Nông Hoàng Linh Đan
Giới thiệu về bản thân
Đề tham khảo số 4 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau: CỔ TÍCH Bà cụ kẹo ốm một trận. Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố. Xưa kia mẹ góa con côi. Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng... mà nuôi đủ ba mẹ con. Giữa trưa hè nắng đổ lửa. Vai đeo bị cói. Bà cụ ràng rạc chạy nắng. Đến gốc đa vệ đê, bà bất chợt gặp một chị cứng tuổi ngồi nghỉ với gánh cỏ đầy. Chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn. Hai con người cô đơn tìm thấy nhau trong cảnh ngộ chung. Chị rước bà theo. Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con. Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò. Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. Chị quý bà như mẹ, bà thương chị như con. Ông trời chơi khăm kẻ khó. Cái nghề cỏ rả bọt bèo ai thèm đếm xỉa mà cũng yểu. Mấy anh chủ nhỏ đua đòi, hùn vốn tậu cái công nông. Ngồi lái cơ giới bành bạch, phì phèo điếu thuốc oách hơn xe bò kéo. Mất nghề, chị cỏ bò đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố. Mùa đông rét mướt đang về. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. Biết mình chẳng qua khỏi đêm nay, bà lão lào phào vào tai cô gái muộn mằn: – Nhỡ mẹ có đi, con nhớ thay sống áo cho mẹ nhé! Đoạn, mếu máo: – Con ơi, mẹ thương con lắm! Cầu trời con sống sung sướng... Chị cỏ bò thổn thức. Chị chỉ biết cuống quýt hai bàn tay xoa xoa, nắn nắn tấm thân già nguội giá. Sớm mai, bà cụ đã mất. Chị con nuôi nấu lên nồi lá thơm, lau thi thể mẹ, tìm trong bị một bộ quần áo lành lặn. Ở cái chéo áo lụa màu gụ, có một nút gút hình củ ấu. Chị gỡ nút buộc. Tuột ra, lăn lóc, năm sáu khâu nhẫn, vàng chóe. Chị cỏ bò sụp xuống, tức tưởi: "...Mẹ ơi...!" (Lê Văn Nguyên, Trích “108 truyện hay cực ngắn”, nhiều tác giả, NXB Phụ nữ, 2003, tr107-109) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của truyện. Câu 2 (0,5 điểm). Tìm trong truyện những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau. Câu 3 (1,0 điểm). Nêu chủ đề của truyện. Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn sau. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của truyện, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. Hướng dẫn giải: I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ ba. Câu 2 (0,5 điểm) Những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau: + Họ sống trong một túp lều thưng vách cót. + Họ sống hòa thuận: Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. + Hai mẹ con đùm bọc lấy nhau: Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. … Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. + Hoàn cảnh khó khăn: Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. + … (Học sinh nêu được tối thiểu 03 chi tiết) Câu 3 (1,0 điểm) Chủ đề của truyện: Ca ngợi tình người ấm áp giữa những con người nghèo khổ, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn sẵn sàng san sẻ, cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Tác giả cũng bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với những phận đời nghèo khó, bấp bênh trong xã hội. Câu 4 (1,0 điểm) Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn. – Sử dụng từ ngữ tạo nên biện pháp tu từ nhân hóa “Rét mướt ác với kẻ nghèo” gợi lên hoàn cảnh khó khăn của hai mẹ con, cho thấy sự túng quẩn của họ, những điều khổ sở họ phải chịu đựng. – Sự kết hợp các từ láy ào ào, đồm độp gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và đằng sau đó là hoàn cảnh đáng thương, thiếu thốn của hai mẹ con. Câu 5 (1,0 điểm) – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. + Tình người tồn tại trong cuộc sống giúp xã hội trở nên văn minh hơn, tiến bộ hơn, giúp con người có một môi trường sống hòa bình. + Tình yêu thương giúp con người trở nên rộng lượng, lạc quan, yêu đời, bỏ qua cái tôi cá nhân hướng đến cái chung. + … Đề tham khảo số 4 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau: CỔ TÍCH Bà cụ kẹo ốm một trận. Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố. Xưa kia mẹ góa con côi. Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng... mà nuôi đủ ba mẹ con. Giữa trưa hè nắng đổ lửa. Vai đeo bị cói. Bà cụ ràng rạc chạy nắng. Đến gốc đa vệ đê, bà bất chợt gặp một chị cứng tuổi ngồi nghỉ với gánh cỏ đầy. Chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn. Hai con người cô đơn tìm thấy nhau trong cảnh ngộ chung. Chị rước bà theo. Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con. Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò. Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. Chị quý bà như mẹ, bà thương chị như con. Ông trời chơi khăm kẻ khó. Cái nghề cỏ rả bọt bèo ai thèm đếm xỉa mà cũng yểu. Mấy anh chủ nhỏ đua đòi, hùn vốn tậu cái công nông. Ngồi lái cơ giới bành bạch, phì phèo điếu thuốc oách hơn xe bò kéo. Mất nghề, chị cỏ bò đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố. Mùa đông rét mướt đang về. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. Biết mình chẳng qua khỏi đêm nay, bà lão lào phào vào tai cô gái muộn mằn: – Nhỡ mẹ có đi, con nhớ thay sống áo cho mẹ nhé! Đoạn, mếu máo: – Con ơi, mẹ thương con lắm! Cầu trời con sống sung sướng... Chị cỏ bò thổn thức. Chị chỉ biết cuống quýt hai bàn tay xoa xoa, nắn nắn tấm thân già nguội giá. Sớm mai, bà cụ đã mất. Chị con nuôi nấu lên nồi lá thơm, lau thi thể mẹ, tìm trong bị một bộ quần áo lành lặn. Ở cái chéo áo lụa màu gụ, có một nút gút hình củ ấu. Chị gỡ nút buộc. Tuột ra, lăn lóc, năm sáu khâu nhẫn, vàng chóe. Chị cỏ bò sụp xuống, tức tưởi: "...Mẹ ơi...!" (Lê Văn Nguyên, Trích “108 truyện hay cực ngắn”, nhiều tác giả, NXB Phụ nữ, 2003, tr107-109) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của truyện. Câu 2 (0,5 điểm). Tìm trong truyện những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau. Câu 3 (1,0 điểm). Nêu chủ đề của truyện. Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn sau. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của truyện, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. Hướng dẫn giải: I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ ba. Câu 2 (0,5 điểm) Những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau: + Họ sống trong một túp lều thưng vách cót. + Họ sống hòa thuận: Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. + Hai mẹ con đùm bọc lấy nhau: Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. … Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. + Hoàn cảnh khó khăn: Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. + … (Học sinh nêu được tối thiểu 03 chi tiết) Câu 3 (1,0 điểm) Chủ đề của truyện: Ca ngợi tình người ấm áp giữa những con người nghèo khổ, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn sẵn sàng san sẻ, cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Tác giả cũng bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với những phận đời nghèo khó, bấp bênh trong xã hội. Câu 4 (1,0 điểm) Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn. – Sử dụng từ ngữ tạo nên biện pháp tu từ nhân hóa “Rét mướt ác với kẻ nghèo” gợi lên hoàn cảnh khó khăn của hai mẹ con, cho thấy sự túng quẩn của họ, những điều khổ sở họ phải chịu đựng. – Sự kết hợp các từ láy ào ào, đồm độp gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và đằng sau đó là hoàn cảnh đáng thương, thiếu thốn của hai mẹ con. Câu 5 (1,0 điểm) – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. + Tình người tồn tại trong cuộc sống giúp xã hội trở nên văn minh hơn, tiến bộ hơn, giúp con người có một môi trường sống hòa bình. + Tình yêu thương giúp con người trở nên rộng lượng, lạc quan, yêu đời, bỏ qua cái tôi cá nhân hướng đến cái chung. Bài 2 II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật chị cỏ bò trong truyện “Cổ tích” ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bày tỏ ý kiến của em về việc giới trẻ ngày nay cần phải rèn luyện lối sống tự lập. Hướng dẫn giải: II. PHẦN VIẾT Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích nhân vật chị cỏ bò trong truyện “Cổ tích”. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Chị cỏ bò là nhân vật chính của câu chuyện. + Hoàn cảnh: Một người phụ nữ cứng tuổi cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò. Chị sống trong căn nhà tồi tàn, đơn sơ – một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Mỗi khi trời nổi mưa dông, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng và những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Về sau, khi bị mất nghề, chị đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố. + Dù hoàn cảnh khó khăn nhưng bên trong chị luôn tồn tại tình người ấm áp. Khi gặp bà cụ đáng thương, chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn. Hai con người cô đơn tìm thấy nhau trong cảnh ngộ chung. Chị đưa bà về sống cùng, chăm lo, yêu thương như mẹ. Họ cùng trải qua những ngày nghèo khó nhưng trong căn nhà tồi tàn như ấm áp hơn nhờ có tiếng nói cười. + Chị trân quý tình cảm của người mẹ. Chị yêu thương mẹ già và đau đớn tột cùng khi bà ra đi. Khi biết mẹ để lại cho chị mấy khâu nhẫn vàng chị đã bật khóc tức tưởi, vừa cảm nhận được tình yêu thương của mẹ và cũng vừa thương xót cho mẹ. + Nghệ thuật: Xây dựng tính cách nhân vật dựa trên những hành động, lời nói, cử chỉ. Tình huống gặp gỡ của hai mẹ con cũng góp phần xây dựng hình ảnh của chị cỏ bò. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Bày tỏ ý kiến của em về việc giới trẻ ngày nay cần phải rèn luyện lối sống tự lập. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: Tính tự lập là sự tự ý thức học tập, làm việc, tạo dựng cuộc sống của mình mà không dựa dẫm hay phụ thuộc vào bất kì ai. + Biểu hiện: ++) Thể hiện qua ý thức chủ động trong cuộc sống của bản thân: tự đặt ra mục tiêu, xây dựng kế hoạch, sống có kỉ luật,... ++) Thể hiện qua những việc làm đơn giản như: chủ động hoàn thành bài tập về nhà, tự học, tự làm những việc giúp đỡ gia đình trong khả năng của bản thân,… + Thực trạng: Nhiều bạn trẻ còn dựa dẫm vào gia đình, đã quen với sự bao bọc của người thân; chưa nhận ra được ý nghĩa của tự lập; chưa có mục tiêu sống cho bản thân;… Nhưng bên cạnh đó một bộ phận giới trẻ cũng đã tự lập từ sớm, cố gắng hoàn thành những mục tiêu, xác định đúng phương hướng của tương lai, kiên trì với ước mơ. Họ đã thành công, càng ngày càng hoàn thiện bản thân. Điều này cho thấy rõ sự khác biệt giữa những người chưa nhận ra ý nghĩa, giá trị của lối sống tự lập và những bạn trẻ đã thành công. + Ý nghĩa của việc sống tự lập: ++) Tự trang bị, hình thành cho mình một khả năng quan sát, nhận thức, phân tích, đánh giá chính xác bản chất vấn đề trong chỉnh thể toàn vẹn, thấu đáo. ++) Tránh những sai lầm, phiến diện, chạy theo đám đông, theo tư duy bầy đàn có thể gây ra hậu quả đáng tiếc. ++) Hình thành cho mình quan điểm, lý tưởng sống, tư tưởng khoa học, khách quan, kiên định lập trường của bản thân, biết phản biện, đấu tranh chống lại những cách nhìn thiên lệch, giả tạo hoặc cực đoan, sai trái. ++) Bản thân chủ động, tích cực trong các hoạt động của cuộc sống, tự tin giải quyết mọi vấn đề hợp lý, tạo ra những mối quan hệ tốt đẹp, biết xử lý những vấn đề phát sinh nhanh nhạy, linh hoạt. ++) Bản thân có những hành động kịp thời, đúng đắn vì những điều tốt đẹp, tạo ra giá trị cho bản thân và xã hội, tự điều chỉnh và hoàn thiện mình. + Giải pháp: ++) Trau dồi kiến thức, hiểu biết về xã hội, nhận thức được vai trò của tự lập. ++) Xây dựng mục tiêu cho bản thân, lên kế hoạch để hoàn thành mục tiêu. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): – Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Đề tham khảo số 4 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau: CỔ TÍCH Bà cụ kẹo ốm một trận. Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố. Xưa kia mẹ góa con côi. Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng... mà nuôi đủ ba mẹ con. Giữa trưa hè nắng đổ lửa. Vai đeo bị cói. Bà cụ ràng rạc chạy nắng. Đến gốc đa vệ đê, bà bất chợt gặp một chị cứng tuổi ngồi nghỉ với gánh cỏ đầy. Chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn. Hai con người cô đơn tìm thấy nhau trong cảnh ngộ chung. Chị rước bà theo. Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con. Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò. Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. Chị quý bà như mẹ, bà thương chị như con. Ông trời chơi khăm kẻ khó. Cái nghề cỏ rả bọt bèo ai thèm đếm xỉa mà cũng yểu. Mấy anh chủ nhỏ đua đòi, hùn vốn tậu cái công nông. Ngồi lái cơ giới bành bạch, phì phèo điếu thuốc oách hơn xe bò kéo. Mất nghề, chị cỏ bò đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố. Mùa đông rét mướt đang về. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. Biết mình chẳng qua khỏi đêm nay, bà lão lào phào vào tai cô gái muộn mằn: – Nhỡ mẹ có đi, con nhớ thay sống áo cho mẹ nhé! Đoạn, mếu máo: – Con ơi, mẹ thương con lắm! Cầu trời con sống sung sướng... Chị cỏ bò thổn thức. Chị chỉ biết cuống quýt hai bàn tay xoa xoa, nắn nắn tấm thân già nguội giá. Sớm mai, bà cụ đã mất. Chị con nuôi nấu lên nồi lá thơm, lau thi thể mẹ, tìm trong bị một bộ quần áo lành lặn. Ở cái chéo áo lụa màu gụ, có một nút gút hình củ ấu. Chị gỡ nút buộc. Tuột ra, lăn lóc, năm sáu khâu nhẫn, vàng chóe. Chị cỏ bò sụp xuống, tức tưởi: "...Mẹ ơi...!" (Lê Văn Nguyên, Trích “108 truyện hay cực ngắn”, nhiều tác giả, NXB Phụ nữ, 2003, tr107-109) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của truyện. Câu 2 (0,5 điểm). Tìm trong truyện những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau. Câu 3 (1,0 điểm). Nêu chủ đề của truyện. Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn sau. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của truyện, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. Hướng dẫn giải: I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ ba. Câu 2 (0,5 điểm) Những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ và chị cỏ bò sau khi đã trở thành mẹ con và đùm bọc lấy nhau: + Họ sống trong một túp lều thưng vách cót. + Họ sống hòa thuận: Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. + Hai mẹ con đùm bọc lấy nhau: Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. … Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. + Hoàn cảnh khó khăn: Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. + … (Học sinh nêu được tối thiểu 03 chi tiết) Câu 3 (1,0 điểm) Chủ đề của truyện: Ca ngợi tình người ấm áp giữa những con người nghèo khổ, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn sẵn sàng san sẻ, cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Tác giả cũng bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với những phận đời nghèo khó, bấp bênh trong xã hội. Câu 4 (1,0 điểm) Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn. – Sử dụng từ ngữ tạo nên biện pháp tu từ nhân hóa “Rét mướt ác với kẻ nghèo” gợi lên hoàn cảnh khó khăn của hai mẹ con, cho thấy sự túng quẩn của họ, những điều khổ sở họ phải chịu đựng. – Sự kết hợp các từ láy ào ào, đồm độp gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và đằng sau đó là hoàn cảnh đáng thương, thiếu thốn của hai mẹ con. Câu 5 (1,0 điểm) – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. + Tình người tồn tại trong cuộc sống giúp xã hội trở nên văn minh hơn, tiến bộ hơn, giúp con người có một môi trường sống hòa bình. + Tình yêu thương giúp con người trở nên rộng lượng, lạc quan, yêu đời, bỏ qua cái tôi cá nhân hướng đến cái chung.
Đề tham khảo số 3 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau: Xin trả lại con Làng Nủ (Trích) Làng Nủ mình đâu rồi bố ơi? Mẹ và các em con cũng đâu rồi hả bố? Sao bố con mình cùng lấm lem bùn lũ? Đây là đâu mà mù mịt thế này? Không thể nào con cựa được chân tay Không thở được, mũi mồm toàn bùn đất Có phải bố đấy không mà ôm con rất chặt? Tỉnh lại đi bố ơi! Đưa con trở về nhà! Trường của con vừa khai giảng hôm qua Con sung sướng ngày đầu tiên đi học Chưa biết tên bạn bè, nhiều đứa còn dỗi khóc Sao giờ đây con chỉ thấy bùn? Con muốn về nhà, về Làng Nủ yêu thương Muốn đi học, đón Trung Thu cùng bạn Không muốn ở đây dưới đất này lạnh lắm Bố tỉnh lại đi… đưa con về! […] (Đỗ Xuân Thu, vanvn.vn, cập nhật 21/09/2024) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? Câu 2 (0,5 điểm). Xác định những từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu. Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về tác dụng của biện pháp tu từ được dùng trong đoạn thơ sau. Trường của con vừa khai giảng hôm qua Con sung sướng ngày đầu tiên đi học Chưa biết tên bạn bè, nhiều đứa còn dỗi khóc Sao giờ đây con chỉ thấy bùn? Câu 4 (1,0 điểm). Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì? Câu 5 (1,0 điểm). Từ góc nhìn của người trẻ, em có thể làm gì để chia sẻ với những người ở vùng lũ? Hướng dẫn giải: I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả. Câu 2 (0,5 điểm) Từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu: lấm lem bùn lũ, không thể nào con cựa được chân tay, không thở được, mũi mồm toàn bùn đất. Câu 3 (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ. – Tác dụng: + Nhấn mạnh hoàn cảnh ngặt nghèo của đứa bé đang bị vùi lấp, nằm sâu dưới lòng đất rất thương tâm. + Nhấn mạnh tâm trạng đau xót, bất lực của chính tác giả khi nhìn những đứa bé đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của lũ lụt, sạt lở. Câu 4 (1,0 điểm) Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Nỗi niềm đau xót, thương cảm dành cho những đứa bé ở làng Nủ đã ra đi trong trận lũ lụt, sạt lở. Câu 5 (1,0 điểm) Học sinh cần nêu ra những việc mình có thể làm để chia sẻ với những người ở vùng lũ lụt. Gợi ý: – Gửi đến họ những lời động viên, chia sẻ chân thành; động viên họ vượt qua những khó khăn trước mắt, khắc phục hậu quả sau lũ lụt. – Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, hãy tham gia quyên góp, giúp đỡ những hoàn cảnh đau thương, mất mát sau lũ. – … Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả. Câu 2 (0,5 điểm) Từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu: lấm lem bùn lũ, không thể nào con cựa được chân tay, không thở được, mũi mồm toàn bùn đất. Câu 3 (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ. – Tác dụng: + Nhấn mạnh hoàn cảnh ngặt nghèo của đứa bé đang bị vùi lấp, nằm sâu dưới lòng đất rất thương tâm. + Nhấn mạnh tâm trạng đau xót, bất lực của chính tác giả khi nhìn những đứa bé đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của lũ lụt, sạt lở. Câu 4 (1,0 điểm) Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Nỗi niềm đau xót, thương cảm dành cho những đứa bé ở làng Nủ đã ra đi trong trận lũ lụt, sạt lở. Câu 5 (1,0 điểm) Học sinh cần nêu ra những việc mình có thể làm để chia sẻ với những người ở vùng lũ lụt. Gợi ý: – Gửi đến họ những lời động viên, chia sẻ chân thành; động viên họ vượt qua những khó khăn trước mắt, khắc phục hậu quả sau lũ lụt. – Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, hãy tham gia quyên góp, giúp đỡ những hoàn cảnh đau thương, mất mát sau lũ. Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con Làng Nủ” ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). “Cuộc sống là một hành trình tìm kiếm sự cân bằng giữa những điều bạn yêu thích và những điều bạn cần làm.” – (Steve Job – nhà đồng sáng lập tập đoàn Apple). Từ góc nhìn của một người trẻ, theo em, học sinh cần làm gì để cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kì vọng của gia đình? Viết một bài văn (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân. Hướng dẫn giải: II. PHẦN VIẾT Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích trong bài thơ “Xin trả lại con Làng Nủ”. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Thể thơ tự do, phóng khoáng đã giúp tác giả dễ dàng bộc lộ cảm xúc một cách rõ nét, đầy đủ và trọn vẹn, đó chính là sự xót thương trước những mất mát, đau thương của những người dân ở Làng Nủ – một ngôi làng đã từng là nơi sinh sống yên bình của rất nhiều người dân ở Lào Cai. Hình ảnh những đứa trẻ thơ bé bỏng, non nớt đã không còn nữa và những ước mơ, những khao khát nhỏ bé của các em đã mãi mãi khép lại. + Từ ngữ giàu hình ảnh, có giá trị biểu cảm cao: Lấm lem bùn lũ, không thể nào con cựa được chân tay, không thở được, mũi mồm toàn bùn đất. + Câu hỏi tu từ, câu cảm thán để bộc lộ trực tiếp cảm xúc (Đây là đâu mà mù mịt thế này?/ Có phải bố đấy không mà ôm con rất chặt?/ Sao giờ đây con chỉ thấy bùn?). + Các biện pháp tu từ: điệp ngữ, liệt kê… được sử dụng hiệu quả khi khắc họa thảm cảnh đáng thương do thiên tai gây ra. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Học sinh cần làm gì để cân bằng giữa mong muốn của bản thân và kì vọng của gia đình? c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: ++) Mong muốn cá nhân: Là những ước mơ, khát vọng mà mỗi người khao khát đạt được, phản ánh sở thích, năng lực, và giá trị quan của bản thân. ++) Kì vọng gia đình: Là những mong đợi của cha mẹ dành cho con cái, thường xuất phát từ tình yêu thương, kinh nghiệm sống và hi vọng về một tương lai tốt đẹp. + Thực trạng: ++) Sự khác biệt trong suy nghĩ giữa thế hệ cha mẹ và con cái khiến việc dung hòa trở nên khó khăn. ++) Nhiều học sinh cảm thấy áp lực khi phải sống theo những mong đợi của gia đình mà không được tự do theo đuổi đam mê cá nhân. + Nguyên nhân: ++) Khác biệt thế hệ: Cha mẹ lớn lên trong bối cảnh khác với con cái, nên giá trị quan và mục tiêu sống có sự chênh lệch. ++) Thiếu giao tiếp: Cha mẹ và con cái không dành đủ thời gian để chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc của mình. ++) Áp lực xã hội: Thành công thường được định nghĩa qua các tiêu chuẩn chung như điểm số, nghề nghiệp làm tăng thêm áp lực cho cha mẹ và con cái. + Hệ quả: ++) Đối với con cái: Cảm thấy lạc lõng, mất đi động lực học tập, thậm chí dẫn đến trầm cảm. ++) Đối với gia đình: Gây rạn nứt tình cảm và làm giảm sự gắn kết giữa các thành viên. + Giải pháp: ++) Hiểu rõ bản thân và kì vọng của gia đình: Xác định đam mê, năng lực và tìm hiểu mong muốn, lí do đằng sau kì vọng đó. ++) Giao tiếp cởi mở và chân thành: Trò chuyện với cha mẹ về những khó khăn của bản thân, lắng nghe ý kiến của cha mẹ. ++) Đề xuất giải pháp dung hòa: Lên kế hoạch chi tiết, cân bằng giữa đam mê và kì vọng của gia đình. ++) Chứng minh năng lực và sự quyết tâm qua hành động. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): – Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả. Câu 2 (0,5 điểm) Từ ngữ miêu tả hoàn cảnh của “con” trong hai khổ thơ đầu: lấm lem bùn lũ, không thể nào con cựa được chân tay, không thở được, mũi mồm toàn bùn đất. Câu 3 (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ. – Tác dụng: + Nhấn mạnh hoàn cảnh ngặt nghèo của đứa bé đang bị vùi lấp, nằm sâu dưới lòng đất rất thương tâm. + Nhấn mạnh tâm trạng đau xót, bất lực của chính tác giả khi nhìn những đứa bé đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của lũ lụt, sạt lở. Câu 4 (1,0 điểm) Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Nỗi niềm đau xót, thương cảm dành cho những đứa bé ở làng Nủ đã ra đi trong trận lũ lụt, sạt lở. Câu 5 (1,0 điểm) Học sinh cần nêu ra những việc mình có thể làm để chia sẻ với những người ở vùng lũ lụt. Gợi ý: – Gửi đến họ những lời động viên, chia sẻ chân thành; động viên họ vượt qua những khó khăn trước mắt, khắc phục hậu quả sau lũ lụt. – Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, hãy tham gia quyên góp, giúp đỡ những hoàn cảnh đau thương, mất mát sau lũ.
Bài 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
CHIM THÊU
Chiều chủ nhật ba thường đi dạo,
Các cửa hàng bày áo trẻ con.
Lòng ba không khỏi riêng buồn,
Ngắm từng kiểu áo, nhớ con vô cùng!
Lũ chúng nó ngăn sông cản núi,
Áo ba mua khôn gửi về Nam.
Nhìn đàn trẻ nhỏ xênh xang,
Áo thêu chim trắng, ba càng thương con.
Con trong đó sớm hôm nức nở,
Nghẹn lời ca dưới mỏ quạ đen.
Mẹ con chẳng vụng đường kim,
Áo con chẳng dám thêu chim hoà bình.
Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực
Tưởng chừng nghe thổn thức tim con.
Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,
Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn...
Treo áo con bên bàn làm việc,
Nhìn chim thêu, ba viết thơ này.
Áo không gửi được hôm nay,
Thì ba giữ lấy, mai ngày cho con.
Ngày mai ấy, nước non một khối,
Giở áo này, thấu nỗi niềm xưa,
Đàn em con đó, bây giờ,
Áo thêu chim trắng, tha hồ vui chơi.
Mùa xuân 1957
(Theo Nguyễn Bính toàn tập, Tập 2, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007)
* Chú thích:
1. Tác giả: Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, quê ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Ông được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc như Mưa xuân, Chân quê, Tương tư,...
2. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Chim thêu trích trong tập thơ Mùa xuân (1957), tập thơ được sáng tác vào thời kỳ người dân miền Bắc tập trung xây dựng đất nước trong hòa bình, trong khi miền Nam vẫn đang chịu sự chia cắt bởi chiến tranh. Bài thơ ra đời trong bối cảnh mang nặng tâm tư về tình cảm gia đình, nỗi nhớ thương và hy vọng vào ngày mai hòa bình.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai?
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu đề tài, chủ đề của văn bản.
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: “Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn…”.
Câu 5 (1,0 điểm). Văn bản trên cho gợi cho em những ấn tượng gì về tình cảm mà người cha dành cho người con của mình?
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (0,5 điểm)
Thể thơ: Song thất lục bát.
Câu 2 (0,5 điểm)
Nhân vật trữ tình: Người cha.
Câu 3 (1,0 điểm)
- Đề tài: Tình phụ tử.
- Chủ đề: Tình yêu thương, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa.
Câu 4 (1,0 điểm)
- HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng: Đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”.
- HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ:
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
+ Nhấn mạnh bồi hồi, tình cảm yêu thương của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình.
+ Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con.
Câu 5 (1,0 điểm)
- Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau:
+ Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi.
+ Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con.
+ Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi.
+ Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi.
- Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách.
Câu 1 (0,5 điểm)
Thể thơ: Song thất lục bát.
Câu 2 (0,5 điểm)
Nhân vật trữ tình: Người cha.
Câu 3 (1,0 điểm)
- Đề tài: Tình phụ tử.
- Chủ đề: Tình yêu thương, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa.
Câu 4 (1,0 điểm)
- HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng: Đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”.
- HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ:
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
+ Nhấn mạnh bồi hồi, tình cảm yêu thương của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình.
+ Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con.
Câu 5 (1,0 điểm)
- Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau:
+ Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi.
+ Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con.
+ Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi.
+ Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi.
- Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách.
Bài 2
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ba khổ thơ cuối của văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực cho con cái. Từ góc độ của một người con, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích ba khổ thơ cuối của văn bản ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm):
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Nội dung: Nỗi lòng nhớ thương con của người cha trong xa cách:
++ Nhớ hình bóng con trong nghẹn ngào, thương con sống trong hoàn chia cắt: Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực. Người cha như nghe được nhịp đập trái tim con qua tấm áo. Điều này cho thấy tình cảm cha con gần gũi, chan chứa, dù có khoảng cách địa lý hoặc thời gian.
++ Bồi hồi nhớ cặp mắt đen tròn - sự hồn nhiên, trong sáng của con. Tiếng con như tiếng chim non gọi đàn, âm thanh ấy giờ chỉ còn là kí ức vẳng xa. Âm thanh ấy cũng thể hiện khát khao gia đình đoàn tụ của người cha.
++ Gửi hi vọng về ngày mai trong chiếc áo cho con: Ngày mai ấy, nước non một khối, để vừa thỏa nỗi nhớ con, vừa mong sớm ngày đoàn tụ, hình dung mai này đất nước thống nhất, các con thơ hạnh phúc, sum vầy.
++ Hình ảnh áo thêu chim trắng trở thành biểu tượng của niềm tin, hi vọng vào tương lai tốt đẹp.
=> Nỗi lòng nhớ con được người cha gửi gắm vào thơ như những nỗi niềm yêu thương, mong ước, như một cách lưu giữ kí ức và động viên chính mình.
+ Nghệ thuật:
++ Thể thơ song thất lục bát (câu thơ, nhịp thơ, giọng thơ, gieo vần....); kết hợp các biện pháp tu từ, tạo nên âm hưởng buồn thương, nhung nhớ.
++ Hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị nhưng mang đầy tính biểu tượng.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm):
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái có thể vừa là động lực, vừa là áp lực.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm):
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
+ Giải thích:
++ Tình yêu thương là sự quan tâm, chăm sóc đối với những người xung quanh.
++ Động lực là những nhân tố thúc đẩy mỗi cá nhân cố gắng, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu đã đề ra.
++ Áp lực là những yếu tố khiến con người sống trong sự đè nén, mệt mỏi khiến trạng thái tinh thần con người rơi vào tình trạng tồi tệ nhất.
=> Tình yêu thương của cha mẹ là sự quan tâm, chăm sóc đôi khi là sự kì vọng vào con cái. Điều đó có thể tạo cho con động lực để phát triển, hoàn thiện nhưng cũng có thể vô hình tạo ra những áp lực cho con cái.
+ Bàn luận: HS thể hiện quan điểm cá nhân (đồng tình hoặc không đồng tình), giải thích và đưa ra dẫn chứng một cách hợp lý. Có thể theo một số gợi ý sau:
++ Tình yêu thương của cha mẹ tạo động lực cho con:
+++ Tình yêu thương của cha mẹ giúp con cảm thấy yên tâm, vững vàng hơn hơn trong cuộc sống.
+++ Tình yêu thương của cha mẹ khiến con có cảm giác được động viên, khích lệ, từ đó tạo động lực cố gắng, phấn đấu tốt hơn.
+++ Tình yêu thương của cha mẹ cũng chính là điểm tựa giúp con vững bước vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống, là liều thuốc xoa dịu những lúc con đau buồn, thất bại,…
++ Tình yêu thương của cha mẹ vô tình tạo những áp lực cho con:
+++ Cha mẹ yêu thương và kì vọng quá vào năng lực của con sẽ gây cho con căng thẳng, mệt mỏi, lo sợ khi không làm cha mẹ hài lòng.
+++ Tình yêu thương quá lớn đôi khi tạo ra sự kiểm soát, áp đặt khiến con cái cảm thấy áp lực, khó chịu, có thể nảy sinh sự đối phó và những lời nói dối,…
+ Giải pháp:
++ Con cái cần học cách đón nhận và trân trọng tình yêu thương của cha mẹ.
++ Cha mẹ cùng cần học cách yêu thương con sao cho phù hợp, thường xuyên chia sẻ để thấu hiểu mong muốn, tâm lí của con.
+ Khẳng định lại quan điểm của bản thân:
++ Sự khác biệt về thế hệ dễ dẫn đến sự bất đồng quan điểm, vì vậy con cái cần chia sẻ những mong muốn cá nhân để cha mẹ thấu hiểu. Cha mẹ cũng lắng nghe ý kiến của con để dung hòa, tạo không khí gia đình hạnh phúc, đầm ấm.
++ Con cái cần đặt ra mục tiêu và xây dựng kế hoạch thực hiện; chứng minh năng lực và quyết tâm của bản thân thông qua hành động cụ thể. Cha mẹ nhận rõ năng lực của con để động viên, khích lệ, có hướng phát triển cho phù hợp,…
Câu 1 (0,5 điểm) Thể thơ: Song thất lục bát. Câu 2 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình: Người cha. Câu 3 (1,0 điểm) - Đề tài: Tình phụ tử. - Chủ đề: Tình yêu thương, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa. Câu 4 (1,0 điểm) - HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng: Đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”. - HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ: + Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. + Nhấn mạnh bồi hồi, tình cảm yêu thương của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình. + Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con. Câu 5 (1,0 điểm) - Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau: + Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi. + Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con. + Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi. + Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi. - Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách.
Đề tham khảo số 1 Bài GV giao Bài 1 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 ĐIỂM) Đọc văn bản sau: MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI Quán bà Bảy Nhiêu nằm gần một khu mả đá, được bao bọc bởi những hàng rào bàn chải. Đó là một cái chòi tranh rách nát được dựng lên trước mặt một ngôi nhà tranh vách đất cũng rách nát như vậy. Trong chòi có đặt một cái bàn gỗ đã cũ, hai cái ghế băng cũng đã già nua như vậy, một cái đã hỏng mất một chân. Trên chiếc bàn gỗ có xếp mấy lọ kẹo, đường táng, những thứ mà bà con nông dân tự làm lấy. Bà Bảy Nhiêu sống có một mình. Người trong làng không ai rõ chồng con bà đã mất từ lúc nào, mà cũng có thể là bà chưa có chồng con gì cả. Trước đây, mắt bà còn tinh nhưng độ hai năm nay bà bị lòa. Người ta bảo nhà bà ở gần động cát quá, nên gió thổi cát vào mắt nhiều lần, lâu ngày mà nó vậy. Chúng tôi nhao nhao: - Bán cho con một táng đường, bà. - Bán cho con hai viên kẹo bi, bà. Bà Bảy Nhiêu run run đưa bàn tay trái lên cầm tiền của chúng tôi, bỏ ngay vào cái cơi trầu bà đặt dưới bàn, tay phải quờ quờ lục vào các lọ lấy kẹo, đường cho từng đứa. Hầu như không bao giờ bà đếm tiền. Bà tin chúng tôi. Trưa hôm đó, sau hiệu lệnh của thằng Bá, tôi cho tay vào túi. Những tờ bạc lẻ mà mẹ tôi cho đã biến mất đâu. Tôi ngần ngừ một lúc nhưng nỗi thèm ngọt đã khiến cho tôi lủi thủi theo sau các bạn mong được “ăn ghẹ” của một đứa nào đấy. Giữa đường, nghĩ xấu hổ, tôi quay lại... - Sao mày không đi mua đường, mua kẹo? - Thằng Bá đi phía sau hỏi tôi. - Tao không có tiền. Bá cười sằng sặc: - Chớ hồi giờ tao đâu có tiền mà vẫn mua được kẹo. Tôi ngạc nhiên: - Chớ lâu nay mày mua bằng thứ gì? Bá không trả lời ngay. Nó kéo tôi sát lại gần nó, rút trong túi ra mấy tờ giấy đã viết, được cắt gọn ghẽ như những tờ giấy bạc, nói thì thầm: - Tao chuyên đưa bà Bảy những tờ giấy này. Bả mù, bà đâu có thấy. - Nó ngừng một lát rồi nói tiếp, - tao có ba tờ tao cho mày một tờ. Mày đợi tụi nó mua cuối cùng mình mới mua. Tôi ngần ngại một lát nhưng cuối cùng cũng cầm tờ giấy lộn. Tôi có cảm giác khi cầm tờ “bạc giả” của tôi, mắt bà Bảy Nhiêu như có tia sáng loé lên. Nhưng bà không nói gì, vẫn bỏ nó vào cơi trầu và đưa đường táng đen cho tôi. Ngày hôm sau, sự việc vẫn lặp lại y như hôm trước. Có điều, khi tôi và Bá đến quán thì không thấy có chuyện mua bán xảy ra. Các bạn đến trước đều đứng túm lại dưới quán nhìn sững vào trong nhà bà Bảy. Trong nhà có tiếng người lao xao. Một bác nông dân quen biết trong làng đang ngồi trước cửa vừa giờ cơi trầu của bà Bảy ra đếm tiền vừa nói vọng ra: - Tụi bay về đi. Bà Bảy trúng gió chết hồi hôm rồi. Chúng tôi sững sờ, đứng im không nhúc nhích. Bác nông dân lẩm bẩm điều gì quay vô nhà nói với ai đó: “Số tiền này vừa đủ mua một chiếc chiếu gói bả đấy.”. Im lặng một lúc rồi bác tiếp: “Bả mù mà tinh thật. Bọn xỏ lá nào đưa giấy lộn cho bả, bả cũng nhận rồi gói riêng ra...”. Tôi và Bá đứng như chôn chân xuống đất. Sống lưng lạnh buốt. Từ đó đến nay đã bốn mươi năm trôi qua. Bạn bè của tôi cũng không còn đông đủ như trước. Có những đứa vốn ngỗ ngược, sau này lại trở thành những du kích dũng cảm và hi sinh. Có nhiều đứa theo gia đình, bỏ quê xứ đi làm ăn xa. Thằng Bá bây giờ trở thành một nông dân, người gầy, rắn rỏi, ngày ngày đánh trâu cày trên những rộc cát khô khốc mong tìm từng củ khoai để nuôi bầy con cháu đông đúc. Riêng tôi may mắn, được đi tập kết, được học hành để trở thành một nhà văn. Cứ mỗi lần về quê, tôi lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu. Cả hai đứa đều đứng lặng, miệng lầm rầm cầu mong bà tha thứ... Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa. (Thanh Quế, Trích 65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản. Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra ngôi kể được sử dụng trong văn bản. Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về cốt truyện của văn bản. Câu 4 (1,0 điểm). Nội dung của văn bản này là gì? Câu 5 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về câu: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa."? Hướng dẫn giải: Câu 1 (0,5 điểm) Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”. Câu 3 (1,0 điểm) - HS tóm tắt cốt truyện qua những sự kiện chính: + Sự kiện 1: Nhân vật “tôi” cùng Bá đi mua kẹo của bà Bảy Nhiêu với những tờ tiền giả. + Sự kiện 2: Bà Bảy Nhiêu bị trúng gió, qua đời. + Sự kiện 3: Nhân vật “tôi” cùng Bá đến viếng mộ bà Bảy Nhiêu, cầu mong bà tha thứ và tiếc nuối về sự việc đã qua. - HS nhận xét về cốt truyện của văn bản: Cốt truyện đơn tuyến, bao gồm những sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian tuyến tính. Câu 4 (1,0 điểm) Nội dung: Văn bản kể lại một lần lầm lỡ của nhân vật “tôi” khi lừa một bà cụ đáng thương, đơn độc, mù lòa. Qua câu chuyện ấy, tác giả thể hiện chân thực, sâu sắc nỗi niềm tiếc nuối của hai cậu bé năm xưa khi đã làm chuyện có lỗi với bà mà không có bất cứ cơ hội nào để bù đắp lại lỗi lầm. Từ đó, tác giả gửi đi một thông điệp sâu sắc trong cuộc sống: Hãy sống một cách trung thực, chân thành. Câu 5 (1,0 điểm) HS nêu cách hiểu của bản thân về câu văn: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.". (trình bày ngắn gọn khoảng 4 - 5 dòng) (Gợi ý: Câu văn nhấn mạnh rằng trong cuộc sống, có những sai lầm mà khi đã mắc phải, ta không thể quay lại để sửa chữa hay thay đổi. Điều này nhắc nhở mỗi người cần suy nghĩ kỹ trước khi hành động, trân trọng hiện tại và có trách nhiệm với quyết định của mình. Đồng thời, nó cũng khuyến khích ta rút kinh nghiệm từ quá khứ để sống tốt hơn trong tương lai.) Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”. Câu 3 (1,0 điểm) - HS tóm tắt cốt truyện qua những sự kiện chính: + Sự kiện 1: Nhân vật “tôi” cùng Bá đi mua kẹo của bà Bảy Nhiêu với những tờ tiền giả. + Sự kiện 2: Bà Bảy Nhiêu bị trúng gió, qua đời. + Sự kiện 3: Nhân vật “tôi” cùng Bá đến viếng mộ bà Bảy Nhiêu, cầu mong bà tha thứ và tiếc nuối về sự việc đã qua. - HS nhận xét về cốt truyện của văn bản: Cốt truyện đơn tuyến, bao gồm những sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian tuyến tính. Câu 4 (1,0 điểm) Nội dung: Văn bản kể lại một lần lầm lỡ của nhân vật “tôi” khi lừa một bà cụ đáng thương, đơn độc, mù lòa. Qua câu chuyện ấy, tác giả thể hiện chân thực, sâu sắc nỗi niềm tiếc nuối của hai cậu bé năm xưa khi đã làm chuyện có lỗi với bà mà không có bất cứ cơ hội nào để bù đắp lại lỗi lầm. Từ đó, tác giả gửi đi một thông điệp sâu sắc trong cuộc sống: Hãy sống một cách trung thực, chân thành. Câu 5 (1,0 điểm) HS nêu cách hiểu của bản thân về câu văn: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.". (trình bày ngắn gọn khoảng 4 - 5 dòng) (Gợi ý: Câu văn nhấn mạnh rằng trong cuộc sống, có những sai lầm mà khi đã mắc phải, ta không thể quay lại để sửa chữa hay thay đổi. Điều này nhắc nhở mỗi người cần suy nghĩ kỹ trước khi hành động, trân trọng hiện tại và có trách nhiệm với quyết định của mình. Đồng thời, nó cũng khuyến khích ta rút kinh nghiệm từ quá khứ để sống tốt hơn trong tương lai.) Bài 2 II. PHẦN VIẾT (6,0 ĐIỂM) Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “tôi” trong văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩa của em về sự trung thực trong cuộc sống hiện nay. Hướng dẫn giải: Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): - Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. - Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích nhân vật “tôi” trong văn bản. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: Nhân vật này được khắc họa chủ yếu thông qua hành động, suy nghĩ: + Nhân vật “tôi” là một cậu bé ngoan, có lòng tự trọng: Khi cùng các bạn đi mua kẹo, phát hiện ra mình bị mất tiền, em cũng muốn “ăn ghẹ” của đứa bạn nào đó ít kẹo vì thèm ngọt nhưng “Giữa đường, nghĩ xấu hổ, tôi quay lại…”. + Sau khi được Bá cho tờ giấy lộn để chuẩn bị mua kẹo của bà Bảy Nhiêu, em cũng cảm thấy ngần ngại, nhưng vẫn đưa tờ giấy ấy cho bà để mua kẹo. Suy nghĩ của nhân vật về ánh mắt của bà Bảy: “Tôi có cảm giác khi cầm tờ “bạc giả” của tôi, mắt bà Bảy Nhiêu như có tia sáng lóe lên.”. Chi tiết ấy cho thấy sự chột dạ của nhân vật “tôi” khi làm chuyện có lỗi với bà Bảy. + Sau khi bà Bảy mất, nghe được câu nói của người nông dân: “Bả mù mà tinh thật. Bọn xỏ lá nào đưa giấy lộn cho bả, bả cũng nhận rồi gói riêng ra…”. Giây phút ấy, nhân vật “tôi” mới vỡ lẽ ra rằng chiêu trò của em và Bá không hề qua mắt được bà Bảy. Việc bà vẫn bán kẹo cho các em có lẽ chính là lòng thương yêu, sự thấu hiểu mà bà dành cho trẻ nhỏ. + Nghĩ về tội lỗi của bản thân, nhân vật “tôi” ân hận vô cùng. Cho đến tận lúc lớn, mỗi lần về quê, nhân vật “tôi” lại cùng Bá ra thăm mộ bà Bảy để cầu mong sự tha thứ. => Nhận xét: Nhân vật “tôi” được xây dựng chủ yếu trên phương diện hành động, suy nghĩ, qua đó, tác giả nhằm thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong nội tâm của nhân vật. Chỉ một lần làm điều sai trái, nhân vật “tôi” ân hận suốt cả cuộc đời vì không còn cơ hội nào để chuộc lỗi. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Sự trung thực trong đời sống hiện nay. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: Trung thực là sự ngay thẳng, thật thà, không gian dối trong lời nói, hành động. + Biểu hiện: Người trung thực là người ngay thẳng, luôn tôn trọng sự thật, dám thừa nhận lỗi lầm của bản thân và sống đúng với lương tâm của mình. + Ý nghĩa: ++ Đối với cá nhân: Giúp con người có nhân cách tốt, sống thanh thản, không dằn vặt vì sự gian dối; giúp cá nhân bồi dưỡng được lòng tự trọng, sự chính trực, tạo dựng được lòng tin với mọi người xung quanh. ++ Đối với xã hội: Xây dựng niềm tin giữa người với người, giúp cho các mối quan hệ trở nên bền vững; góp phần tạo nên một xã hội công bằng, văn minh, bền vững; hạn chế những vấn đề tiêu cực như tham nhũng, gian lận trong thi cử, ứng tuyển,… + Thực trạng: Bên cạnh những người giữ gìn và đề cao đức tính trung thực thì tình trạng gian dối vẫn xuất hiện phổ biến: Học sinh quy cóp, gian lận trong thi cử; người kinh doanh buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; các ứng viên sử dụng giấy tờ giả để ứng tuyển trong công việc; một số người vì lợi ích cá nhân mà nói dối, lừa gạt người khác. + Nguyên nhân: Sự vị kỉ, mong muốn đạt được thứ mình mong cầu mà không nghĩ đến những hệ quả lâu dài; sự xuống cấp về mặt đạo đức xã hội;… + Hệ quả: Sự suy đồi về mặt đạo đức ngày càng lan rộng trong xã hội; các mối quan hệ giữa người với người ngày càng dễ đổ vỡ vì thiếu niềm tin;… + Giải pháp: Mỗi cá nhân cần có ý thức tự răn đe, tự tu sửa bản thân khi làm điều sai trái, chủ động rèn luyện phẩm chất trung thực; gia đình và xã hội cần chú trọng hơn vào việc bồi dưỡng lòng trung thực, khuyến khích, tôn vinh những người trung thực;… * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): - Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong bài văn. e. Sáng tạo (0,5 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2 (0,5 điểm) Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”. Câu 3 (1,0 điểm) - HS tóm tắt cốt truyện qua những sự kiện chính: + Sự kiện 1: Nhân vật “tôi” cùng Bá đi mua kẹo của bà Bảy Nhiêu với những tờ tiền giả. + Sự kiện 2: Bà Bảy Nhiêu bị trúng gió, qua đời. + Sự kiện 3: Nhân vật “tôi” cùng Bá đến viếng mộ bà Bảy Nhiêu, cầu mong bà tha thứ và tiếc nuối về sự việc đã qua. - HS nhận xét về cốt truyện của văn bản: Cốt truyện đơn tuyến, bao gồm những sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian tuyến tính. Câu 4 (1,0 điểm) Nội dung: Văn bản kể lại một lần lầm lỡ của nhân vật “tôi” khi lừa một bà cụ đáng thương, đơn độc, mù lòa. Qua câu chuyện ấy, tác giả thể hiện chân thực, sâu sắc nỗi niềm tiếc nuối của hai cậu bé năm xưa khi đã làm chuyện có lỗi với bà mà không có bất cứ cơ hội nào để bù đắp lại lỗi lầm. Từ đó, tác giả gửi đi một thông điệp sâu sắc trong cuộc sống: Hãy sống một cách trung thực, chân thành. Câu 5 (1,0 điểm) HS nêu cách hiểu của bản thân về câu văn: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.". (trình bày ngắn gọn khoảng 4 - 5 dòng) (Gợi ý: Câu văn nhấn mạnh rằng trong cuộc sống, có những sai lầm mà khi đã mắc phải, ta không thể quay lại để sửa chữa hay thay đổi. Điều này nhắc nhở mỗi người cần suy nghĩ kỹ trước khi hành động, trân trọng hiện tại và có trách nhiệm với quyết định của mình. Đồng thời, nó cũng khuyến khích ta rút kinh nghiệm từ quá khứ để sống tốt hơn trong tương lai.)
1)P=(1+x1)(x+11+x−11−x−12)
\(= \frac{\sqrt{x} + 1}{\sqrt{x}} . \frac{\sqrt{x} - 1 + \sqrt{x} + 1 - 2}{x - 1}\)
\(= \frac{\sqrt{x} + 1}{\sqrt{x}} . \frac{2 \left(\right. \sqrt{x} - 1 \left.\right)}{x - 1}\)
\(= \frac{2}{\sqrt{x}}\).
1)P=(1+x1)(x+11+x−11−x−12)
\(= \frac{\sqrt{x} + 1}{\sqrt{x}} . \frac{\sqrt{x} - 1 + \sqrt{x} + 1 - 2}{x - 1}\)
\(= \frac{\sqrt{x} + 1}{\sqrt{x}} . \frac{2 \left(\right. \sqrt{x} - 1 \left.\right)}{x - 1}\)
\(= \frac{2}{\sqrt{x}}\).