Đàm Hiếu Bình

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đàm Hiếu Bình
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Skip to content

ChatGPT Log in Sign up for free
You said:

Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (29)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)

Kim Trọng tìm Kiều

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Vội sang vườn Thuý dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Xập xoè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

Cuối tường gai gốc mọc đầy,

Đi về, này những lối này ngày xưa.

Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

Hỏi ông, ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.

Đều là sa sút, khó khăn,

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

Vội han di trú nơi nao,

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.

Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Kiếp này duyên đã phụ duyên,

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.

Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”

Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.

Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.

Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Thấy chàng đau nỗi biệt ly,

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

“Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”

Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.

Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.

Sinh càng trông thấy, càng thương,

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Rằng: “Tôi trót quá chân ra,

Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.

Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

Những điều vàng đá, phải điều nói không!

Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,

Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”

Nỗi thương nói chẳng hết lời,

Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra.

[…]

Rắp mong treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.

Dấn mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, 2022)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản Kim Trọng tìm Kiều.

Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại.

Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau:

Sinh càng trông thấy, càng thương

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Phân tích một số câu thơ tiêu biểu thể hiện rõ tình cảm ấy.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (25)
II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn văn bản sau thuộc phần Đọc hiểu.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về những giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT said:

Dưới đây là đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn, đúng trọng tâm cho tất cả các câu hỏi của đề.


BÀI 1. ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Đoạn trích kể về việc Kim Trọng sau khi trở về liền đến tìm Thuý Kiều, phát hiện nàng đã bán mình cứu cha. Chàng chứng kiến cảnh gia đình Kiều sa sút, nghe rõ sự thật đau lòng và đau đớn, quyết tâm lên đường tìm người yêu.


Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong đoạn trích.

Một số hình ảnh tả thực:

  • “Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”
  • “Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”
  • “Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày”
  • “Nhà tranh, vách đất tả tơi / Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”

Các hình ảnh này miêu tả trực tiếp khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nhà Kiều.


Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh nhà Kiều.

Kim Trọng bàng hoàng, đau xót khi thấy cảnh cũ đã thay đổi, nhà cửa hoang tàn. Chàng thất vọng, ngậm ngùi, tràn đầy thương nhớ và lo lắng cho Kiều. Cảnh vật vắng lặng càng khiến nỗi đau trong lòng chàng thêm quặn thắt.


Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ:

“Sinh càng trông thấy, càng thương / Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.”

  • Biện pháp nghệ thuật: điệp từ “càng… càng”, kết hợp phép đối ý và nghệ thuật tả tâm trạng.
  • Hiệu quả: Làm nổi bật sự tăng tiến trong cảm xúc của Kim Trọng: càng nghe và chứng kiến sự thật, tình thương đối với Kiều càng sâu nặng; đồng thời nỗi đau, sự phẫn uất cũng tăng lên. Cặp từ chỉ nội tạng (“gan”, “ruột”) diễn tả nỗi đau đến tận cùng, rất chân thật và mãnh liệt.

Câu 5. Phân tích tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều qua đoạn trích.

  • Chung thuỷ, sâu nặng: Chàng đau đớn “vật mình vẫy gió, tuôn mưa”, “tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê”.
  • Xót thương vô hạn: Nghe tin Kiều bán mình, Kim Trọng đau như “sét đánh lưng trời”.
  • Quyết tâm tìm Kiều: “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua / Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.”
    → Tình yêu của Kim Trọng vừa tha thiết, vừa bền bỉ, vượt qua mọi ngăn trở.

BÀI 2. VIẾT (6 điểm)

Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đoạn trích.

Đoạn văn mẫu tham khảo (≈ 200 chữ):

Đoạn trích thể hiện sâu sắc bi kịch của Thuý Kiều đồng thời bộc lộ nỗi đau của gia đình nàng trước mối tình đẹp nhưng dở dang của con gái. Nội dung nổi bật là hoàn cảnh éo le của Kiều: gặp cơn gia biến buộc nàng phải bán mình cứu cha, đành lỗi lời thề với Kim Trọng và nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa. Lời kể của cha mẹ Kiều chứa đầy nỗi xót xa, bất lực, thể hiện tình thương vô bờ đối với con. Qua đây, Nguyễn Du lên án xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người vào bi kịch. Về nghệ thuật, đoạn thơ mang đậm giọng điệu bi ai, xót thương; nhiều từ ngữ gợi cảm như “phận mỏng như tờ”, “cực trăm nghìn nỗi”, “dằng dặc muôn đời” diễn tả nỗi đau triền miên. Nghệ thuật kể chuyện xen tả tình giúp cảm xúc thêm sâu lắng. Giọng điệu nhân đạo, thấu cảm của Nguyễn Du bao phủ toàn bộ đoạn thơ. Tác phẩm khắc họa thành công nỗi đau của Kiều và gia đình, đồng thời bộc lộ tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác giả.


Câu 2. Bài văn nghị luận 400 chữ: Giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bài viết mẫu (≈ 400 chữ):

Trong thời đại số, con người được tiếp xúc với nguồn thông tin vô cùng phong phú nhưng đồng thời phải đối mặt với nguy cơ tâm hồn bị khô cứng trước nhịp sống vội vã. Vì vậy, việc nuôi dưỡng một đời sống tinh thần lành mạnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, mỗi người cần biết lựa chọn và sử dụng công nghệ một cách tỉnh táo. Thay vì chìm đắm vào mạng xã hội, chúng ta nên hình thành thói quen sử dụng Internet để học hỏi, mở rộng hiểu biết và kết nối tích cực. Bên cạnh đó, đọc sách luôn là một giải pháp bền vững để nuôi dưỡng tâm hồn. Sách giúp con người chiêm nghiệm, sống chậm lại và phát triển khả năng đồng cảm. Một giải pháp khác là giữ gìn các mối quan hệ gia đình – bạn bè; những cuộc trò chuyện trực tiếp luôn mang lại sự ấm áp mà thế giới ảo không thay thế được. Đồng thời, mỗi cá nhân nên dành thời gian cho thiên nhiên và trải nghiệm thực tế, bởi đó là nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ giúp con người cân bằng. Cuối cùng, nuôi dưỡng đời sống nội tâm qua việc thực hành các thói quen tốt như thiền, viết nhật ký, hoạt động nghệ thuật cũng giúp tâm hồn thêm phong phú. Như vậy, để không bị cuốn trôi trong dòng chảy công nghệ, con người cần chủ động bảo vệ và nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị chân thật, nhân văn. Chính sự hài hoà giữa công nghệ và đời sống tinh thần sẽ giúp chúng ta sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong thời đại số.


Nếu bạn muốn mình viết lại theo dung lượng ngắn – dài hơn, hoặc theo hướng văn phong của học sinh giỏi/khá/trung bình, cứ nói nhé!

You said:

Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 3 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (91)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Sè sè nấm đất bên đàng,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”

Vương Quan mới dẫn gần xa:

“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).

Nổi danh tài sắc một thì,

Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.

Phận hồng nhan có mong manh(2),

Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).

Có người khách ở viễn phương,

Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.

Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,

Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ.

Buồng không lạnh ngắt như tờ,

Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.

Khóc than khôn xiết sự tình,

Khéo vô duyên bấy là mình với ta.

Đã không duyên trước chăng mà,

Thì chi chút ước gọi là duyên sau.

Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),

Vùi nông một nấm(8), mặc dầu cỏ hoa.

Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"

Lòng đâu sẵn mối thương tâm,

Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(10):

"Đau đớn thay, phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Chú thích:

(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.

(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.

(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.

(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.

(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).

(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.

(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.

(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.

(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời.

(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:

Sè sè nấm đất bên đàng,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 5. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái như thế nào?

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (76)
Câu 1. (2 điểm)

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Câu 2. (4 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về lối sống thực dụng của giới trẻ hiện nay.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT said:

Dưới đây là đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn – đúng trọng tâm cho toàn bộ đề số 3.


BÀI 1 (4 điểm)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

→ Thể thơ lục bát.


Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.

Một điển cố được dùng: “trâm gãy, bình rơi” – lấy ý từ thơ Đường, chỉ người đẹp chết yểu, tình duyên dang dở.


Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ:

“Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.”

  • Biện pháp tu từ: từ láy gợi hình, gợi cảm (“sè sè”, “dàu dàu”), miêu tả trực tiếp, kết hợp đối lập sắc màu (“nửa vàng nửa xanh”).
  • Tác dụng: gợi lên cảnh nấm mồ nhỏ bé, hoang lạnh, hắt hiu; sắc cỏ úa tàn thể hiện sự cô đơn, phôi pha của người đã khuất. Từ đó mở đầu cho không khí thương cảm bao trùm toàn đoạn.

Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy trong văn bản.

  • Nhiều từ láy: “sè sè”, “dàu dàu”, “lờ mờ”, “đầm đầm”…
  • Tác dụng: tạo nhạc điệu mềm mại của thơ lục bát; gợi tả cảnh buồn thương, cô quạnh; đồng thời diễn tả tinh tế cảm xúc xót xa của Kiều trước số phận Đạm Tiên.

Câu 5. Tâm trạng Thúy Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên? Điều đó cho thấy nàng là người thế nào?

  • Kiều xúc động mạnh: “đầm đầm châu sa”, thương xót phận má hồng bạc mệnh, cảm thông với cảnh đời lẻ loi của Đạm Tiên.
  • Điều đó cho thấy Kiều là người đa sầu đa cảm, giàu lòng nhân ái, biết trân trọng tình đời, dễ đồng cảm trước nỗi đau của người khác → một tâm hồn tinh tế, giàu nhân đạo.

BÀI 2 (6 điểm)

Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn 200 chữ phân tích nhân vật Đạm Tiên.

Đoạn văn mẫu (≈ 200 chữ):

Trong đoạn trích, Đạm Tiên hiện lên là một nhân vật mang số phận đầy bi thương. Nàng vốn là ca nhi nổi danh tài sắc, được người đời say mê bởi vẻ đẹp và tài năng. Thế nhưng “phận hồng nhan có mong manh”, đang độ xuân thì nàng đã “thoắt gãy cành thiên hương”, ra đi khi thuyền tình của người khách phương xa vừa kịp tìm đến. Cái chết đột ngột của Đạm Tiên vừa gợi xót xa, vừa tố cáo xã hội phong kiến tàn nhẫn đã chôn vùi những kiếp tài hoa. Nấm mồ hoang lạnh, cỏ úa vàng xanh và sự quạnh vắng “vắng tanh” càng làm rõ thân phận cô độc, không người hương khói của nàng. Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du gửi gắm niềm thương cảm sâu sắc đối với những kiếp tài sắc bạc mệnh. Đây cũng là hình ảnh dự báo số phận tương đồng của Thuý Kiều sau này. Đạm Tiên vì thế không chỉ là nhân vật trong câu chuyện, mà còn trở thành biểu tượng cho bi kịch của người phụ nữ tài sắc trong xã hội xưa.


Câu 2 (4 điểm). Bài văn nghị luận 400 chữ về lối sống thực dụng của giới trẻ hiện nay.

Bài mẫu (≈ 400 chữ):

Trong đời sống hiện đại, lối sống thực dụng đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong một bộ phận giới trẻ. Thực dụng là lối sống coi trọng lợi ích vật chất, đề cao cái “được” trước mắt mà xem nhẹ giá trị tinh thần, đạo đức. Thực trạng này xuất hiện khá phổ biến: chỉ chăm chú vào tiền bạc, chạy theo hàng hiệu, thích thành công nhanh, đề cao giá trị bản thân qua vật chất hay đánh giá người khác bằng lợi ích họ đem lại. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ sức ép cạnh tranh, ảnh hưởng của mạng xã hội, sự thay đổi giá trị sống, và đôi khi là sự buông lỏng định hướng của gia đình. Hậu quả của lối sống thực dụng rất nghiêm trọng: làm tha hoá nhân cách, gây đổ vỡ các mối quan hệ, khiến người trẻ dễ đánh mất lý tưởng và không tìm được hạnh phúc đích thực. Để hạn chế lối sống thực dụng, giới trẻ cần rèn luyện lối sống lành mạnh, biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần, trau dồi nhân cách, học cách yêu thương và chia sẻ. Gia đình và xã hội cũng cần định hướng giá trị đúng đắn, khuyến khích những hành động tử tế và xây dựng môi trường sống văn minh. Mỗi người trẻ cần hiểu rằng vật chất chỉ mang lại tiện nghi tạm thời, còn nhân cách và tri thức mới là thứ làm nên giá trị bền vững của con người. Sống chân thành, có lý tưởng và trách nhiệm mới là con đường giúp giới trẻ trưởng thành và hạnh phúc.


Nếu bạn muốn mình viết lại theo phong cách học sinh khá/giỏi hoặc rút gọn/dài thêm, cứ nói nhé!


Attach Search Study Voice ChatGPT can make mistakes. Check important info. ChatGPT says: Dưới đây là **đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn – đúng trọng tâm** cho toàn bộ đề số 3. --- # **BÀI 1 (4 điểm)** ## **Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.** → **Thể thơ lục bát.** --- ## **Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.** Một điển cố được dùng: **“trâm gãy, bình rơi”** – lấy ý từ thơ Đường, chỉ người đẹp chết yểu, tình duyên dang dở. --- ## **Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ:** **“Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.”** - **Biện pháp tu từ:** từ láy gợi hình, gợi cảm (“sè sè”, “dàu dàu”), miêu tả trực tiếp, kết hợp đối lập sắc màu (“nửa vàng nửa xanh”). - **Tác dụng:** gợi lên cảnh nấm mồ nhỏ bé, hoang lạnh, hắt hiu; sắc cỏ úa tàn thể hiện sự cô đơn, phôi pha của người đã khuất. Từ đó mở đầu cho không khí thương cảm bao trùm toàn đoạn. --- ## **Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy trong văn bản.** - Nhiều từ láy: “sè sè”, “dàu dàu”, “lờ mờ”, “đầm đầm”… - **Tác dụng:** tạo nhạc điệu mềm mại của thơ lục bát; gợi tả cảnh buồn thương, cô quạnh; đồng thời diễn tả tinh tế cảm xúc xót xa của Kiều trước số phận Đạm Tiên. --- ## **Câu 5. Tâm trạng Thúy Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên? Điều đó cho thấy nàng là người thế nào?** - Kiều xúc động mạnh: “đầm đầm châu sa”, thương xót phận má hồng bạc mệnh, cảm thông với cảnh đời lẻ loi của Đạm Tiên. - Điều đó cho thấy Kiều là người **đa sầu đa cảm**, giàu lòng nhân ái, biết trân trọng tình đời, dễ đồng cảm trước nỗi đau của người khác → một tâm hồn tinh tế, giàu nhân đạo. --- # **BÀI 2 (6 điểm)** ## **Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn 200 chữ phân tích nhân vật Đạm Tiên.** **Đoạn văn mẫu (≈ 200 chữ):** Trong đoạn trích, Đạm Tiên hiện lên là một nhân vật mang số phận đầy bi thương. Nàng vốn là ca nhi nổi danh tài sắc, được người đời say mê bởi vẻ đẹp và tài năng. Thế nhưng “phận hồng nhan có mong manh”, đang độ xuân thì nàng đã “thoắt gãy cành thiên hương”, ra đi khi thuyền tình của người khách phương xa vừa kịp tìm đến. Cái chết đột ngột của Đạm Tiên vừa gợi xót xa, vừa tố cáo xã hội phong kiến tàn nhẫn đã chôn vùi những kiếp tài hoa. Nấm mồ hoang lạnh, cỏ úa vàng xanh và sự quạnh vắng “vắng tanh” càng làm rõ thân phận cô độc, không người hương khói của nàng. Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du gửi gắm niềm thương cảm sâu sắc đối với những kiếp tài sắc bạc mệnh. Đây cũng là hình ảnh dự báo số phận tương đồng của Thuý Kiều sau này. Đạm Tiên vì thế không chỉ là nhân vật trong câu chuyện, mà còn trở thành biểu tượng cho bi kịch của người phụ nữ tài sắc trong xã hội xưa. --- ## **Câu 2 (4 điểm). Bài văn nghị luận 400 chữ về lối sống thực dụng của giới trẻ hiện nay.** **Bài mẫu (≈ 400 chữ):** Trong đời sống hiện đại, lối sống thực dụng đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong một bộ phận giới trẻ. Thực dụng là lối sống coi trọng lợi ích vật chất, đề cao cái “được” trước mắt mà xem nhẹ giá trị tinh thần, đạo đức. Thực trạng này xuất hiện khá phổ biến: chỉ chăm chú vào tiền bạc, chạy theo hàng hiệu, thích thành công nhanh, đề cao giá trị bản thân qua vật chất hay đánh giá người khác bằng lợi ích họ đem lại. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ sức ép cạnh tranh, ảnh hưởng của mạng xã hội, sự thay đổi giá trị sống, và đôi khi là sự buông lỏng định hướng của gia đình. Hậu quả của lối sống thực dụng rất nghiêm trọng: làm tha hoá nhân cách, gây đổ vỡ các mối quan hệ, khiến người trẻ dễ đánh mất lý tưởng và không tìm được hạnh phúc đích thực. Để hạn chế lối sống thực dụng, giới trẻ cần rèn luyện lối sống lành mạnh, biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần, trau dồi nhân cách, học cách yêu thương và chia sẻ. Gia đình và xã hội cũng cần định hướng giá trị đúng đắn, khuyến khích những hành động tử tế và xây dựng môi trường sống văn minh. Mỗi người trẻ cần hiểu rằng vật chất chỉ mang lại tiện nghi tạm thời, còn nhân cách và tri thức mới là thứ làm nên giá trị bền vững của con người. Sống chân thành, có lý tưởng và trách nhiệm mới là con đường giúp giới trẻ trưởng thành và hạnh phúc. --- Nếu bạn muốn mình viết lại theo phong cách học sinh khá/giỏi hoặc rút gọn/dài thêm, cứ nói nhé!


Skip to content

ChatGPT Log in Sign up for free
You said:

Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (29)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)

Kim Trọng tìm Kiều

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Vội sang vườn Thuý dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Xập xoè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

Cuối tường gai gốc mọc đầy,

Đi về, này những lối này ngày xưa.

Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

Hỏi ông, ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.

Đều là sa sút, khó khăn,

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

Vội han di trú nơi nao,

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.

Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Kiếp này duyên đã phụ duyên,

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.

Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”

Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.

Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.

Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Thấy chàng đau nỗi biệt ly,

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

“Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”

Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.

Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.

Sinh càng trông thấy, càng thương,

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Rằng: “Tôi trót quá chân ra,

Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.

Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

Những điều vàng đá, phải điều nói không!

Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,

Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”

Nỗi thương nói chẳng hết lời,

Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra.

[…]

Rắp mong treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.

Dấn mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, 2022)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản Kim Trọng tìm Kiều.

Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại.

Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau:

Sinh càng trông thấy, càng thương

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Phân tích một số câu thơ tiêu biểu thể hiện rõ tình cảm ấy.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (25)
II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn văn bản sau thuộc phần Đọc hiểu.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về những giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT said:

Dưới đây là đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn, đúng trọng tâm cho tất cả các câu hỏi của đề.


BÀI 1. ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Đoạn trích kể về việc Kim Trọng sau khi trở về liền đến tìm Thuý Kiều, phát hiện nàng đã bán mình cứu cha. Chàng chứng kiến cảnh gia đình Kiều sa sút, nghe rõ sự thật đau lòng và đau đớn, quyết tâm lên đường tìm người yêu.


Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong đoạn trích.

Một số hình ảnh tả thực:

  • “Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”
  • “Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”
  • “Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày”
  • “Nhà tranh, vách đất tả tơi / Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”

Các hình ảnh này miêu tả trực tiếp khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nhà Kiều.


Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh nhà Kiều.

Kim Trọng bàng hoàng, đau xót khi thấy cảnh cũ đã thay đổi, nhà cửa hoang tàn. Chàng thất vọng, ngậm ngùi, tràn đầy thương nhớ và lo lắng cho Kiều. Cảnh vật vắng lặng càng khiến nỗi đau trong lòng chàng thêm quặn thắt.


Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ:

“Sinh càng trông thấy, càng thương / Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.”

  • Biện pháp nghệ thuật: điệp từ “càng… càng”, kết hợp phép đối ý và nghệ thuật tả tâm trạng.
  • Hiệu quả: Làm nổi bật sự tăng tiến trong cảm xúc của Kim Trọng: càng nghe và chứng kiến sự thật, tình thương đối với Kiều càng sâu nặng; đồng thời nỗi đau, sự phẫn uất cũng tăng lên. Cặp từ chỉ nội tạng (“gan”, “ruột”) diễn tả nỗi đau đến tận cùng, rất chân thật và mãnh liệt.

Câu 5. Phân tích tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều qua đoạn trích.

  • Chung thuỷ, sâu nặng: Chàng đau đớn “vật mình vẫy gió, tuôn mưa”, “tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê”.
  • Xót thương vô hạn: Nghe tin Kiều bán mình, Kim Trọng đau như “sét đánh lưng trời”.
  • Quyết tâm tìm Kiều: “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua / Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.”
    → Tình yêu của Kim Trọng vừa tha thiết, vừa bền bỉ, vượt qua mọi ngăn trở.

BÀI 2. VIẾT (6 điểm)

Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đoạn trích.

Đoạn văn mẫu tham khảo (≈ 200 chữ):

Đoạn trích thể hiện sâu sắc bi kịch của Thuý Kiều đồng thời bộc lộ nỗi đau của gia đình nàng trước mối tình đẹp nhưng dở dang của con gái. Nội dung nổi bật là hoàn cảnh éo le của Kiều: gặp cơn gia biến buộc nàng phải bán mình cứu cha, đành lỗi lời thề với Kim Trọng và nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa. Lời kể của cha mẹ Kiều chứa đầy nỗi xót xa, bất lực, thể hiện tình thương vô bờ đối với con. Qua đây, Nguyễn Du lên án xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người vào bi kịch. Về nghệ thuật, đoạn thơ mang đậm giọng điệu bi ai, xót thương; nhiều từ ngữ gợi cảm như “phận mỏng như tờ”, “cực trăm nghìn nỗi”, “dằng dặc muôn đời” diễn tả nỗi đau triền miên. Nghệ thuật kể chuyện xen tả tình giúp cảm xúc thêm sâu lắng. Giọng điệu nhân đạo, thấu cảm của Nguyễn Du bao phủ toàn bộ đoạn thơ. Tác phẩm khắc họa thành công nỗi đau của Kiều và gia đình, đồng thời bộc lộ tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác giả.


Câu 2. Bài văn nghị luận 400 chữ: Giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bài viết mẫu (≈ 400 chữ):

Trong thời đại số, con người được tiếp xúc với nguồn thông tin vô cùng phong phú nhưng đồng thời phải đối mặt với nguy cơ tâm hồn bị khô cứng trước nhịp sống vội vã. Vì vậy, việc nuôi dưỡng một đời sống tinh thần lành mạnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, mỗi người cần biết lựa chọn và sử dụng công nghệ một cách tỉnh táo. Thay vì chìm đắm vào mạng xã hội, chúng ta nên hình thành thói quen sử dụng Internet để học hỏi, mở rộng hiểu biết và kết nối tích cực. Bên cạnh đó, đọc sách luôn là một giải pháp bền vững để nuôi dưỡng tâm hồn. Sách giúp con người chiêm nghiệm, sống chậm lại và phát triển khả năng đồng cảm. Một giải pháp khác là giữ gìn các mối quan hệ gia đình – bạn bè; những cuộc trò chuyện trực tiếp luôn mang lại sự ấm áp mà thế giới ảo không thay thế được. Đồng thời, mỗi cá nhân nên dành thời gian cho thiên nhiên và trải nghiệm thực tế, bởi đó là nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ giúp con người cân bằng. Cuối cùng, nuôi dưỡng đời sống nội tâm qua việc thực hành các thói quen tốt như thiền, viết nhật ký, hoạt động nghệ thuật cũng giúp tâm hồn thêm phong phú. Như vậy, để không bị cuốn trôi trong dòng chảy công nghệ, con người cần chủ động bảo vệ và nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị chân thật, nhân văn. Chính sự hài hoà giữa công nghệ và đời sống tinh thần sẽ giúp chúng ta sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong thời đại số.


Nếu bạn muốn mình viết lại theo dung lượng ngắn – dài hơn, hoặc theo hướng văn phong của học sinh giỏi/khá/trung bình, cứ nói nhé!


Attach Search Study Voice ChatGPT can make mistakes. Check important info.


Skip to content

ChatGPT Log in Sign up for free
You said:

Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (29)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)

Kim Trọng tìm Kiều

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Vội sang vườn Thuý dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Xập xoè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

Cuối tường gai gốc mọc đầy,

Đi về, này những lối này ngày xưa.

Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

Hỏi ông, ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.

Đều là sa sút, khó khăn,

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

Vội han di trú nơi nao,

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.

Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Kiếp này duyên đã phụ duyên,

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.

Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”

Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.

Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.

Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Thấy chàng đau nỗi biệt ly,

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

“Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”

Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.

Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.

Sinh càng trông thấy, càng thương,

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Rằng: “Tôi trót quá chân ra,

Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.

Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

Những điều vàng đá, phải điều nói không!

Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,

Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”

Nỗi thương nói chẳng hết lời,

Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra.

[…]

Rắp mong treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.

Dấn mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, 2022)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản Kim Trọng tìm Kiều.

Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại.

Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau:

Sinh càng trông thấy, càng thương

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Phân tích một số câu thơ tiêu biểu thể hiện rõ tình cảm ấy.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (25)
II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn văn bản sau thuộc phần Đọc hiểu.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về những giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT said:

Dưới đây là đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn, đúng trọng tâm cho tất cả các câu hỏi của đề.


BÀI 1. ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Đoạn trích kể về việc Kim Trọng sau khi trở về liền đến tìm Thuý Kiều, phát hiện nàng đã bán mình cứu cha. Chàng chứng kiến cảnh gia đình Kiều sa sút, nghe rõ sự thật đau lòng và đau đớn, quyết tâm lên đường tìm người yêu.


Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong đoạn trích.

Một số hình ảnh tả thực:

  • “Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”
  • “Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”
  • “Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày”
  • “Nhà tranh, vách đất tả tơi / Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”

Các hình ảnh này miêu tả trực tiếp khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nhà Kiều.


Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh nhà Kiều.

Kim Trọng bàng hoàng, đau xót khi thấy cảnh cũ đã thay đổi, nhà cửa hoang tàn. Chàng thất vọng, ngậm ngùi, tràn đầy thương nhớ và lo lắng cho Kiều. Cảnh vật vắng lặng càng khiến nỗi đau trong lòng chàng thêm quặn thắt.


Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ:

“Sinh càng trông thấy, càng thương / Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.”

  • Biện pháp nghệ thuật: điệp từ “càng… càng”, kết hợp phép đối ý và nghệ thuật tả tâm trạng.
  • Hiệu quả: Làm nổi bật sự tăng tiến trong cảm xúc của Kim Trọng: càng nghe và chứng kiến sự thật, tình thương đối với Kiều càng sâu nặng; đồng thời nỗi đau, sự phẫn uất cũng tăng lên. Cặp từ chỉ nội tạng (“gan”, “ruột”) diễn tả nỗi đau đến tận cùng, rất chân thật và mãnh liệt.

Câu 5. Phân tích tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều qua đoạn trích.

  • Chung thuỷ, sâu nặng: Chàng đau đớn “vật mình vẫy gió, tuôn mưa”, “tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê”.
  • Xót thương vô hạn: Nghe tin Kiều bán mình, Kim Trọng đau như “sét đánh lưng trời”.
  • Quyết tâm tìm Kiều: “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua / Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.”
    → Tình yêu của Kim Trọng vừa tha thiết, vừa bền bỉ, vượt qua mọi ngăn trở.

BÀI 2. VIẾT (6 điểm)

Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đoạn trích.

Đoạn văn mẫu tham khảo (≈ 200 chữ):

Đoạn trích thể hiện sâu sắc bi kịch của Thuý Kiều đồng thời bộc lộ nỗi đau của gia đình nàng trước mối tình đẹp nhưng dở dang của con gái. Nội dung nổi bật là hoàn cảnh éo le của Kiều: gặp cơn gia biến buộc nàng phải bán mình cứu cha, đành lỗi lời thề với Kim Trọng và nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa. Lời kể của cha mẹ Kiều chứa đầy nỗi xót xa, bất lực, thể hiện tình thương vô bờ đối với con. Qua đây, Nguyễn Du lên án xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người vào bi kịch. Về nghệ thuật, đoạn thơ mang đậm giọng điệu bi ai, xót thương; nhiều từ ngữ gợi cảm như “phận mỏng như tờ”, “cực trăm nghìn nỗi”, “dằng dặc muôn đời” diễn tả nỗi đau triền miên. Nghệ thuật kể chuyện xen tả tình giúp cảm xúc thêm sâu lắng. Giọng điệu nhân đạo, thấu cảm của Nguyễn Du bao phủ toàn bộ đoạn thơ. Tác phẩm khắc họa thành công nỗi đau của Kiều và gia đình, đồng thời bộc lộ tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác giả.


Câu 2. Bài văn nghị luận 400 chữ: Giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bài viết mẫu (≈ 400 chữ):

Trong thời đại số, con người được tiếp xúc với nguồn thông tin vô cùng phong phú nhưng đồng thời phải đối mặt với nguy cơ tâm hồn bị khô cứng trước nhịp sống vội vã. Vì vậy, việc nuôi dưỡng một đời sống tinh thần lành mạnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, mỗi người cần biết lựa chọn và sử dụng công nghệ một cách tỉnh táo. Thay vì chìm đắm vào mạng xã hội, chúng ta nên hình thành thói quen sử dụng Internet để học hỏi, mở rộng hiểu biết và kết nối tích cực. Bên cạnh đó, đọc sách luôn là một giải pháp bền vững để nuôi dưỡng tâm hồn. Sách giúp con người chiêm nghiệm, sống chậm lại và phát triển khả năng đồng cảm. Một giải pháp khác là giữ gìn các mối quan hệ gia đình – bạn bè; những cuộc trò chuyện trực tiếp luôn mang lại sự ấm áp mà thế giới ảo không thay thế được. Đồng thời, mỗi cá nhân nên dành thời gian cho thiên nhiên và trải nghiệm thực tế, bởi đó là nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ giúp con người cân bằng. Cuối cùng, nuôi dưỡng đời sống nội tâm qua việc thực hành các thói quen tốt như thiền, viết nhật ký, hoạt động nghệ thuật cũng giúp tâm hồn thêm phong phú. Như vậy, để không bị cuốn trôi trong dòng chảy công nghệ, con người cần chủ động bảo vệ và nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị chân thật, nhân văn. Chính sự hài hoà giữa công nghệ và đời sống tinh thần sẽ giúp chúng ta sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong thời đại số.


Nếu bạn muốn mình viết lại theo dung lượng ngắn – dài hơn, hoặc theo hướng văn phong của học sinh giỏi/khá/trung bình, cứ nói nhé!


Attach Search Study Voice ChatGPT can make mistakes. Check important info.


Skip to content

ChatGPT Log in Sign up for free
You said:

Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 2 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (29)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

Đọc đoạn trích sau:

Trích đoạn nằm ở phần 3 của tác phẩm, từ câu 2738 – 2940 (có lược một đoạn)

Kim Trọng tìm Kiều

Nỗi nàng tai nạn đã đầy,

Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.

Từ ngày muôn dặm phù tang,

Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Vội sang vườn Thuý dò la,

Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.

Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa,

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.

Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Xập xoè én liệng lầu không,

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.

Cuối tường gai gốc mọc đầy,

Đi về, này những lối này ngày xưa.

Chung quanh lặng ngắt như tờ,

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

Láng giềng có kẻ sang chơi,

Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.

Hỏi ông, ông mắc tụng đình,

Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.

Hỏi nhà, nhà đã dời xa,

Hỏi chàng Vương với cùng là Thuý Vân.

Đều là sa sút, khó khăn,

Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.

Điều đâu sét đánh lưng trời,

Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!

Vội han di trú nơi nao,

Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.

Nhà tranh, vách đất tả tơi,

Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.

Một sân đất cỏ dầm mưa,

Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!

Đánh liều lên tiếng ngoài tường,

Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.

Dắt tay vội rước vào nhà,

Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Kiếp này duyên đã phụ duyên,

Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.

Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.

Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?”

Ông bà càng nói càng đau,

Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa.

Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.

Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Thấy chàng đau nỗi biệt ly,

Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:

“Bây giờ ván đã đóng thuyền,

Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung!

Quá thương chút nghĩa đèo bòng,

Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?”

Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,

Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.

Thề xưa giở đến kim hoàn,

Của xưa lại giở đến đàn với hương.

Sinh càng trông thấy, càng thương,

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Rằng: “Tôi trót quá chân ra,

Để cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.

Cùng nhau thề thốt đã nhiều,

Những điều vàng đá, phải điều nói không!

Chưa chăn gối, cũng vợ chồng,

Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,

Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”

Nỗi thương nói chẳng hết lời,

Tạ từ, sinh mới sụt sùi trở ra.

[…]

Rắp mong treo ấn từ quan,

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.

Dấn mình trong áng can qua,

Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, 2022)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản Kim Trọng tìm Kiều.

Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại.

Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau:

Sinh càng trông thấy, càng thương

Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.

Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Phân tích một số câu thơ tiêu biểu thể hiện rõ tình cảm ấy.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (25)
II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn văn bản sau thuộc phần Đọc hiểu.

Khóc than kể hết niềm tây:

“Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?

Kiều nhi phận mỏng như tờ,

Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

Gặp cơn gia biến lạ dường,

Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.

Dùng dằng khi bước chân ra,

Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.

Trót lời nặng với lang quân,

Mượn con em nó Thuý Vân thay lời.

Gọi là trả chút nghĩa người,

Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!

Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về những giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT said:

Dưới đây là đáp án gợi ý đầy đủ – ngắn gọn, đúng trọng tâm cho tất cả các câu hỏi của đề.


BÀI 1. ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì?

Đoạn trích kể về việc Kim Trọng sau khi trở về liền đến tìm Thuý Kiều, phát hiện nàng đã bán mình cứu cha. Chàng chứng kiến cảnh gia đình Kiều sa sút, nghe rõ sự thật đau lòng và đau đớn, quyết tâm lên đường tìm người yêu.


Câu 2. Xác định một số hình ảnh thơ tả thực trong đoạn trích.

Một số hình ảnh tả thực:

  • “Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”
  • “Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”
  • “Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày”
  • “Nhà tranh, vách đất tả tơi / Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”

Các hình ảnh này miêu tả trực tiếp khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nhà Kiều.


Câu 3. Phân tích cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh nhà Kiều.

Kim Trọng bàng hoàng, đau xót khi thấy cảnh cũ đã thay đổi, nhà cửa hoang tàn. Chàng thất vọng, ngậm ngùi, tràn đầy thương nhớ và lo lắng cho Kiều. Cảnh vật vắng lặng càng khiến nỗi đau trong lòng chàng thêm quặn thắt.


Câu 4. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ:

“Sinh càng trông thấy, càng thương / Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.”

  • Biện pháp nghệ thuật: điệp từ “càng… càng”, kết hợp phép đối ý và nghệ thuật tả tâm trạng.
  • Hiệu quả: Làm nổi bật sự tăng tiến trong cảm xúc của Kim Trọng: càng nghe và chứng kiến sự thật, tình thương đối với Kiều càng sâu nặng; đồng thời nỗi đau, sự phẫn uất cũng tăng lên. Cặp từ chỉ nội tạng (“gan”, “ruột”) diễn tả nỗi đau đến tận cùng, rất chân thật và mãnh liệt.

Câu 5. Phân tích tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều qua đoạn trích.

  • Chung thuỷ, sâu nặng: Chàng đau đớn “vật mình vẫy gió, tuôn mưa”, “tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê”.
  • Xót thương vô hạn: Nghe tin Kiều bán mình, Kim Trọng đau như “sét đánh lưng trời”.
  • Quyết tâm tìm Kiều: “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua / Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.”
    → Tình yêu của Kim Trọng vừa tha thiết, vừa bền bỉ, vượt qua mọi ngăn trở.

BÀI 2. VIẾT (6 điểm)

Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đoạn trích.

Đoạn văn mẫu tham khảo (≈ 200 chữ):

Đoạn trích thể hiện sâu sắc bi kịch của Thuý Kiều đồng thời bộc lộ nỗi đau của gia đình nàng trước mối tình đẹp nhưng dở dang của con gái. Nội dung nổi bật là hoàn cảnh éo le của Kiều: gặp cơn gia biến buộc nàng phải bán mình cứu cha, đành lỗi lời thề với Kim Trọng và nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa. Lời kể của cha mẹ Kiều chứa đầy nỗi xót xa, bất lực, thể hiện tình thương vô bờ đối với con. Qua đây, Nguyễn Du lên án xã hội phong kiến bất công đã đẩy con người vào bi kịch. Về nghệ thuật, đoạn thơ mang đậm giọng điệu bi ai, xót thương; nhiều từ ngữ gợi cảm như “phận mỏng như tờ”, “cực trăm nghìn nỗi”, “dằng dặc muôn đời” diễn tả nỗi đau triền miên. Nghệ thuật kể chuyện xen tả tình giúp cảm xúc thêm sâu lắng. Giọng điệu nhân đạo, thấu cảm của Nguyễn Du bao phủ toàn bộ đoạn thơ. Tác phẩm khắc họa thành công nỗi đau của Kiều và gia đình, đồng thời bộc lộ tư tưởng nhân đạo cao đẹp của tác giả.


Câu 2. Bài văn nghị luận 400 chữ: Giải pháp nuôi dưỡng tâm hồn con người trong thời đại số.

Bài viết mẫu (≈ 400 chữ):

Trong thời đại số, con người được tiếp xúc với nguồn thông tin vô cùng phong phú nhưng đồng thời phải đối mặt với nguy cơ tâm hồn bị khô cứng trước nhịp sống vội vã. Vì vậy, việc nuôi dưỡng một đời sống tinh thần lành mạnh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước hết, mỗi người cần biết lựa chọn và sử dụng công nghệ một cách tỉnh táo. Thay vì chìm đắm vào mạng xã hội, chúng ta nên hình thành thói quen sử dụng Internet để học hỏi, mở rộng hiểu biết và kết nối tích cực. Bên cạnh đó, đọc sách luôn là một giải pháp bền vững để nuôi dưỡng tâm hồn. Sách giúp con người chiêm nghiệm, sống chậm lại và phát triển khả năng đồng cảm. Một giải pháp khác là giữ gìn các mối quan hệ gia đình – bạn bè; những cuộc trò chuyện trực tiếp luôn mang lại sự ấm áp mà thế giới ảo không thay thế được. Đồng thời, mỗi cá nhân nên dành thời gian cho thiên nhiên và trải nghiệm thực tế, bởi đó là nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ giúp con người cân bằng. Cuối cùng, nuôi dưỡng đời sống nội tâm qua việc thực hành các thói quen tốt như thiền, viết nhật ký, hoạt động nghệ thuật cũng giúp tâm hồn thêm phong phú. Như vậy, để không bị cuốn trôi trong dòng chảy công nghệ, con người cần chủ động bảo vệ và nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị chân thật, nhân văn. Chính sự hài hoà giữa công nghệ và đời sống tinh thần sẽ giúp chúng ta sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn trong thời đại số.


Nếu bạn muốn mình viết lại theo dung lượng ngắn – dài hơn, hoặc theo hướng văn phong của học sinh giỏi/khá/trung bình, cứ nói nhé!


Attach Search Study Voice ChatGPT can make mistakes. Check important info.


Nếu \(x < 1\) thì \(x^{8} - x^{7} + x^{2} - x + 1\)

\(= x^{8} + x^{2} \left(\right. 1 - x^{5} \left.\right) + \left(\right. 1 - x \left.\right) > 0\).

Nếu \(x \geq 1\) thì \(x^{8} - x^{7} + x^{2} - x + 1\)

\(= x^{7} \left(\right. x - 1 \left.\right) + x \left(\right. x - 1 \left.\right) + 1 > 0\).