Bùi Hoa Hậu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Hoa Hậu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (2,0 điểm) (Đoạn văn khoảng 200 chữ) Bài thơ “Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng để lại ấn tượng sâu sắc bởi những nét nghệ thuật đặc sắc. Trước hết, bài thơ giàu chất trữ tình với giọng điệu tha thiết, da diết, thể hiện nỗi nhớ quê hương và người con gái xứ Đoài trong hoàn cảnh chiến tranh. Hình ảnh thơ mang đậm màu sắc địa phương như Ba Vì, xứ Đoài, Sông Đáy… vừa gợi không gian cụ thể, vừa tạo chiều sâu hoài niệm. Đặc biệt, hình tượng “đôi mắt” được xây dựng như một biểu tượng nghệ thuật, chứa đựng nỗi buồn, sự u uẩn của con người trong thời loạn. Tác giả còn sử dụng thành công câu hỏi tu từ, điệp ngữ “Em có bao giờ…” làm tăng nhịp điệu day dứt, khắc khoải. Ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu cảm xúc, kết hợp giữa chất lãng mạn và hiện thực đau thương, tạo nên sức lay động mạnh mẽ trong lòng người đọc. Câu 2 (4,0 điểm) (Bài văn khoảng 500 chữ) Trong cuộc sống, lòng đố kị là một thói quen xấu có thể làm con người đánh mất giá trị của chính mình. Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến: “Càng lún sâu vào đố kị, người ta sẽ đánh mất đi lòng tôn nghiêm và giá trị của bản thân.” Đố kị là trạng thái ganh ghét, khó chịu khi thấy người khác thành công hoặc hơn mình ở một phương diện nào đó. Thay vì nỗ lực để hoàn thiện bản thân, người có lòng đố kị thường so sánh, hạ thấp người khác để tự an ủi mình. Khi đố kị chi phối, con người dễ có những hành động và suy nghĩ tiêu cực như nói xấu, công kích, hoặc tìm cách cản trở người khác. Chính những hành vi ấy làm mất đi lòng tự trọng và phẩm giá cá nhân. Tác hại của lòng đố kị trước hết là khiến tâm hồn con người luôn bất an, mệt mỏi. Người sống trong đố kị hiếm khi cảm thấy hạnh phúc vì họ luôn nhìn cuộc sống bằng ánh mắt so bì. Đố kị còn phá vỡ các mối quan hệ, gây mất đoàn kết trong tập thể. Trong học tập, nếu chỉ ganh ghét bạn bè giỏi hơn mà không cố gắng vươn lên, bản thân sẽ ngày càng tụt lùi. Lâu dần, đố kị làm thui chột những phẩm chất tốt đẹp như sự chân thành, bao dung và tinh thần cầu tiến. Để loại bỏ lòng đố kị, trước hết mỗi người cần học cách nhìn nhận đúng giá trị của bản thân. Ai cũng có điểm mạnh và điểm yếu riêng, vì vậy không nên so sánh mình một cách tiêu cực với người khác. Thay vì ganh ghét, hãy biến sự ngưỡng mộ thành động lực để phấn đấu. Bên cạnh đó, rèn luyện lòng biết ơn và thái độ tích cực cũng giúp tâm hồn trở nên rộng mở hơn. Khi biết trân trọng thành công của người khác, ta sẽ xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp và môi trường sống lành mạnh. Tóm lại, lòng đố kị giống như một ngọn lửa âm ỉ thiêu đốt nhân cách con người. Chỉ khi biết kiểm soát và loại bỏ nó, chúng ta mới giữ được lòng tự trọng và giá trị đích thực của bản thân. Sống chân thành, bao dung và nỗ lực vươn lên mới là con đường đúng đắn để mỗi người hoàn thiện mình và đạt được thành công bền vững.

Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “tôi” – một người lính xa quê trong thời chinh chiến, mang nặng nỗi nhớ quê hương Sơn Tây và nhớ người con gái xứ Đoài. Câu 2 (0,5 điểm) Những từ ngữ/dòng thơ miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5: “Đôi mắt người Sơn Tây” “U uẩn chiều lưu lạc” “Buồn viễn xứ khôn khuây” Câu 3 (1,0 điểm) Bài thơ thể hiện tình cảm tha thiết, sâu nặng của tác giả đối với quê hương xứ Đoài và người con gái Sơn Tây. Đó là nỗi nhớ da diết, day dứt trong cảnh chiến tranh loạn lạc; là niềm đau xót trước cảnh quê hương điêu tàn, mất mát; đồng thời cũng gửi gắm niềm hy vọng về ngày thanh bình, đoàn tụ. Cảm xúc xuyên suốt bài thơ là nỗi buồn thương nhưng vẫn ánh lên niềm tin vào tương lai. Câu 4 (1,0 điểm) Câu hỏi tu từ: “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ em nhớ thương?” Việc sử dụng câu hỏi tu từ có tác dụng: Bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ quê hương sâu đậm của nhân vật trữ tình. Thể hiện tâm trạng khắc khoải, mong ngóng tình cảm đáp lại từ người con gái. Tăng tính biểu cảm, tạo âm hưởng da diết, làm nổi bật nỗi cô đơn và niềm mong chờ trong chiến tranh. Câu hỏi không nhằm tìm câu trả lời mà để nhấn mạnh nỗi nhớ và khát vọng được thấu hiểu. Câu 5 (1,0 điểm) Bài thơ gợi cho em thông điệp sâu sắc về giá trị của quê hương và hòa bình. Khi phải xa quê trong chiến tranh, con người mới thấm thía nỗi nhớ và tình yêu tha thiết dành cho nơi mình sinh ra. Quê hương không chỉ là một địa danh mà còn là ký ức, là người thân, là tuổi thơ và những điều bình dị thân thương. Bài thơ cũng nhắc nhở chúng ta phải trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay, biết yêu thương và giữ gìn những giá trị tốt đẹp của quê hương đất nước.


Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật chị cỏ bò

Nhân vật chị cỏ bò trong truyện “Cổ tích” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho những con người nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân ái. Chị sống trong túp lều tạm bợ, làm nghề cắt cỏ thuê vất vả, cuộc đời bấp bênh theo từng bữa cơm. Thế nhưng, giữa trưa hè nắng gắt, chị sẵn sàng bẻ đôi nắm cơm ít ỏi của mình để mời bà cụ xa lạ. Hành động nhỏ ấy đã mở ra một mối quan hệ thiêng liêng: từ hai người cô đơn trở thành mẹ con. Khi bà lão ốm yếu, chị tận tình chăm sóc, ôm ấp sưởi ấm trong đêm đông rét buốt. Lúc bà mất, chị đau đớn, thổn thức như mất đi ruột thịt của mình. Chị cỏ bò không giàu tiền bạc nhưng giàu tình thương. Ở chị tỏa sáng vẻ đẹp của lòng nhân hậu, của sự hy sinh thầm lặng. Nhân vật đã góp phần làm nên ý nghĩa “cổ tích” giữa đời thường: nơi nào có tình người, nơi đó có ánh sáng của hạnh phúc.


Câu 2 (4,0 điểm): Nghị luận khoảng 500 chữ về việc giới trẻ cần rèn luyện lối sống tự lập

Trong xã hội hiện đại, lối sống tự lập là một phẩm chất vô cùng cần thiết đối với giới trẻ. Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình mà không phụ thuộc, ỷ lại vào người khác. Đây không chỉ là biểu hiện của sự trưởng thành mà còn là nền tảng để mỗi người vững vàng trước những thử thách của cuộc đời.

Trước hết, sống tự lập giúp người trẻ rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Khi tự mình đối diện với khó khăn, chúng ta học được cách giải quyết vấn đề, biết đứng dậy sau vấp ngã và trưởng thành hơn sau mỗi lần thất bại. Nếu luôn dựa dẫm vào gia đình, thầy cô hay bạn bè, ta sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu tự tin và khó thích nghi với môi trường mới.

Bên cạnh đó, tự lập còn giúp mỗi người khám phá và phát huy khả năng của bản thân. Khi tự đặt mục tiêu học tập, tự sắp xếp thời gian, tự lựa chọn con đường tương lai, người trẻ sẽ hiểu rõ mình muốn gì và cần làm gì để đạt được điều đó. Chính sự chủ động ấy tạo nên động lực phát triển bền vững.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận giới trẻ hiện nay còn có biểu hiện ỷ lại vào cha mẹ, ngại khó, ngại khổ. Điều này có thể khiến họ thiếu kỹ năng sống và dễ thất bại khi bước vào đời. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần rèn luyện tính tự lập từ những việc nhỏ như tự chăm sóc bản thân, tự học, tự quản lí thời gian và chi tiêu hợp lí. Gia đình và nhà trường cũng nên tạo điều kiện để các em được trải nghiệm, được thử sức thay vì bao bọc quá mức.

Tóm lại, tự lập là chìa khóa mở ra cánh cửa trưởng thành. Khi biết sống tự lập, người trẻ sẽ tự tin hơn, mạnh mẽ hơn và sẵn sàng xây dựng tương lai của chính mình.


Bạn đã nói:
Đọc văn bản sau:

CỔ TÍCH

Bà cụ kẹo ốm một trận. Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố. Xưa kia mẹ góa con côi. Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng... mà nuôi đủ ba mẹ con.

Giữa trưa hè nắng đổ lửa. Vai đeo bị cói. Bà cụ ràng rạc chạy nắng. Đến gốc đa vệ đê, bà bất chợt gặp một chị cứng tuổi ngồi nghỉ với gánh cỏ đầy. Chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn. Hai con người cô đơn tìm thấy nhau trong cảnh ngộ chung. Chị rước bà theo.

Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con. Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò. Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. Chị quý bà như mẹ, bà thương chị như con.

Ông trời chơi khăm kẻ khó. Cái nghề cỏ rả bọt bèo ai thèm đếm xỉa mà cũng yểu. Mấy anh chủ nhỏ đua đòi, hùn vốn tậu cái công nông. Ngồi lái cơ giới bành bạch, phì phèo điếu thuốc oách hơn xe bò kéo. Mất nghề, chị cỏ bò đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố.

Mùa đông rét mướt đang về. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. Biết mình chẳng qua khỏi đêm nay, bà lão lào phào vào tai cô gái muộn mằn:

– Nhỡ mẹ có đi, con nhớ thay sống áo cho mẹ nhé!

Đoạn, mếu máo:

– Con ơi, mẹ thương con lắm! Cầu trời con sống sung sướng...

Chị cỏ bò thổn thức. Chị chỉ biết cuống quýt hai bàn tay xoa xoa, nắn nắn tấm thân già nguội giá.

Sớm mai, bà cụ đã mất. Chị con nuôi nấu lên nồi lá thơm, lau thi thể mẹ, tìm trong bị một bộ quần áo lành lặn. Ở cái chéo áo lụa màu gụ, có một nút gút hình củ ấu. Chị gỡ nút buộc. Tuột ra, lăn lóc, năm sáu khâu nhẫn, vàng chóe.

Chị cỏ bò sụp xuống, tức tưởi: "...Mẹ ơi...!"

(Lê Văn Nguyên, Trích “108 truyện hay cực ngắn”, nhiều tác giả, NXB Phụ nữ, 2003, tr107-109)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của truyện.

Câu 2 (0,5 điểm). Tìm trong truyện những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau.

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu chủ đề của truyện.

Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn sau.

Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu.

Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của truyện, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật chị cỏ bò trong truyện “Cổ tích” ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (4,0 điểm). Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bày tỏ ý kiến của em về việc giới trẻ ngày nay cần phải rèn luyện lối sống tự lập.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này

ChatGPT đã nói:

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1 (0,5 điểm):
Truyện được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật là “bà cụ”, “chị cỏ bò”, “chị”, “bà”,…


Câu 2 (0,5 điểm):
Những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của hai mẹ con sau khi đùm bọc nhau:

  • “Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện.”
  • “Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười.”
  • “Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui.”
  • “Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau… dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ.”

→ Cuộc sống nghèo khó, thiếu thốn nhưng ấm áp tình người.


Câu 3 (1,0 điểm):
Chủ đề của truyện: Ca ngợi tình người ấm áp, sự đùm bọc yêu thương giữa những con người nghèo khổ; khẳng định trong hoàn cảnh khắc nghiệt, tình thương vẫn là điều quý giá nhất, mang ý nghĩa như một “cổ tích” giữa đời thường.


Câu 4 (1,0 điểm):
Đoạn văn sử dụng nhiều từ ngữ giàu sức gợi: “rét mướt ác”, “ào ào”, “đồm độp”, “gõ buốt”… kết hợp với điệp cấu trúc “từng cơn, từng cơn”. Những từ láy và động từ mạnh đã khắc họa cái rét dữ dội, khắc nghiệt của mùa đông, làm nổi bật sự khốn khó, mong manh của những phận người nghèo. Qua đó, hoàn cảnh éo le càng được nhấn mạnh, làm tăng giá trị cảm động cho tình thương giữa hai mẹ con.


Câu 5 (1,0 điểm):

Tình người là điều quý giá nhất trong cuộc sống. Trong truyện “Cổ tích”, giữa cảnh nghèo đói và rét mướt, bà cụ và chị cỏ bò đã tìm thấy hơi ấm từ sự sẻ chia. Chính tình thương đã giúp họ vượt qua cô đơn, khiến túp lều rách nát trở nên ấm áp. Trong cuộc sống hôm nay, con người vẫn rất cần sự cảm thông, giúp đỡ lẫn nhau. Một lời hỏi han, một hành động nhỏ cũng có thể sưởi ấm trái tim người khác. Khi biết sống yêu thương, chúng ta không chỉ làm cho người khác hạnh phúc mà chính mình cũng trở nên giàu có hơn về tâm hồn.


II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật chị cỏ bò

Nhân vật chị cỏ bò trong truyện “Cổ tích” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho những con người nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân ái. Chị sống trong túp lều tạm bợ, làm nghề cắt cỏ thuê vất vả, cuộc đời bấp bênh theo từng bữa cơm. Thế nhưng, giữa trưa hè nắng gắt, chị sẵn sàng bẻ đôi nắm cơm ít ỏi của mình để mời bà cụ xa lạ. Hành động nhỏ ấy đã mở ra một mối quan hệ thiêng liêng: từ hai người cô đơn trở thành mẹ con. Khi bà lão ốm yếu, chị tận tình chăm sóc, ôm ấp sưởi ấm trong đêm đông rét buốt. Lúc bà mất, chị đau đớn, thổn thức như mất đi ruột thịt của mình. Chị cỏ bò không giàu tiền bạc nhưng giàu tình thương. Ở chị tỏa sáng vẻ đẹp của lòng nhân hậu, của sự hy sinh thầm lặng. Nhân vật đã góp phần làm nên ý nghĩa “cổ tích” giữa đời thường: nơi nào có tình người, nơi đó có ánh sáng của hạnh phúc.


Câu 2 (4,0 điểm): Nghị luận khoảng 500 chữ về việc giới trẻ cần rèn luyện lối sống tự lập

Trong xã hội hiện đại, lối sống tự lập là một phẩm chất vô cùng cần thiết đối với giới trẻ. Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình mà không phụ thuộc, ỷ lại vào người khác. Đây không chỉ là biểu hiện của sự trưởng thành mà còn là nền tảng để mỗi người vững vàng trước những thử thách của cuộc đời.

Trước hết, sống tự lập giúp người trẻ rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Khi tự mình đối diện với khó khăn, chúng ta học được cách giải quyết vấn đề, biết đứng dậy sau vấp ngã và trưởng thành hơn sau mỗi lần thất bại. Nếu luôn dựa dẫm vào gia đình, thầy cô hay bạn bè, ta sẽ dễ trở nên yếu đuối, thiếu tự tin và khó thích nghi với môi trường mới.

Bên cạnh đó, tự lập còn giúp mỗi người khám phá và phát huy khả năng của bản thân. Khi tự đặt mục tiêu học tập, tự sắp xếp thời gian, tự lựa chọn con đường tương lai, người trẻ sẽ hiểu rõ mình muốn gì và cần làm gì để đạt được điều đó. Chính sự chủ động ấy tạo nên động lực phát triển bền vững.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận giới trẻ hiện nay còn có biểu hiện ỷ lại vào cha mẹ, ngại khó, ngại khổ. Điều này có thể khiến họ thiếu kỹ năng sống và dễ thất bại khi bước vào đời. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần rèn luyện tính tự lập từ những việc nhỏ như tự chăm sóc bản thân, tự học, tự quản lí thời gian và chi tiêu hợp lí. Gia đình và nhà trường cũng nên tạo điều kiện để các em được trải nghiệm, được thử sức thay vì bao bọc quá mức.

Tóm lại, tự lập là chìa khóa mở ra cánh cửa trưởng thành. Khi biết sống tự lập, người trẻ sẽ tự tin hơn, mạnh mẽ hơn và sẵn sàng xây dựng tương lai của chính mình.

Câu 1 (2,0 điểm)


Đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con Làng Nủ” của Đỗ Xuân Thu gây xúc động mạnh bởi nhiều đặc sắc nghệ thuật nổi bật. Trước hết, tác giả lựa chọn ngôi kể thứ nhất qua lời xưng “con”, tạo nên giọng điệu hồn nhiên mà đau đớn, giúp cảm xúc trở nên chân thực và ám ảnh. Hệ thống câu hỏi dồn dập: “Làng Nủ mình đâu rồi bố ơi?”, “Mẹ và các em con cũng đâu rồi?” vừa thể hiện sự hoang mang, vừa khắc sâu nỗi mất mát. Biện pháp lặp từ “con”, “bố”, “về” làm tăng nhịp điệu nghẹn ngào, da diết. Hình ảnh tương phản giữa “ngày đầu tiên đi học” đầy háo hức với thực tại “chỉ thấy bùn” đã tạo nên cú sốc cảm xúc, làm nổi bật sự tàn khốc của thiên tai. Ngôn ngữ giản dị, giàu tính gợi tả như “lấm lem bùn lũ”, “mũi mồm toàn bùn đất” khiến người đọc như chứng kiến tận mắt cảnh tượng thương tâm. Tất cả góp phần tạo nên sức lay động sâu sắc cho đoạn thơ.


Câu 2


Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn. Câu nói của Steve Jobs: “Cuộc sống là một hành trình tìm kiếm sự cân bằng giữa những điều bạn yêu thích và những điều bạn cần làm” đã gợi cho người trẻ nhiều suy ngẫm. Đối với học sinh, việc cân bằng giữa mong muốn cá nhân và kì vọng của gia đình là điều vô cùng quan trọng.

Trước hết, mỗi người trẻ đều có ước mơ và sở thích riêng. Có bạn yêu nghệ thuật, có bạn đam mê công nghệ, có bạn muốn theo đuổi thể thao. Những điều ta yêu thích giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa, tạo động lực để phát triển bản thân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta còn có trách nhiệm học tập, rèn luyện và đáp ứng phần nào sự mong mỏi của gia đình. Cha mẹ luôn kì vọng con cái thành công, có tương lai ổn định. Nếu chỉ sống theo sở thích mà bỏ qua trách nhiệm, ta có thể đánh mất cơ hội và niềm tin của những người yêu thương mình.

Vậy làm sao để cân bằng? Trước hết, học sinh cần hiểu rõ bản thân: mình thực sự đam mê điều gì, năng lực đến đâu, mục tiêu dài hạn là gì. Khi có định hướng rõ ràng, ta sẽ tự tin trao đổi với gia đình. Thứ hai, hãy học cách lắng nghe và chia sẻ. Thay vì phản ứng tiêu cực trước kì vọng của cha mẹ, hãy bình tĩnh giải thích mong muốn của mình bằng sự nghiêm túc và kế hoạch cụ thể. Khi cha mẹ thấy con có trách nhiệm, họ sẽ dễ thấu hiểu hơn. Thứ ba, biết sắp xếp thời gian hợp lí: hoàn thành tốt việc học, đồng thời dành thời gian phát triển đam mê. Sự cố gắng bền bỉ chính là cầu nối giữa ước mơ cá nhân và sự tin tưởng của gia đình.

Cân bằng không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn một phía, mà là dung hòa để cùng phát triển. Khi người trẻ biết sống có trách nhiệm, biết nỗ lực vì mục tiêu và biết trân trọng gia đình, họ sẽ tìm được điểm giao thoa giữa điều mình yêu thích và điều mình cần làm. Đó cũng chính là chìa khóa để trưởng thành vững vàng trên hành trình phía trước.

Nếu bạn muốn mình chỉnh bài theo phong cách “văn học sinh giỏi” hoặc “văn chắc điểm 8–9”, mình chỉnh tiếp cho bạn nhé.

Câu 1 (0,5 điểm)

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “con” – một đứa trẻ trong vùng lũ đang bị vùi lấp dưới bùn đất.


Câu 2 (0,5 điểm)

Những từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu:

“lấm lem bùn lũ”

“mù mịt”

“không thể nào con cựa được chân tay”

“không thở được”

“mũi mồm toàn bùn đất”

→ Gợi hoàn cảnh ngột ngạt, nguy hiểm, đau thương.


Câu 3 (1,0 điểm)

Đoạn thơ sử dụng câu hỏi tu từ ở câu: “Sao giờ đây con chỉ thấy bùn?”

Tác dụng:

Tạo sự đối lập giữa niềm vui ngày khai giảng với hiện thực đau thương.

Thể hiện sự bàng hoàng, hoảng sợ và đau đớn của đứa trẻ.

Làm nổi bật sự mất mát đột ngột do thiên tai gây ra.

Gợi xúc động mạnh mẽ nơi người đọc.

Câu 4 (1,0 điểm)

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là niềm xót thương sâu sắc trước mất mát đau đớn của người dân vùng lũ, đặc biệt là trẻ em; đồng thời thể hiện khát vọng được sống, được trở về mái nhà yêu thương.

Câu 5 (1,0 điểm)

Từ góc nhìn người trẻ, em có thể:

Quyên góp sách vở, quần áo, tiền ủng hộ.

Tham gia các hoạt động thiện nguyện do trường, địa phương phát động.

Chia sẻ thông tin tích cực, lan tỏa tinh thần giúp đỡ trên mạng xã hội.

Biết tiết kiệm, trân trọng cuộc sống và đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn.


Câu 1

Ba khổ thơ cuối của bài Chim thêu của Nguyễn Bính tập trung khắc họa chiều sâu tình phụ tử và niềm tin vào ngày mai hòa bình. Hình ảnh người cha “ôm tấm áo xanh giữa ngực” cho thấy sự nâng niu, trân trọng như đang ôm chính đứa con của mình. Chiếc áo không còn là vật vô tri mà trở thành biểu tượng của tình thương và nỗi nhớ. Hình ảnh “chim thêu” gắn với ước mơ về hòa bình, sum họp. Dù “áo không gửi được hôm nay”, người cha vẫn giữ lại với niềm tin “mai ngày cho con”. Từ nỗi buồn chia cách, cảm xúc chuyển dần sang hi vọng: “Ngày mai ấy, nước non một khối”. Ước mơ đoàn tụ hòa cùng ước mơ đất nước thống nhất. Kết thúc bài thơ là hình ảnh đàn trẻ “tha hồ vui chơi” trong chiếc áo thêu chim trắng – biểu tượng của tự do và hạnh phúc. Qua đó, nhà thơ không chỉ ca ngợi tình cha con sâu nặng mà còn gửi gắm niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của dân tộc.


Câu 2

Tình yêu thương của cha mẹ là điều thiêng liêng và bền vững nhất trong cuộc đời mỗi con người. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: tình yêu ấy có thể là động lực nhưng cũng có thể trở thành áp lực cho con cái. Từ góc độ của một người con, em cho rằng nhận định này hoàn toàn có cơ sở.

Trước hết, tình yêu thương đúng cách là động lực mạnh mẽ. Khi cha mẹ tin tưởng, độ

Câu 1

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cha (ba).


Câu 3

Đề tài: Tình cảm gia đình trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.


Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương da diết của người cha dành cho con trong cảnh chia ly, đồng thời gửi gắm niềm tin, hi vọng vào ngày mai đất nước hòa bình, gia đình đoàn tụ.


Câu 4

Hai câu thơ sử dụng biện pháp ẩn dụ và hoán dụ.

“Cặp mắt đen tròn” gợi hình ảnh đứa con thơ ngây, trong sáng.

“Tiếng chim non gọi đàn” là ẩn dụ cho tiếng gọi của con trẻ, cho khát khao sum họp gia đình.

Tác dụng: Làm nổi bật nỗi nhớ thương sâu sắc, da diết của người cha; thể hiện sự tưởng tượng đầy xúc động khi ông như nghe thấy nhịp tim, tiếng gọi của con. Qua đó, tình phụ tử hiện lên tha thiết, thiêng liêng.


Câu 5

Văn bản gợi cho em ấn tượng về một người cha giàu yêu thương, luôn nghĩ về con dù xa cách. Tình cảm ấy sâu nặng, âm thầm mà bền bỉ. Ông nâng niu chiếc áo, tưởng tượng đến ngày trao tận tay con trong hòa bình. Đó là tình yêu vừa riêng tư (tình cha con), vừa gắn với khát vọng lớn lao về sự thống nhất đất nước.



Câu 1

Nhân vật “tôi” trong truyện là một cậu bé từng mắc sai lầm nhưng biết hối hận và trưởng thành từ lỗi lầm ấy. Ban đầu, “tôi” là một đứa trẻ ngây thơ, vì ham ăn kẹo nên đã nghe theo lời thằng Bá, dùng tiền giả để mua hàng của bà Bảy Nhiêu. Khi cầm tờ “bạc giả”, “tôi” đã cảm thấy ngần ngại, xấu hổ, chứng tỏ trong lòng vẫn còn lương tâm và sự day dứt. Sau khi bà Bảy qua đời và sự thật được biết rõ, “tôi” vô cùng ân hận, “đứng như chôn chân xuống đất”, “sống lưng lạnh buốt”. Nỗi ám ảnh ấy theo nhân vật suốt bốn mươi năm. Khi trưởng thành, trở thành nhà văn, “tôi” vẫn cùng Bá ra thăm mộ bà và cầu mong được tha thứ. Điều đó cho thấy “tôi” là người biết nhìn nhận sai lầm, có lòng trắc ẩn và nhân cách tốt đẹp. Nhân vật thể hiện quá trình trưởng thành từ lỗi lầm và gửi gắm bài học sâu sắc về sự trung thực.


Câu 2

Trung thực là một phẩm chất đạo đức vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Trung thực là sống ngay thẳng, thật thà, không gian dối trong lời nói và hành động. Đây là nền tảng để xây dựng niềm tin giữa người với người và tạo nên một xã hội văn minh.

Trong học tập, trung thực giúp học sinh phát triển năng lực thật sự của mình. Nếu gian lận trong thi cử, chúng ta có thể đạt điểm cao nhất thời nhưng sẽ đánh mất kiến thức và lòng tự trọng. Trong công việc và cuộc sống, người trung thực luôn được tin tưởng, tôn trọng và có nhiều cơ hội phát triển. Ngược lại, sự giả dối có thể mang lại lợi ích trước mắt nhưng về lâu dài sẽ làm mất uy tín và gây tổn hại nghiêm trọng.

Hiện nay, bên cạnh nhiều người sống chân thành, vẫn còn không ít biểu hiện thiếu trung thực như nói dối, gian lận thi cử, lừa đảo trên mạng… Những hành vi đó làm suy giảm niềm tin và gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tính trung thực từ những việc nhỏ nhất như không quay cóp, không nói dối cha mẹ, dám nhận lỗi khi sai.

Trung thực không chỉ là một đức tính tốt mà còn là thước đo nhân cách con người. Sống trung thực giúp ta thanh thản, tự tin và được mọi người yêu quý. Mỗi chúng ta, đặc biệt là học sinh, cần ý thức rèn luyện và giữ gìn phẩm chất cao đẹp này để trở thành người có ích cho xã hội.

Câu 1 (0,5 điểm)

Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn.


Câu 2 (0,5 điểm)

Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.


Câu 3 (1,0 điểm)

Cốt truyện đơn giản nhưng chặt chẽ, giàu ý nghĩa. Truyện xoay quanh một kỉ niệm thời thơ ấu của nhân vật “tôi” và thằng Bá khi lừa bà Bảy Nhiêu bằng tiền giả. Sự việc được đẩy lên cao trào khi bà Bảy qua đời và sự thật được hé lộ: bà biết mình bị lừa nhưng vẫn âm thầm nhận riêng những tờ giấy lộn. Câu chuyện khép lại bằng sự day dứt, ân hận kéo dài suốt bốn mươi năm của nhân vật “tôi”. Cốt truyện tuy nhẹ nhàng nhưng để lại bài học sâu sắc.


Câu 4 (1,0 điểm)

Văn bản kể về một kỉ niệm tuổi thơ đầy ân hận của nhân vật “tôi” khi cùng bạn dùng tiền giả lừa bà Bảy Nhiêu – một người mù, nghèo khổ nhưng bao dung. Qua đó, tác giả gửi gắm bài học về sự trung thực, lòng nhân hậu và những lỗi lầm trong đời có khi không thể sửa chữa.


Câu 5

Câu nói: “Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.” nhắc nhở mỗi người phải sống cẩn trọng, trung thực và có trách nhiệm với hành động của mình. Có những sai lầm khi đã gây ra hậu quả thì thời gian không thể quay lại để sửa chữa. Vì vậy, ta cần suy nghĩ kĩ trước khi hành động, biết sống đúng đắn để không phải ân hận suốt đời.