Vũ Tùng Dương
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện đặc sắc nghệ thuật trong việc khắc họa cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và Từ Hải. Trước hết, tác giả sử dụng bút pháp ước lệ, lí tưởng hóa để xây dựng hình tượng Từ Hải với tầm vóc phi thường: “đấng anh hào”, “đội trời đạp đất”, qua đó làm nổi bật khí phách của người anh hùng thời loạn. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, kết hợp các từ ngữ mang sắc thái trang trọng đã góp phần nâng cao vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật. Bên cạnh đó, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật qua đối thoại được thể hiện tinh tế. Những lời đối đáp giữa Kiều và Từ Hải vừa lịch thiệp, vừa kín đáo bộc lộ sự đồng cảm, tri âm tri kỉ giữa hai con người cùng mang khát vọng tự do. Nguyễn Du còn vận dụng linh hoạt thể thơ lục bát với nhịp điệu mềm mại, giàu tính nhạc, giúp cảm xúc nhân vật được bộc lộ tự nhiên. Ngoài ra, các hình ảnh ẩn dụ như “trai anh hùng gái thuyền quyên”, “sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng” góp phần khắc họa mối lương duyên đẹp đẽ, mang ý nghĩa lí tưởng. Nhờ những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc ấy, đoạn trích vừa giàu chất trữ tình vừa làm nổi bật vẻ đẹp của tình yêu tri kỉ trong Truyện Kiều.
Câu 2 :
Trong cuộc sống, lòng tốt luôn được xem là một trong những phẩm chất đáng quý nhất của con người. Ý kiến: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh” đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc về ý nghĩa cũng như giới hạn của lòng tốt.
Trước hết, lòng tốt là sự quan tâm, yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ người khác bằng sự chân thành. Trong nhiều hoàn cảnh, lòng tốt có sức mạnh chữa lành những tổn thương tinh thần mà vật chất không thể thay thế. Một lời động viên đúng lúc, một hành động giúp đỡ khi khó khăn hay sự thấu hiểu chân thành đều có thể giúp con người vượt qua đau khổ, tìm lại niềm tin vào cuộc sống. Chính lòng tốt đã kết nối con người với nhau, khiến xã hội trở nên ấm áp và nhân văn hơn.
Tuy nhiên, câu nói cũng nhấn mạnh rằng lòng tốt cần đi kèm với sự tỉnh táo và hiểu biết. Nếu giúp đỡ mà thiếu suy nghĩ, lòng tốt đôi khi lại gây ra hậu quả ngược lại. Chẳng hạn, việc bao che cho lỗi sai của người thân vì thương yêu có thể khiến họ không nhận ra sai lầm và tiếp tục đi lệch hướng. Hay việc tin tưởng mù quáng, giúp nhầm người xấu có thể khiến bản thân bị lợi dụng. Khi ấy, lòng tốt không còn mang lại giá trị tích cực mà trở thành sự yếu đuối hoặc cả tin.
Lòng tốt “sắc sảo” nghĩa là biết giúp đúng người, đúng lúc và đúng cách. Đó là sự kết hợp giữa trái tim ấm áp và lí trí tỉnh táo. Người thực sự tốt không chỉ biết cho đi mà còn biết đặt ra giới hạn, biết nói “không” khi cần thiết để bảo vệ bản thân và giúp người khác trưởng thành. Một sự giúp đỡ đúng đắn không phải là làm thay tất cả, mà là trao cho người khác cơ hội tự đứng lên bằng chính năng lực của mình.
Trong xã hội hiện đại, khi các mối quan hệ ngày càng phức tạp, lòng tốt càng cần đi cùng trí tuệ. Mạng xã hội hay đời sống thường ngày đều có những trường hợp lợi dụng sự thương cảm của người khác để trục lợi. Điều đó không có nghĩa con người nên trở nên lạnh lùng, mà cần học cách yêu thương một cách thông minh hơn.
Đối với mỗi người trẻ, đặc biệt là học sinh, việc rèn luyện lòng tốt là điều cần thiết. Hãy biết sẻ chia với bạn bè, kính trọng thầy cô, giúp đỡ gia đình và sống tử tế với mọi người xung quanh. Nhưng đồng thời, cũng cần học cách suy nghĩ trước khi hành động, phân biệt đúng sai và giữ vững nguyên tắc sống của mình.
Tóm lại, lòng tốt là giá trị làm nên vẻ đẹp của con người, có khả năng chữa lành những tổn thương trong cuộc sống. Tuy nhiên, lòng tốt chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng sự tỉnh táo và sáng suốt. Khi trái tim và lí trí song hành, lòng tốt mới trở thành sức mạnh giúp con người và xã hội phát triển bền vững.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy
Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
* Gợi ý trả lời:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ("thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu
Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều "Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng." => Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
- Tình cảm/cảm xúc của bản thân:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
- Lí giải: Học sinh lí giải ngắn gọn, phù hợp, thể hiện được quan điểm cá nhân.