Dương Việt Khánh
Giới thiệu về bản thân
Một số sự sáng tạo của Nguyễn Du so với Thanh Tâm tài nhân khi xây dựng nhân vật Từ Hải là:
- Nguyễn Du miêu tả chi tiết, cụ thể chân dung của Từ Hải theo những nét đẹp ước lệ, tượng trưng - khuôn mẫu tiêu chuẩn vẻ đẹp người anh hùng thời trung đại.
- Lược bỏ bớt những chi tiết không được đẹp trong lai lịch của Từ Hải góp phần tôn thêm nét đẹp của nhân vật, tạo thiện cảm với bạn đọc.
- Thay vì để cho cuộc gặp gỡ thông qua sự chỉ thị của mụ chủ, Nguyễn Du lại để cho Từ Hải chủ động gửi thiếp danh trước. Chi tiết thể hiện sự lịch thiệp, trang trọng của Từ Hải đồng thời cho thấy Từ Hải cũng rất tôn trọng Thúy Kiều, không coi nàng giống những cô gái lầu xanh khác.
Xác định được bút pháp được sử dụng: ước lệ, lí tưởng hóa.
- Tác dụng của bút pháp miêu tả ước lệ, lí tưởng hóa: Phác họa chân thực, cụ thể chân dung người anh hùng Từ Hải với những nét đẹp tiêu chuẩn, mực thước của xã hội phong kiến, đồng thời thể hiện sự trân trọng, ngợi ca, tôn vinh mà tác giả dành cho nhân vật.
- Những từ ngữ dùng để chỉ nhân vật Từ Hải: khách biên đình, đấng anh hào, anh hùng, trai anh hùng.
- Những từ ngữ, hình ảnh dùng để miêu tả nhân vật Từ Hải: râu hùm, hàm én, mày ngài, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
- Nhận xét về thái độ của tác giả dành cho Từ Hải: trân trọng, ngợi ca, tôn vinh, lí tưởng hóa nhân vật
Một số điển tích, điển cố trong văn bản là: Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo; mắt xanh; Tấn Dương; Sánh phượng, cưỡi rồng
Văn bản kể về sự việc Từ Hải tìm gặp Thúy Kiều, thương cho cảnh ngộ và say mê trước tài sắc vẹn toàn của Kiều nên cảm mến mà chuộc nàng ra khỏi lầu xanh và cưới nàng làm vợ.
Câu 1. (0.5 điểm)
Những phương thức biểu đạt được sử dụng: Miêu tả, biểu cảm, tự sự.
Câu 2. (0.5 điểm)
Sự việc được tái hiện: Thúy Kiều báo oán, trong đó có tình huống Thúy Kiều xét xử Hoạn Thư và trừng trị Tú Bà, Mã Giám Sinh, Ưng, Khuyển,...
Câu 3. (1.0 điểm)
Hoạn Thư được Thúy Kiều tha tội vì:
- Hoạn Thư sử dụng lí lẽ rất khéo léo để biện minh: Hoạn Thư thừa nhận tội lỗi nhưng đưa ra lí do rất thường tình của mọi nữ nhân khi chồng có nhân tình bên ngoài.
- Hoạn Thư nhắc lại những lần nàng nương tay với Thúy Kiều như việc cho Kiều ra Quan Âm các chép kinh phật, cung cấp đủ dầu đèn và cho người theo hầu, cũng không truy cùng giết tận khi Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư.
- Hoạn Thư đã khéo léo tạo được sự đối lập giữa một kẻ gian ngoan nhưng vẫn hiểu đạo lí với những kẻ tàn ác khác. Điều này khiến Thúy Kiều thấy không cần thiết phải trả thù Hoạn Thư đến cùng.
Câu 4. (1.0 điểm)
- Những biện pháp tu từ được sử dụng:
+ Liệt kê: Chỉ ra hàng loạt kẻ phản bội, độc ác đã từng làm hại Thúy Kiều.
+ Điệp ngữ "Bên là ...": Tạo ra nhịp điệu nhịp nhàng cho lời thơ, đồng thời nhấn mạnh vào những đối tượng được nhắc đến: Ưng, Khuyển, Sở Khanh.
Câu 5. (1.0 điểm)
Thông qua đoạn trích trên, Nguyễn Du đã tái hiện lại việc Thúy Kiều báo oán những người đã từng hãm hại nàng. Qua đó, người đọc thấy được thái độ khôn ngoan, sự bao dung của Kiều và tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du khi xây dựng hình tượng nhân vật Thúy Kiều.
nội dung đoạn trích trên nói lên sụ ghen tuông của hoạn thu đối vói thúy kiều khi chòng hoạn thu phải lòng thúy kiều
[Sửa]Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (17)(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Thoắt trông, nàng đã chào thưa:
"Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!"
Hoạn Thư hồn lạc, phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng, dở điều kêu ca.
Rằng: "Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình!
Nghĩ cho khi các viết kinh(1),
Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng cũng kính yêu,
Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai!
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng."
Khen cho: "Thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá(2) thì nên!
Truyền quân lệnh(3) xuống, trướng tiền(4) tha ngay(5)."
Tạ lòng, lạy trước sân mây,
Cửa viên(6) lại dắt một dây dẫn vào.
Nàng rằng: "Lồng lộng trời cao!
Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta?
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà với Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?"
Lệnh quân truyền xuống nội đao(7),
Thề sao, thì lại cứ sao gia hình(8).
Máu rơi, thịt nát tan tành,
Ai ai trông thấy hồn kinh, phách rời.
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người, chẳng bỏ khi người phụ ta!
Mấy người bạc ác, tinh ma,
Mình làm, mình chịu, kêu mà ai thương!
Ba quân đông mặt pháp trường,
Thanh thiên, bạch nhật, rõ ràng cho coi.
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
* Chú thích:
(1) Các viết kinh: Chỉ khi ở Quan Âm các, Hoạn Thư cho dầu đèn đủ, lại cho hai đứa hầu là có ý nương nhẹ tài Kiều. Và khi Kiều trốn đi mang cả đồ kim ngân mà Hoạn Thư cho qua, không đuổi theo, nên giờ kể ra để chạy tội.
(2) Tri quá: Biết lỗi.
(3) Quân lệnh: Lời quan truyền xuống.
(4) Trướng tiền: Những kẻ ở dưới.
(5) Tha ngay: Đoạn này theo nguyên truyện: “Vương phu nhân lại truyền cho tả hữu đem Kế thị (mẹ Hoạn Thư) ra nọc đánh 30 roi. Quân lính sắp ra tay thì Hoạn thư xin chịu đòn thay và mụ quản gia [...] xin tình nguyện chết thay cho nhũ mẫu. Vương phu nhân nể lời mụ quản gia tha tội cho Kế thị [...] nhưng Kế thị sợ quá đã chết ngay tức thì. Vương phu nhân lại truyền lệnh đem Hoạn thư ra, lột trần áo xiêm, chỉ để cho một cái khố, buộc tóc lên xà nhà rồi sai đánh 100 trượng. [...] Hoạn Thư luôn giãy giụa kêu trời, toàn thân chẳng còn miếng da nào lành lặn.” Nguyễn Du đã không theo mà để Kiều tha cho Hoạn Thư và không nhắc gì đến Kế thị, thật có phong thể.
(6) Cửa viên: Tức viên môn, cửa quan.
(7) Nội đao: Thị vệ, quân cầm đao, cầm búa đứng hầu cận.
(8) Thề sao, thì lại cứ sao gia hình: “Gia hình” là thi hành hình phạt với phạm nhân. Đoạn này nguyên truyện mô tả hình phạt tương ứng lời thề của từng đứa, Kiều xử băm xác tên này, đốt thây tên nọ rất ghê sợ. Nguyễn Du chỉ thu lại trong một câu mà không nêu ra chi tiết.
nội dung đoạn trích trên nói lên sụ ghen tuông của hoạn thu đối vói thúy kiều khi chòng hoạn thu phải lòng thúy kiều