Tô Phạm Ngọc Diệp
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Văn bản có sự kết hợp của các yếu tố: Tự sự, miêu tả và biểu cảm.
Câu 2: Chủ đề của đoạn trích: Vẻ đẹp bình dị của cây rau khúc và ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc của món xôi khúc đối với quê hương.
Câu 3:
a. Tính mạch lạc: Các đoạn văn đều xoay quanh một đối tượng duy nhất (cây rau khúc và xôi khúc), trình bày theo trình tự logic: từ giới thiệu loài cây -> cách chế biến món ăn -> ý nghĩa trong đời sống văn hóa làng quê.
b. Phép liên kết: Phép nối (từ nối "Sau đó").
Câu 4:Từ ngữ, hình ảnh: "thích mắt", "mát rười rượi", "Chao ôi", "thơm ngậy nồng nàn", "tỏa lan nức mũi", "căng mọng như trái chín", "Nhìn đã thèm".Cái "tôi" tác giả: Là một người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, trân trọng những giá trị truyền thống và có tình yêu tha thiết, sâu nặng với mảnh đất quê hương.
Câu 5: Chất trữ tình thể hiện qua:Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng.Sự đan xen cảm xúc hoài niệm và niềm tự hào về sản vật quê hương.Cách nhìn nhận món ăn không chỉ là thực phẩm mà là "hồn cốt", là "tấm lòng thành" của con người.
Câu 6: Đoạn văn trên khẳng định giá trị thiêng liêng và "hồn cốt" của xôi lá khúc trong văn hóa tâm linh của người dân quê, cho thấy giá trị của mâm lễ không nằm ở sự sang trọng vật chất mà ở sự thành tâm. Thông điệp sâu sắc nhất chính là lời nhắc nhở trân trọng những nét đẹp mộc mạc, giản dị và truyền thống văn hóa truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay. Đĩa xôi khúc, dù bình dị, lại là biểu tượng của tấm lòng chân thành, mộc mạc mà người dân thôn dã dâng lên các đấng thần linh. Qua đó, tác giả tôn vinh sợi dây kết nối thiêng liêng giữa con người với cội nguồn và quê hương. Đoạn văn khơi gợi niềm tự hào, tình yêu quê hương và ý thức giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời trước sự thay đổi của thời đại.
Truyền thống “Lá lành đùm lá rách” không chỉ là một lời nhắc nhở về sự sẻ chia mà còn là trụ cột đạo đức giữ cho xã hội Việt Nam luôn ấm áp tình người.
Việc gìn giữ truyền thống này là vô cùng cần thiết bởi ba lý do chính:Thứ nhất, nó là điểm tựa cho những hoàn cảnh khó khăn. Cuộc sống luôn tồn tại những rủi ro bất ngờ như thiên tai, dịch bệnh hay nghèo đói. Khi "lá lành" biết bao bọc "lá rách", những nguồn lực vật chất và tinh thần ấy giúp người yếu thế có thêm cơ hội để vươn lên, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.Thứ hai, đây là sợi dây thắt chặt khối đại đoàn kết. Một dân tộc mạnh không chỉ ở kinh tế mà còn ở sự gắn kết. Tinh thần tương thân tương ái biến những người xa lạ thành đồng bào, tạo nên sức mạnh cộng đồng to lớn để cùng nhau vượt qua mọi biến cố lịch sử. Khi biết sống vì nhau, xã hội sẽ bớt đi sự vô cảm và xung đột.Thứ ba, việc thực hiện đạo lý này giúp bồi đắp nhân cách cá nhân. Khi biết cho đi, con người học được cách thấu hiểu, trân trọng giá trị cuộc sống và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn.
Đây là liều thuốc quý giá ngăn chặn lối sống ích kỷ, thực dụng trong thời đại công nghệ số.Tóm lại, gìn giữ truyền thống “Lá lành đùm lá rách” chính là bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.
Câu 1: Văn bản kết hợp phương thức biểu cảm với các phương thức bổ trợ là thuyết minh (giới thiệu về phở) và tự sự (kể về trải nghiệm ăn phở, các hàng phở).
Câu 2: Chủ đề của văn bản là ca ngợi, tôn vinh phở như một nét văn hóa ẩm thực đặc sắc, tinh tế của Việt Nam, qua đó thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và phong cách sống tài hoa, nghệ sĩ của tác giả.
Câu 3:
a. Phép liên kết: Phép nối ("thêm nữa").
b. Phép liên kết: Phép lặp từ ngữ ("thịt chín").
Câu 4: Cái tôi của Nguyễn Tuân được thể hiện là một cái tôi tài hoa, uyên bác, đầy cảm xúc và tinh tế. Ông không chỉ thưởng thức món ăn mà còn nâng phở lên thành nghệ thuật, cảm nhận sâu sắc cái "thú" của mùa đông và hơi ấm con người qua hình ảnh bếp lửa hàng phở, thể hiện tình yêu sự bình dị trong văn hóa Việt.
Câu 5: Một số câu văn bộc lộ cảm xúc trong đoạn (4):"tôi cho không gì nên thơ bằng cái hình ảnh một bếp lửa hàng phở bến ô tô nhiều hành khách quây quanh chờ đợi bát mình": Bộc lộ sự ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp bình dị nhưng đầy thi vị, tình người."vai rụt xuống một tí, người nhún nhẩy như trẻ em đang thú đời": Bộc lộ sự quan sát tinh tế, niềm vui, sự đồng cảm và trân trọng những khoảnh khắc hạnh phúc giản đơn của người lao động.
Câu 6:
Với em, tuổi thơ đáng nhớ nhất là những buổi chiều hè cùng bạn bè trong xóm thả diều trên đê. Hình ảnh những cánh diều giấy tự làm bay cao trên nền trời xanh thẳm, tiếng cười nói giòn tan hòa vào làn gió mát rượi là kí ức ngọt ngào không thể nào quên. Mỗi lần diều vướng vào cây hay chao đảo hạ cánh, chúng em lại reo hò, chạy nhảy, quên hết mọi mệt nhọc. Kí ức ấy không chỉ là những trò chơi đơn sơ, mà là biểu tượng của sự hồn nhiên, vô tư trong sáng mà khi lớn lên, ai cũng muốn tìm lại. Dù thời gian trôi qua, những cảm xúc vui sướng và hồn nhiên ấy vẫn mãi là một phần đẹp đẽ nhất trong tâm hồn em. Những cánh diều ấy đã chắp cánh cho những ước mơ cao xa của tuổi thơ, làm cho quãng thời gian đó trở nên vô cùng ý nghĩa.
Câu 2
a)
b) Các bội chung của 11 là:0;11;22;33;44;55;...
Mà 10 <x< 40
Vậy x thuộc {11;22;33}
Ta có:(n+3) ...(n+3) với mọi số tự nhiên n
nên 2(n+3)=2n+6...(n+3)
Mà 2n+12=2n+6+6
Do đó để (2n+12)...(n+3) thì 6chia hết cho n+thuộc Ư(6)={1;2;3;6}
Giải từng trường hợp ta được:n=0;n=3.
a) Diện tích mảnh vườn hình chữ nhật ABCD là:
35.20=700(m2)
b) Quãng đường ông Đức đi một vòng xung quanh vườn dài là:
(35+20).2=110(m)
c) Diện tích trồng hoa là:
700-35.20:2=350(m2)