Vũ Minh Tú
Giới thiệu về bản thân
Question 1:
Last night, I did not order a milkshake because I was not thirsty.
Question 2:
How much time do you spend on math homework each day?
Question 3:
Eating fruits and vegetables is the healthiest way to stay fit.
Question 1:
I fancy taking part in a clean-up event this month.
Question 2:
The bookshelves are the same height as the windows.
Question 3:
Why don’t we collect old plastic bottles and paper in our school?
Question 4:
My friends go to the studio to practice dancing, and I do too.
Question 1:
We planted trees together in the community garden a month ago.
Question 2:
Her voice is as beautiful as a melody from a fairy tale.
Question 3:
We have a school assembly on Monday mornings in the school yard.
rong truyện ngắn “Thầy giáo dạy vẽ của tôi” của Xuân Quỳnh, nhân vật thầy Bản đã để lại trong em nhiều xúc động sâu sắc bởi hình ảnh một người thầy nghèo, cô đơn nhưng giàu tình yêu nghề và yêu học trò.
Thầy Bản là một người họa sĩ không gặp may mắn trong cuộc đời. Dù rất yêu hội họa, dốc hết sức lực và tiền bạc cho nghệ thuật nhưng thầy không có danh tiếng. Cuộc sống riêng của thầy cũng đầy mất mát: vợ con đều đã qua đời, để lại cho thầy nỗi cô đơn kéo dài. Tuy vậy, thầy không bi quan mà xem công việc dạy học và học sinh là nguồn vui duy nhất của mình. Điều đó cho thấy thầy là người có tâm hồn trong sáng, sống vì người khác.
Ở thầy còn toát lên tình yêu nghề tha thiết và sự khiêm nhường đáng quý. Khi có tranh được trưng bày ở triển lãm, thầy vừa hy vọng vừa rụt rè, hồi hộp chờ đợi ý kiến người xem. Ngay cả khi được “khen”, thầy vẫn tự nhận tranh mình chưa thật vừa ý và mong muốn sửa chữa để hoàn thiện hơn. Điều đó thể hiện đức tính khiêm tốn, tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc của người nghệ sĩ chân chính.
Đặc biệt, thầy Bản là một người thầy tận tụy, hết lòng vì học trò. Thầy coi học sinh là niềm an ủi lớn nhất của đời mình. Chính sự hiền hậu, giản dị và yêu thương ấy đã khiến học trò vô cùng kính trọng, thương yêu thầy, đến mức sẵn sàng làm một việc “nói dối” đầy nhân hậu để thầy được vui. Dù thầy không bao giờ biết sự thật, nhưng niềm xúc động của thầy trước những lời nhận xét ấy cho thấy thầy sống rất chân thành và giàu cảm xúc.
Qua nhân vật thầy Bản, tác giả Xuân Quỳnh đã ca ngợi vẻ đẹp thầm lặng của những người thầy bình dị, đồng thời gợi nhắc mỗi chúng ta hãy biết trân trọng, biết ơn và yêu thương những người đã âm thầm cống hiến cho cuộc đời.
Câu 9
a) So sánh hai câu:
- (1) Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.
- (2) Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.
Tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ:
- Câu (2) mở rộng trạng ngữ bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng” → giúp người đọc hình dung rõ hơn không gian phòng triển lãm.
- Làm nổi bật sự đối lập: không gian sáng sủa, trang trọng nhưng bức tranh của thầy lại nhỏ bé, ít được chú ý → tăng giá trị biểu cảm, gợi sự xót xa, thương cảm cho nhân vật thầy Bản.
b) So sánh hai câu:
- (1) Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.
- (2) Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.
Tác dụng của việc mở rộng vị ngữ:
- Từ “rất” làm tăng mức độ biểu đạt của tính từ “đẹp”.
- Giúp lời nhận xét trở nên rõ ràng, mạnh mẽ, thể hiện sự trân trọng, yêu mến và động viên đối với tài năng, công sức của người họa sĩ.
Câu 10
Bài học/Thông điệp rút ra từ câu chuyện:
Câu chuyện giúp em hiểu rằng:
👉 Lòng yêu thương, sự cảm thông và những hành động nhỏ nhưng chân thành có thể mang lại niềm vui, sự an ủi lớn lao cho người khác.
Qua hình ảnh những học trò âm thầm viết lời khen cho thầy, em học được cách sống nhân ái, biết trân trọng, biết ơn những người thầy đã tận tụy vì học trò dù âm thầm, không cần được vinh danh.
Câu 1.
Văn bản được viết theo 5 chữ (các dòng thơ không đều số chữ, gieo vần linh hoạt).
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm (kết hợp với miêu tả).
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ là điệp ngữ với cụm từ “Tôi về, đi tìm ngoại”.
→ Tác dụng:
- Nhấn mạnh nỗi nhớ thương, khát khao được gặp lại người ngoại thân yêu.
- Tạo nhịp điệu da diết, ám ảnh cho toàn bài thơ.
- Thể hiện hành trình trở về không chỉ là về không gian mà còn là trở về ký ức, tình cảm sâu nặng với ngoại.
Câu 4.
Khổ thơ thứ năm cho thấy người cháu đã trải qua gần nửa đời người trong nỗi nhớ ngoại. Khi trở về, dù ngoại không còn, nhưng cháu như được trở về trong vòng tay yêu thương của ngoại, tìm thấy sự bình yên, bao dung và sâu rộng như “biển khơi”. Khổ thơ thể hiện tình cảm thiêng liêng, bất diệt giữa cháu và ngoại.
Câu 5.
Qua bài thơ, em rút ra bài học:
- Cần biết trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu.
- Hãy yêu thương, quan tâm ông bà khi còn có thể, đừng để đến lúc mất đi mới ân hận.
Câu 6.
Bài thơ Thưa ngoại con mới về gợi lên nỗi xúc động sâu sắc về tình cảm bà cháu. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê hiện lên vắng lặng, thấm đẫm nỗi buồn chia xa. Điệp ngữ “Tôi về, đi tìm ngoại” như tiếng gọi da diết của người cháu hướng về ký ức yêu thương. Dù ngoại không còn, tình ngoại vẫn sống mãi trong lòng cháu. Bài thơ khiến em thêm yêu gia đình và trân trọng những người thân yêu bên cạnh mình.
Câu 1.
Văn bản được viết theo 5 chữ (các dòng thơ không đều số chữ, gieo vần linh hoạt).
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm (kết hợp với miêu tả).
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ là điệp ngữ với cụm từ “Tôi về, đi tìm ngoại”.
→ Tác dụng:
- Nhấn mạnh nỗi nhớ thương, khát khao được gặp lại người ngoại thân yêu.
- Tạo nhịp điệu da diết, ám ảnh cho toàn bài thơ.
- Thể hiện hành trình trở về không chỉ là về không gian mà còn là trở về ký ức, tình cảm sâu nặng với ngoại.
Câu 4.
Khổ thơ thứ năm cho thấy người cháu đã trải qua gần nửa đời người trong nỗi nhớ ngoại. Khi trở về, dù ngoại không còn, nhưng cháu như được trở về trong vòng tay yêu thương của ngoại, tìm thấy sự bình yên, bao dung và sâu rộng như “biển khơi”. Khổ thơ thể hiện tình cảm thiêng liêng, bất diệt giữa cháu và ngoại.
Câu 5.
Qua bài thơ, em rút ra bài học:
- Cần biết trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu.
- Hãy yêu thương, quan tâm ông bà khi còn có thể, đừng để đến lúc mất đi mới ân hận.
Câu 6.
Bài thơ Thưa ngoại con mới về gợi lên nỗi xúc động sâu sắc về tình cảm bà cháu. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê hiện lên vắng lặng, thấm đẫm nỗi buồn chia xa. Điệp ngữ “Tôi về, đi tìm ngoại” như tiếng gọi da diết của người cháu hướng về ký ức yêu thương. Dù ngoại không còn, tình ngoại vẫn sống mãi trong lòng cháu. Bài thơ khiến em thêm yêu gia đình và trân trọng những người thân yêu bên cạnh mình.
Bài làm
Bài thơ “Chiều đồng nội” của Nguyễn Lãm Thắng là một bức tranh đồng quê mùa thu yên bình, trong trẻo và tràn đầy sức sống. Bằng ngôn từ giản dị, hình ảnh gợi cảm, nhà thơ đã đưa người đọc trở về với khung cảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, nơi có thiên nhiên hiền hòa và cuộc sống bình dị, ấm áp tình người.
Ngay từ khổ thơ đầu, nhà thơ mở ra không gian mùa thu trong veo, tinh khôi:
“Những giọt thu trong veo
Rắc ngang qua đồng nội
Cánh chim bay xuống chiều
Nâng nắng lên kẻo mỏi.”
Hình ảnh “giọt thu trong veo” và “cánh chim bay xuống chiều” khiến người đọc cảm nhận được vẻ nhẹ nhàng, thanh thoát của buổi chiều nơi đồng nội. Cái nhìn của tác giả thật tinh tế, đầy yêu thương, khi thấy cả ánh nắng cũng như đang mỏi, được cánh chim “nâng lên” – một cách nhân hoá rất gợi cảm và đầy chất thơ.
Những khổ thơ tiếp theo là bức tranh sống động của buổi chiều quê: “Cánh cò trôi nhanh nhanh / Đàn trâu về chậm rãi.” Nhịp thơ êm đềm như nhịp sống thanh thản của làng quê. Tác giả miêu tả mùa thu bằng cảm xúc dịu dàng: “Mùa thu như tay mềm / Chạm lên từng thảm lụa.” Mỗi câu thơ là một nét chấm phá tinh tế, chan chứa tình yêu thiên nhiên.
Khổ thơ cuối khép lại bài bằng hình ảnh “Bếp nhà ai toả khói / Gọi trăng thu xuống gần.” Cảnh vật như có hồn, hơi khói lam hoà cùng ánh trăng tạo nên không gian ấm áp, gợi cảm giác đoàn tụ, bình yên.
Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được tình yêu tha thiết của tác giả đối với quê hương và thiên nhiên. “Chiều đồng nội” không chỉ là bức tranh đẹp của cảnh vật mà còn là bản nhạc êm đềm của tâm hồn, nhắc nhở chúng ta biết trân trọng và yêu quý những vẻ đẹp bình dị quanh mình.
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản trên được viết theo thể thơ năm chữ.
Câu 2. (0,5 điểm)
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
- “Cánh chim bay xuống chiều.”
- “Cánh cò trôi nhanh nhanh.”
- “Đàn trâu về chậm rãi.”
(hoặc có thể nêu: “Bếp nhà ai toả khói”, “Sóng lúa nhấp nhô”, “Trăng thu xuống gần”.)
Câu 3. (1,0 điểm)
- Từ láy: “chậm rãi” (hoặc “nhấp nhô”, “mướt xanh”).
- Tác dụng: Gợi tả sự nhẹ nhàng, yên bình của cảnh vật và làm cho bức tranh đồng quê buổi chiều thu trở nên sinh động, có nhịp điệu êm đềm, thơ mộng.
Câu 4. (1,0 điểm)
- Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
- Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất đẹp và nên thơ, với không gian trong trẻo, thanh bình, mang sắc màu dịu nhẹ của mùa thu quê hương. Cảnh vật gần gũi, sống động và chứa đựng tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả.
Câu 5. (1,5 điểm)
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá – thể hiện qua câu “Bếp nhà ai toả khói / Gọi trăng thu xuống gần.”
- Tác dụng: Làm cho cảnh vật trở nên có hồn, gợi cảm xúc thân thương, ấm áp; thể hiện sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên, khiến bức tranh quê thêm thơ mộng, gần gũi.
Câu 6. (1,5 điểm)
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều mùa thu trên cánh đồng quê, nơi em cùng bà đi gặt lúa, nghe tiếng trâu gọi bạn và nhìn khói lam chiều bay lên từ mái bếp nhỏ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng quê hương luôn là nơi bình yên, chan chứa tình người và tình đất. Tác giả muốn gửi gắm thông điệp: hãy yêu thương, trân trọng vẻ đẹp giản dị, thanh bình của quê hương – nơi nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người.
Bài làm
Trong lịch sử dân tộc ta, có nhiều nhân vật anh hùng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng em, nhưng người em luôn kính phục và quan tâm nhất là chị Võ Thị Sáu – người con gái anh hùng của đất Đỏ, Bà Rịa – Vũng Tàu.
Em biết đến chị Võ Thị Sáu qua những câu chuyện kể của thầy cô và qua bài hát “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”. Chị Sáu sinh năm 1933, trong một gia đình lao động nghèo. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã sớm tham gia cách mạng, làm liên lạc cho bộ đội. Năm 14 tuổi, chị dũng cảm ném lựu đạn trừng trị bọn tay sai phản động. Dù bị bắt, tra tấn dã man, chị vẫn kiên cường không khai nửa lời, một lòng trung thành với Tổ quốc. Khi bị kết án tử hình, chị vẫn bình thản, ung dung hát vang bài ca yêu nước, khiến cả nhà tù phải cúi đầu kính phục.
Ngày 23 tháng 1 năm 1952, chị Sáu bị đưa ra pháp trường. Trước họng súng kẻ thù, chị vẫn hiên ngang bước đi, miệng hát: “Anh ngã xuống đường rồi, anh ngã xuống đường rồi...” – tiếng hát ấy trở thành bản anh hùng ca bất diệt. Dù tuổi đời còn rất trẻ, chị đã dám hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của dân tộc.
Câu chuyện về chị Võ Thị Sáu khiến em vô cùng xúc động và tự hào. Em khâm phục tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và niềm tin son sắt vào cách mạng của chị. Chị là tấm gương sáng để em học tập, nhắc em sống có lý tưởng, biết ơn thế hệ cha anh đi trước và cố gắng học tập thật tốt để góp phần xây dựng đất nước hôm nay.