Hạnh phúc đôi khi đến từ những điều giản đơn, bình thường trong cuộc sống của ta.
- Thông điệp về việc nhận ra và trân trọng những hạnh phúc bình dị trong cuộc sống.
Câu 4.Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ: ( hạnh phúc - sông )
- Giúp cho đoạn thơ trở nên gợi hình, gợi cảm.
- Khẳng định hạnh phúc đến từ sự vô tư cho đi, không cần tính toán thiệt hơn.
Câu 5 : Tác giả quan niệm hạnh phúc là sự tự do, bình yên và đơn giản, không cần xác định rõ ràng hoặc công nhận bởi người khác.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: nghị luận.
Câu 2. Cặp từ, cặp cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn (1):
- tằn tiện - phung phí.
- hào phóng - keo kiệt.
- thích ở nhà - bỏ bê gia đình.
- ưa bay nhảy - hưởng thụ cuộc sống.
Câu 3. Tác giả lại cho rằng đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng vì:
- Mỗi người có một phong cách, sở thích, suy nghĩ, cá tính khác nhau.
- Việc phán xét người khác chỉ là dựa trên định kiến thì không hề có chuẩn mực đúng đắn nào.
- Việc phán xét người khác sẽ khiến cho đối phương bị tổn thương, bản thân chúng ta cũng trở thành người có tư duy, cách đối nhân xử thế không tốt.
Câu 4 : Đoạn văn khuyên nhủ không nên phán xét người khác và thoát khỏi định kiến, thay vào đó hãy nghe theo chính mình và phát triển sự tự tin.
Câu 5 : Đoạn văn này muốn truyền tải thông điệp về việc không nên phán xét người khác một cách dễ dàng và không nên để định kiến của người khác chi phối cuộc sống của mình. Thay vào đó, hãy cố gắng thoát khỏi những định kiến và quan điểm hạn hẹp, nghe theo chính mình và phát triển sự tự tin và tự chủ.
a) Cân bằng phương trình phản ứng
5CaC2O4 + 2KMnO4 + 8H2SO4 → 5CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 8H2O + 10CO2
b) Số mol KMnO4 cần dùng để phản ứng hết với calcium oxalate kết tủa từ 1 mL máu là:
2,05.10-3.4,88.10-4 = 10-6 mol
Số mol CaSO4 = 5/2. Số mol KMnO4 = 2,5x10-6 mol
Khối lượng ion calcium (mg) trong 100 mL máu là: 2,5x10-6x40x103x 100 = 10mg/100 mL.
ΔrH2980=∑ΔfH2980(sp)−∑ΔfH2980(cđ)
= -542,83 + (-167,16) - (-795,0)
= 85,01 kJ/mol.
a. Fe + 4HNO3 →→-> Fe(NO3)3 + NO + 2H2O.
b.2KMnO4 +10FeSO4 + 8H2SO4 -> →→5Fe2(SO4)3 + 2MnSO4 + K2SO4 + 8H2O.