Nguyễn Quý Quyền

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Quý Quyền
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Văn bản Giữa người với người của Nguyễn Ngọc Tư là lời cảnh tỉnh sâu sắc về sự vô cảm của con người trong xã hội hiện đại. Tác giả đã phản ánh thực trạng đáng buồn khi nhiều người vì mạng xã hội, vì lượt thích và sự nổi tiếng mà quên đi lòng trắc ẩn. Hình ảnh anh y sĩ chụp ảnh bệnh nhân đang đau đớn để đăng mạng cho thấy con người dần xem nỗi đau của người khác như “mồi câu” để thu hút sự chú ý. Bằng lối viết giàu chất suy tư, ngôn ngữ giản dị nhưng sắc sảo, tác giả còn phê phán tình trạng tin giả, câu khách trên báo chí và mạng xã hội gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của những người lương thiện. Đặc biệt, những câu văn như “người ta chỉ thấy giấy bạc bay mà không thấy nạn nhân” đã gợi lên sự xuống cấp đạo đức và thái độ thờ ơ trước nỗi đau đồng loại. Qua đó, văn bản nhắc nhở mỗi người cần sống nhân ái, biết yêu thương, đồng cảm và có trách nhiệm hơn trong cách ứng xử giữa người với người.


Câu 2

Trong cuộc sống hiện đại, khi con người ngày càng phát triển về vật chất và công nghệ, đáng tiếc thay, một căn bệnh tinh thần lại đang âm thầm lan rộng: sự thờ ơ, vô cảm. Đây không chỉ là biểu hiện của lối sống ích kỉ mà còn là dấu hiệu đáng lo ngại về sự xuống cấp của đạo đức xã hội.

Vô cảm là trạng thái con người trở nên lạnh lùng, thờ ơ trước niềm vui, nỗi đau hay khó khăn của người khác. Người vô cảm thường chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, không biết sẻ chia, đồng cảm hay giúp đỡ cộng đồng. Trong xã hội hiện nay, sự vô cảm xuất hiện ở nhiều nơi: có người thấy tai nạn giao thông nhưng không giúp đỡ; có người chứng kiến bạo lực học đường nhưng quay video đăng mạng thay vì can ngăn; có người lợi dụng nỗi đau của người khác để “câu view”, “câu like”. Những hành động ấy khiến tình người dần trở nên xa cách.

Nguyên nhân của sự vô cảm xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do nhịp sống hiện đại quá gấp gáp khiến con người chỉ lo cho bản thân mà quên quan tâm đến người khác. Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng xã hội cũng làm cho nhiều người sống ảo, thích sự nổi tiếng hơn giá trị nhân văn. Một số người còn cho rằng chuyện của người khác không liên quan đến mình nên chọn cách im lặng, né tránh. Ngoài ra, sự giáo dục về lòng nhân ái trong gia đình và nhà trường ở một số nơi còn chưa được chú trọng đúng mức.

Sự vô cảm gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Nó khiến con người mất đi tình yêu thương, sự gắn kết và niềm tin trong xã hội. Một cộng đồng mà ai cũng chỉ biết đến bản thân sẽ trở nên lạnh lẽo, ích kỉ và thiếu trách nhiệm. Đối với cá nhân, sống vô cảm khiến tâm hồn nghèo nàn, cô độc và dần đánh mất giá trị làm người. Đặc biệt, sự thờ ơ trước cái xấu còn tiếp tay cho cái ác phát triển. Khi không ai lên tiếng bảo vệ lẽ phải, những hành vi sai trái sẽ ngày càng lan rộng.

Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều tấm gương giàu lòng nhân ái. Đó là những người sẵn sàng cứu giúp người bị nạn, những mạnh thường quân âm thầm hỗ trợ người nghèo, hay những bạn trẻ tham gia hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Chính những con người ấy đã làm cho cuộc sống trở nên ấm áp và tốt đẹp hơn. Điều đó cho thấy lòng yêu thương vẫn luôn hiện hữu và cần được lan tỏa mạnh mẽ.

Để khắc phục sự vô cảm, mỗi người cần rèn luyện lối sống biết quan tâm và sẻ chia với mọi người xung quanh. Gia đình và nhà trường cần giáo dục con người về lòng nhân ái, trách nhiệm cộng đồng. Đồng thời, mạng xã hội cần được sử dụng một cách văn minh, không biến nỗi đau của người khác thành công cụ giải trí hay kiếm lợi. Quan trọng hơn cả, mỗi người phải biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu và yêu thương.

Con người chỉ thật sự hạnh phúc khi biết sống vì nhau. Trong xã hội hiện đại hôm nay, lòng nhân ái chính là sợi dây kết nối giữa người với người. Vì thế, đừng để sự thờ ơ và vô cảm làm mất đi những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.

Câu 1.
Thể loại của văn bản: tản văn (mang tính nghị luận xã hội).


Câu 2.
Đề tài của văn bản là:

  • Thực trạng con người dần vô cảm, đánh mất lòng trắc ẩn trong xã hội hiện đại, đặc biệt dưới tác động của mạng xã hội và truyền thông.
  • Đồng thời văn bản cũng đặt ra vấn đề về đạo đức, cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống hôm nay.

Câu 3.
Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng qua hàng loạt chi tiết:

  • “nồi nước luộc có pin đèn”,
  • “nước dùng chuột cống”,
  • “chè bưởi có thuốc rầy”,
  • “ăn chè bưởi ngộ độc thuốc trừ sâu”...

Tác dụng:

  • Làm nổi bật thực trạng thông tin thất thiệt, giật gân lan truyền nhanh chóng trên báo chí và mạng xã hội.
  • Cho thấy sức tàn phá của những tin đồn đối với cuộc sống, công việc và danh dự của con người lao động lương thiện.
  • Thể hiện thái độ phê phán của tác giả trước cách “câu view”, “câu khách” vô trách nhiệm của một bộ phận truyền thông và cư dân mạng.
  • Tăng sức gợi hình, gợi cảm và tính thuyết phục cho đoạn văn.

Câu 4.
Hai câu văn: “Một vụ cướp tiền giữa ban ngày, người ta chỉ thấy giấy bạc bay mà không thấy nạn nhân. Hôi bia cũng vì chỉ thấy bia lăn lóc ra đường.” gợi nhiều suy nghĩ về thực trạng đạo đức con người Việt Nam hiện nay:

  • Một bộ phận con người đang trở nên vô cảm, chỉ nhìn thấy lợi ích vật chất mà quên đi nỗi đau, sự mất mát của người khác.
  • Khi lòng tham lấn át tình người, con người dễ hành động thiếu đạo đức, thiếu trách nhiệm cộng đồng.
  • Hiện tượng “hôi của”, thờ ơ trước khó khăn của người khác phản ánh sự xuống cấp về ý thức và nhân cách trong xã hội.
  • Đồng thời, câu văn cũng là lời cảnh tỉnh mỗi người cần sống nhân ái, biết đồng cảm và ứng xử có văn hóa hơn trước những biến cố của người khác.

Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra những bài học:

  • Cần biết yêu thương, tôn trọng và đồng cảm với con người.
  • Không nên chạy theo mạng xã hội, lượt thích hay lợi ích cá nhân mà đánh mất đạo đức và lòng nhân ái.
  • Phải có trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội, biết chọn lọc và kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ.
  • Sống văn minh, tránh vô cảm trước nỗi đau của người khác.
  • Luôn giữ gìn tình người và các giá trị nhân văn trong xã hội hiện đại.

Câu 1

Trong văn bản Những vùng trời khác nhau, tình cảm của Lê dành cho Sơn là tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, chân thành và thiêng liêng. Ban đầu, Lê từng không có thiện cảm với Sơn vì cho rằng anh là một “công tử Hà Nội trắng trẻo”. Nhưng qua những năm tháng cùng chiến đấu, cùng chia sẻ gian khổ và hiểm nguy, Lê đã thay đổi hoàn toàn cách nhìn. Anh đặt niềm tin tuyệt đối vào Sơn qua lời khẳng định: “Tớ rất tin cậu!”. Đó không chỉ là sự tin tưởng vào năng lực chiến đấu mà còn là niềm tin vào nhân cách và tình đồng đội. Trong suy nghĩ sâu kín nhất, Lê coi Sơn là “đồng chí thân thiết nhất trong đời lính”. Khi chia tay để đến những vùng trời khác nhau, Lê vừa lưu luyến vừa tự hào vì hiểu rằng Sơn sẽ tiếp tục bảo vệ quê hương mình. Nỗi nhớ của Lê khi đứng giữa Hà Nội cũng cho thấy sự gắn bó sâu nặng ấy: anh nghĩ về Sơn, về vùng đất quê hương nơi bạn đang chiến đấu. Tình cảm của Lê dành cho Sơn đã làm sáng lên vẻ đẹp của tình đồng đội trong chiến tranh – giản dị mà bền chặt, thiêng liêng.


Câu 2

Trong truyện ngắn Những vùng trời khác nhau, Nguyễn Minh Châu đã khắc họa hình ảnh những người lính chiến đấu ở những miền quê khác nhau nhưng cùng chung nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc. Từ đó gợi lên một chân lí giàu ý nghĩa: vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc. Đây không chỉ là nhận thức của những người lính trong chiến tranh mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi con người trong bối cảnh đất nước hôm nay đang có nhiều đổi thay lớn lao.

“Vùng trời quê hương” trước hết là nơi mỗi con người sinh ra, lớn lên, gắn bó bằng tình yêu thương và kỉ niệm. Nhưng khi đặt trong mối quan hệ với đất nước, mỗi vùng trời riêng ấy đều hòa vào “bầu trời Tổ quốc” chung rộng lớn. Điều đó có nghĩa là yêu quê hương mình cũng chính là yêu đất nước; bảo vệ, xây dựng quê hương cũng là góp phần dựng xây Tổ quốc. Không có sự tách rời giữa cái riêng và cái chung, giữa lợi ích cá nhân với trách nhiệm công dân.

Trong văn bản, Lê và Sơn đến từ hai miền quê khác nhau: một người gắn với sông Lam, một người gắn với sông Hồng. Họ từng chiến đấu bên nhau rồi lại chia nhau những vùng trời để tiếp tục nhiệm vụ. Dù ở đâu, họ đều chiến đấu vì sự bình yên của đất nước. Lê tin tưởng giao quê hương mình cho Sơn bảo vệ, còn Sơn cũng xem vùng trời ấy như chính quê hương của mình. Tình cảm ấy cho thấy tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm cao đẹp của thế hệ trẻ thời chiến: mọi miền đất nước đều thiêng liêng như nhau.

Trong bối cảnh hôm nay, khi đất nước đang đổi mới và hội nhập mạnh mẽ, ý nghĩa của tư tưởng ấy càng trở nên sâu sắc. Mỗi địa phương đang góp phần vào sự phát triển chung của quốc gia: vùng núi phát triển kinh tế xanh, miền biển giữ gìn chủ quyền, đô thị đổi mới công nghệ, nông thôn xây dựng đời sống hiện đại. Dù ở miền xuôi hay miền ngược, thành phố hay nông thôn, mọi con người đều đang chung tay dựng xây đất nước. Một bác sĩ tình nguyện đến vùng sâu chữa bệnh, một giáo viên cắm bản nơi biên giới hay những chiến sĩ ngày đêm canh giữ biển đảo đều là minh chứng cho tinh thần “vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc”.

Đối với thế hệ trẻ, nhận thức ấy càng cần được nuôi dưỡng mạnh mẽ. Trong thời đại toàn cầu hóa, nhiều người có cơ hội học tập, làm việc ở những nơi khác nhau, thậm chí ở nước ngoài. Nhưng dù ở đâu, mỗi người vẫn cần hướng về quê hương, giữ gìn bản sắc dân tộc và có trách nhiệm với cộng đồng. Không nên sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân hay địa phương mình mà thờ ơ với những vấn đề chung của đất nước. Khi thiên tai xảy ra ở miền Trung, dịch bệnh bùng phát ở nhiều nơi hay biển đảo cần được bảo vệ, mọi người dân Việt Nam đều phải có ý thức sẻ chia và hành động.

“Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc” là một thông điệp giàu giá trị nhân văn và thời đại. Nó nhắc nhở mỗi người biết vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đất nước. Khi mỗi con người biết yêu thương, cống hiến cho quê hương mình và trân trọng mọi miền đất nước, Tổ quốc sẽ ngày càng bền vững, giàu đẹp và phát triển.

Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi tên nhân vật là “Lê”, “Sơn”, “họ”.


Câu 2.

  • Quê hương của  gắn với sông Lam.
  • Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng.

Câu 3.
Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Đại đội pháo của họ như một gốc cây lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh” có tác dụng:

  • Gợi hình ảnh đại đội pháo như một cơ thể sống thống nhất, bền chặt, giàu sức sống.
  • “Hai nhánh” gợi sự chia quân, mỗi người nhận nhiệm vụ ở những vùng trời khác nhau nhưng vẫn chung một cội nguồn, chung lý tưởng chiến đấu.
  • Qua đó làm nổi bật tình đồng đội gắn bó sâu nặng của những người lính trong kháng chiến.

Câu 4.
Chi tiết: “Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” có vai trò:

  • Thể hiện tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn giữa Lê và Sơn trong cuộc sống chiến đấu gian khổ.
  • Khắc họa vẻ đẹp của người lính: cùng chia sẻ từ những vật dụng đời thường đến nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
  • Làm nổi bật chủ đề tác phẩm: dù ở những vùng trời khác nhau, họ vẫn chung lý tưởng, trách nhiệm và tình yêu đất nước.

Câu 5.
Hai ngữ liệu có sự tương đồng về ý nghĩa:

  • Đều thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của con người với những vùng đất đã từng sống, chiến đấu và gắn bó.
  • Những miền đất đi qua không chỉ là không gian địa lí mà đã trở thành một phần tâm hồn, ký ức và tình cảm của con người.
  • Qua đó ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước và sự gắn bó tha thiết của con người với nơi mình từng cống hiến, trải nghiệm.