Nông Hoàng Linh Đan

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nông Hoàng Linh Đan
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Ta có \(B H \bot \&\text{nbsp}; A C\) nên \(\Delta A B H\) vuông tại \(H\).

Mà \(\hat{B A H} = 4 5^{\circ}\) nên \(\hat{A B H^{'}} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\).

Mặt khác \(\hat{A B D} \&\text{nbsp}; = \hat{A C D}\) (góc nội tiếp cùng chắn cung \(A D\)) nên \(\hat{A C D} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\). (1)

\(C K \&\text{nbsp}; \bot \&\text{nbsp}; A B\) nên \(\Delta A C K\) vuông tại \(K\).

Mà \(\hat{C A K} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\) nên \(\hat{A C K} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\). (2)

Từ (1) và (2) ta có \(\hat{D C E} \&\text{nbsp}; = 9 0^{\circ}\) nên \(D E\) là đường kính.

Vậy \(D\)\(O\)\(E\) thẳng hàng.

Vẽ đường kính \(A D\) của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\), suy ra \(\hat{A C D} = 9 0^{\circ}\) (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn).

Xét \(\Delta H B A\) và \(\Delta C D A\) có:

\(\hat{A H B} = \hat{A C D} = 9 0^{\circ}\);

\(\hat{H B A} = \hat{C D A}\) (góc nội tiếp cùng chắn AC⌢);

Do đó \(\Delta H B A \sim \Delta C D A\)

Suy ra \(\frac{A H}{A C} = \frac{A B}{A D}\) nên \(A B . A C = A D . A H\).

Mà \(A D = 2 R\).

Do đó \(A B . A C = 2 R . A H\).

Kẻ đường kính \(A E\) của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\).

loading...

Ta thấy \(\hat{A C E} = 9 0^{\circ}\) (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn).

Từ đó \(\hat{O A C} + \hat{A E C} = 9 0^{\circ}\) (1).

Theo giả thiết, ta có:

\(\hat{B A H} + \hat{A B C} = 9 0^{\circ}\) (2).

Mà \(\hat{A E C} = \hat{A B C}\) (cùng chắn AC⌢) (3).

Từ (1),(2) và (3) suy ra \(\hat{B A H} = \hat{O A C}\) (đpcm).


Đề tham khảo số 8 Bài GV giao Bài 1 (4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: GỬI QUÊ (Trích) Tôi lớn lên trong vành nôi của sóng Biển hát ru lúc mẹ bận trên đồng Vị muối mặn đã biến thành máu thịt Tôi bạn cùng cua cá với rêu rong Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học Sóng vỡ run run nét chữ đầu đời Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi Thổi không ngơi cơn gió sạm da người Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ Chim hải âu với cò bợ chung đàn. (Trần Văn Lợi, in trong Miền gió cát, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999, tr.9) * Chú thích: Trần Văn Lợi sinh năm 1976 tại Nam Định, là nhà giáo, nhà thơ. Những sáng tác của ông luôn thể hiện một tâm hồn phong phú, gắn bó sâu sắc với làng quê, miền hoài cổ, nuối tiếc với những vẻ đẹp đã qua. Một số tập thơ đã xuất bản của tác giả: Miền gió cát (2000), Lật mùa (2005), Bàn tay châu thổ (2010),… Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những vần được gieo trong văn bản trên. Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi Câu 4 (1,0 điểm). Chỉ ra những dòng thơ miêu tả không gian của quê hương, từ đó cho biết quê hương của nhân vật trữ tình hiện lên như thế nào? Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của văn bản, em hãy nêu suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. (Trình bày 5 – 7 dòng) Hướng dẫn giải: Câu 1 (0,5 điểm) – Thể thơ: Tám chữ. Câu 2 (0,5 điểm) – Những vần được gieo trong bài thơ: "ong" – "sóng", "đồng", "rong"; "oc" – "học", "nhọc"; "o" – "nhỏ", "ngõ". Câu 3 (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nhân hoá. – Tác dụng: Giúp hình ảnh quê hương hiện lên chân thực, sinh động và có hồn hơn. Ở đây, biện pháp tu từ nhân hoá không chỉ gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn của một vùng quê miền biển nghèo khó, thiếu thốn (Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc) mà còn thổi vào những sự vật của quê hương – lúa, ngô – hồn người biết khát khao, trăn trở, hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp. Câu 4 (1,0 điểm) – Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn. – Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình. Câu 5 (1,0 điểm) – Từ nội dung của bài thơ, ta thấy quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chôn rau cắt rốn mà còn lại nguồn cội nuôi dưỡng cả tâm hồn và thể chất mỗi con người. – Từ nội dung trên, học sinh nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Có thể theo hướng: Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm khó phai; là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người; giúp con người can đảm vượt ra mọi trở ngại trong cuộc sống;… Câu 1 (0,5 điểm) – Thể thơ: Tám chữ. Câu 2 (0,5 điểm) – Những vần được gieo trong bài thơ: "ong" – "sóng", "đồng", "rong"; "oc" – "học", "nhọc"; "o" – "nhỏ", "ngõ". Câu 3 (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nhân hoá. – Tác dụng: Giúp hình ảnh quê hương hiện lên chân thực, sinh động và có hồn hơn. Ở đây, biện pháp tu từ nhân hoá không chỉ gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn của một vùng quê miền biển nghèo khó, thiếu thốn (Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc) mà còn thổi vào những sự vật của quê hương – lúa, ngô – hồn người biết khát khao, trăn trở, hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp. Câu 4 (1,0 điểm) – Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn. – Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình. Câu 5 (1,0 điểm) – Từ nội dung của bài thơ, ta thấy quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chôn rau cắt rốn mà còn lại nguồn cội nuôi dưỡng cả tâm hồn và thể chất mỗi con người. – Từ nội dung trên, học sinh nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Có thể theo hướng: Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm khó phai; là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người; giúp con người can đảm vượt ra mọi trở ngại trong cuộc sống Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Thống kê điểm thi môn Lịch sử trong kì thi THPT Quốc gia từ năm 2017 – 2019 cho thấy: Năm 2019, có đến 70% số bài thi dưới 5 điểm, 4.3 là điểm trung bình môn, thấp nhất trong 9 môn thi. Điểm trung bình môn Lịch sử luôn thấp nhất trong mấy năm gần đây, năm 2017 là 4.6, năm 2018 là 3.79. Từ thực trạng trên, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) để đề xuất những giải pháp phù hợp để học sinh thêm yêu thích môn học này và nâng cao được điểm số trong các kì thi. Hướng dẫn giải: Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản ở phần Đọc hiểu. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Về nội dung: ++ Đề tài: Quê hương. ++ Chủ đề: Tình yêu, sự tri ân của một người con vùng biển nghèo dành cho quê hương. ++ Nội dung: Qua những hình ảnh mô tả không gian quê hương – một vùng quê miền biển nghèo khó, tác giả không chỉ thể hiện tình yêu sâu sắc dành cho quê hương mà còn thể hiện một cách thầm kín, cảm động sự tri ân, lòng biết ơn đối với quê hương mình. + Về nghệ thuật: ++ Hình ảnh miêu tả thiên nhiên bình dị, gần gũi, thân thuộc nhưng cũng đầy sức sống, gắn bó sâu sắc với cuộc sống của con người: Sóng vỡ run run nét chữ đầu đời là hình ảnh ẩn dụ cho thấy sự đồng hành của quê hương trong hành trình, học tập của mỗi đứa trẻ trên mảnh đất ấy. Hay như hình ảnh Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ vừa gợi lên sức mạnh của thiên nhiên, vừa cho thấy sự thân thiện của thiên nhiên, hoà quyện với đời sống con người. ++ Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị, giàu sức gợi hình, gợi cảm, phù hợp với vẻ đẹp bình dị của quê hương ven biển. ++ Các biện pháp tu từ được sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn vừa tạo nên những hình ảnh chân thực, sinh động về quê hương, vừa tạo ấn tượng với bạn đọc, kết hợp với nhịp thơ chậm rãi, uyển chuyển càng giúp lời thơ dễ chạm đến trái tim người đọc. => Sự kết hợp giữa những yếu tố trên góp phần tạo nên một bức tranh quê hương ven biển vừa chân thực, vừa giàu cảm xúc. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Đề xuất những giải pháp phù hợp để học sinh thêm yêu thích môn Lịch sử và nâng cao điểm số môn học này trong các kì thi. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Khái quát thực trạng của vấn đề: Điểm thi của môn Lịch sử nhiều năm đứng thấp nhất trong các môn thi. Điều này phần nào phản ánh thực trạng dạy Sử, học Sử trong các trường học hiện nay trong khi môn Sử cũng là một môn học quan trọng. + Lí giải nguyên nhân của vấn đề: ++ Từ phía chương trình: Nội dung còn khá nặng khiến giáo viên, học sinh cảm thấy áp lực, quá tải; một số bài được triển khai theo hướng tích hợp với môn Địa lý nên đôi khi cũng khiến giáo viên, học sinh gặp khó khăn khi tiếp cận;... ++ Từ phía giáo viên và nhà trường: Phương pháp dạy học chưa đổi mới, chưa tạo được sự hấp dẫn với người học, chưa ứng dụng được công nghệ vào giảng dạy,… ++ Từ phía học sinh: Lối học còn máy móc, chưa có ý thức tìm hiểu thêm về môn học, lối suy nghĩ học chỉ để phục vụ thi cử,… + Đề xuất các biện pháp giải quyết vấn đề: ++ Đối với nhà trường: Rút gọn, tinh giản những nội dung không trọng tâm; đưa Lịch sử đến gần hơn với đời sống của học sinh qua các hoạt động ngoại khoá;... ++ Đối với giáo viên: Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng khoa học, công nghệ vào quá trình dạy học,… ++ Đối với học sinh: Tự giác tìm hiểu thêm các kênh thông tin khác về Lịch sử qua các nguồn như Youtube, TikTok,… Học sinh có thể tham khảo các kênh như Đuốc Mồi, EZ Sử,…; chủ động tìm hiểu, soạn bài học trước khi lên lớp; tóm tắt bài học thành những sơ đồ để học tập hiệu quả hơn;… * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): – Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

Câu 1 (0,5 điểm) – Thể thơ: Tám chữ. Câu 2 (0,5 điểm) – Những vần được gieo trong bài thơ: "ong" – "sóng", "đồng", "rong"; "oc" – "học", "nhọc"; "o" – "nhỏ", "ngõ". Câu 3 (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nhân hoá. – Tác dụng: Giúp hình ảnh quê hương hiện lên chân thực, sinh động và có hồn hơn. Ở đây, biện pháp tu từ nhân hoá không chỉ gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn của một vùng quê miền biển nghèo khó, thiếu thốn (Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc) mà còn thổi vào những sự vật của quê hương – lúa, ngô – hồn người biết khát khao, trăn trở, hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp. Câu 4 (1,0 điểm) – Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn. – Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình. Câu 5 (1,0 điểm) – Từ nội dung của bài thơ, ta thấy quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chôn rau cắt rốn mà còn lại nguồn cội nuôi dưỡng cả tâm hồn và thể chất mỗi con người. – Từ nội dung trên, học sinh nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Có thể theo hướng: Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm khó phai; là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người; giúp con người can đảm vượt ra mọi trở ngại trong cuộc sống

Đề tham khảo số 7 Bài GV giao Bài 1 Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: CON CHIM QUÊN TIẾNG HÓT Bà nội tôi là kho chuyện đời xưa, mỗi đêm một chuyện cho đàn cháu nội, cháu ngoại, lũ nhỏ vây quanh bà trên bộ ván ngựa gỗ giữa nhà trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu. Chuyện này không phải là chuyện đời xưa. Chuyện của nhà mình nhưng lúc đó bà còn trẻ, tụi con chưa có, vậy cũng là chuyện đời xưa phải không? Đêm ấy, bà kể: – Ông tôi có nuôi một con nhồng. Con nhồng đẹp lạ lắm. Nó như một cô công chúa khoác chiếc áo choàng đen, ấy là bộ lông mượt mà của nó, từ mí mắt kéo đến cổ nó là một đường vàng hình lưỡi câu. Viền quanh cổ là một đường mầu trắng, như công chúa quấn qua cổ chiếc khăn bằng lông cừu, mỏ vàng và đôi chân cũng vàng. Ông tôi vốn là một thợ mộc, cho nên cái lồng của nó như một cái lâu đài. Con nhồng lúc nào cũng vui tươi, nhảy nhót trong chiếc lồng lộng lẫy treo trước hiên nhà. Vừa đẹp, lại vừa biết nói, nó là niềm vui của cả xóm, không chỉ cho trẻ con mà cho cả người lớn. Thấy có người thoáng qua, nó cất tiếng: "Chào khách.". Khi người dừng lại trước mặt nó, nó hỏi: "Khỏe không?". Ai hỏi gì thì nó dạ. Nó bắt chước giọng ông, nó gọi bà: "Em ơi, em!". Nó bắt chước giọng bà, nó gọi ông: "Anh ơi, anh!". Trong nhà đang nói chuyện, bỗng chợt nghe tiếng cười, nó cười: "Khậc khậc." y như giọng cười của ông. Thỉnh thoảng nó lại cất tiếng: "Thôi, thôi thôi!" nghe như lời can gián thiết tha của một cô gái. – Khách ! – Ngồi trong nhà nghe nó nói, biết là có khách sắp vào nhà. Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt. Thò mỏ gắp trái ớt, nó mừng nó nhảy. Trong nhà ai cũng dạy nó tiếng nói lịch sự, lễ phép. Nhưng hình như bấy nhiêu tiếng đó, nghe hoài cũng nhàm, bớt vui. Chẳng biết đứa nhỏ nào cắc cớ dạy thêm cho nó vài tiếng chửi cục cằn: "Đồ đểu, cút, cút đi!". Ngày đầu, nghe những tiếng lạ lùng đó, bọn nhỏ vỗ tay và nó được nhiều ớt hơn mọi ngày. Nhỏ vui đã đành, người lớn cũng vui... Nghe nó chưởi: "Đồ đểu!" người nghe không nghĩ là mình đểu nên chẳng ai giận, nghe nó bảo: "Cút, cút!" người ta không cút mà cười và lại thưởng cho nó ớt ngon hơn, nhiều hơn. Nó nói riết thành quen không ai để ý nó quên tiếng hót từ lúc nào. Bỗng một hôm có một chiếc xe hơi đậu lại trước nhà. Quan huyện từ trong xe bước ra. Một người to lớn bệ vệ trong bộ đồ tây trắng, cà vạt đỏ, giày đen. Quan huyện đến để đặt ông đóng nhái bộ salon thời Louis. Đã là quan thì phải oai quyền, trước mặt ai, không chào không hỏi. Quan huyện vào tới cửa thì con nhồng cất tiếng: – Đồ đểu! Quan huyện giật mình: – Đồ đểu! Đồ đểu! Thấy quan huyện không thưởng cho nó trái ớt, nó lại cất tiếng: – Đồ đểu! Đồ đểu! Quan huyện trợn tròn hai con mắt. Ông tôi thấy vậy sợ điếng, vội cúi rạp mình rước quan vào. Ông liếc nhìn bà. Hiểu ý ông, bà rối rít mời quan ngồi, rót nước mời quan uống. Đang chào đang hỏi khách, bà bỗng nghe bên ngoài có tiếng đánh "bốp" một cái. Bà bước ra, bà thấy con chim bị ông đập vào cây cột, nát đầu. Trên thân cột còn một đốm máu bê bết, còn con nhồng thì nằm dưới đất như một miếng giẻ rách đen. Chẳng biết ông sợ hay ông giận, bà chỉ nghe ông lẩm bẩm: – Không! Nó bảo "Cút đi!" thì nhà này chỉ có chết. Thương con nhồng, bà tôi quỳ xuống trước cái xác của nó. Chẳng biết lúc ấy bà tôi đau đớn thế nào, bây giờ trong ánh đèn dầu, tôi thấy hai giọt nước mắt của bà. Con chim chết, hết chuyện, bọn tôi có đứa thò chân xuống đất, bà đưa tay kéo lại. Và sau câu chuyện bao giờ bà cũng rút lời răn dạy: – Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con! (Nguyễn Quang Sáng, NXB Văn học) Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản được kể theo ngôi kể nào? Việc lựa chọn ngôi kể này có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề của văn bản? Câu 2 (0,5 điểm). Hãy tìm một chi tiết trong truyện thể hiện sự yêu quý của mọi người dành cho con nhồng. Câu 3 (1,0 điểm). Câu văn sau sử dụng cách dẫn trực tiếp hay gián tiếp? Dấu hiệu nào giúp em nhận ra điều đó? Thỉnh thoảng nó lại cất tiếng: "Thôi, thôi thôi!" nghe như lời can gián thiết tha của một cô gái. Câu 4 (1,0 điểm). Theo em qua câu chuyện về con nhồng, tác giả muốn gửi đến người đọc bài học gì? Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng ý với lời dặn của người bà ở cuối truyện không? Vì sao? Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con! Hướng dẫn giải: Câu 1 (0,5 điểm). – Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật “tôi” là người kể chuyện. – Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất giúp cho câu chuyện trở nên chân thực hơn, người đọc cảm thấy như đang trực tiếp tham gia vào câu chuyện. Không chỉ thế, việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất còn giúp người kể chuyện – nhân vật “tôi” dễ dàng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ của mình xoay quanh những sự việc được kể. Lựa chọn ngôi kể thứ nhất cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nổi bật bài học sâu sắc về lời ăn tiếng nói trong cuộc sống – chủ đề của đoạn trích này. Câu 2 (0,5 điểm). Một chi tiết trong truyện thể hiện sự yêu quý của mọi người dành cho con nhồng: Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt. Câu 3 (1,0 điểm). – Cách dẫn trực tiếp. – Dấu hiệu: + Người viết trích nguyên văn lời nói của con nhồng. + Lời nói được đặt vào dấu ngoặc kép. Câu 4 (1,0 điểm). – Qua câu chuyện, tác giả Nguyễn Quang Sáng gửi gắm bài học sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói. – Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng lời nói không chỉ thể hiện suy nghĩ mà còn có thể gây ra hậu quả. Con nhồng vô tư lặp lại những lời người khác dạy mà không nhận thức được ý nghĩa, dẫn đến tai họa. Điều này nhắc nhở ta không nên nói theo người khác một cách thiếu suy nghĩ. – Từ đó, mỗi người cần cân nhắc trước khi nói, chỉ nói những điều đúng đắn, tránh a dua hay bắt chước vô ý thức. – Đây là những bài học có ý nghĩa bởi nó giúp ta có những nhận thức đúng đắn hơn về giá trị của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có những hành động đúng đắn giúp cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp. – Thiết nghĩ bài học này không chỉ có ý nghĩa với cá nhân mỗi người mà còn hữu ích với tất cả cộng đồng, cả xã hội. Câu 5 (1,0 điểm). – Trong truyện ngắn “Con chim quên tiếng hót”, ở phần cuối truyện, người bà đã dặn các cháu của mình rằng: “Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!”. – Tôi hoàn toàn đồng ý với lời dặn của người bà bởi đây là một lời khuyên sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói. – Trước hết, lời dặn này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nhận thức trong giao tiếp. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, giống như con nhồng vì lặp lại lời người khác mà phải nhận lấy cái chết oan uổng. – Nếu chúng ta cẩn trọng trong lời nói, chỉ nói khi thực sự hiểu rõ, thì sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc, đồng thời xây dựng được lòng tin trong giao tiếp. Mọi người sẽ tôn trọng và lắng nghe những lời nói có suy nghĩ, từ đó tạo ra môi trường giao tiếp lành mạnh. – Ngược lại, nếu ta chỉ nói theo người khác mà không suy xét, ta có thể vô tình gây tổn thương cho người khác hoặc tự rước họa vào thân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây bất ổn trong xã hội, tạo nên những hiểu lầm, xung đột không đáng có. – Vậy nên, mỗi người cần suy nghĩ trước khi phát ngôn, không nói những điều chưa rõ đúng sai. Sự cẩn trọng trong lời nói không chỉ giúp ta tránh sai lầm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và hiểu biết hơn. Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này Công thức Câu 1 (0,5 điểm). – Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật “tôi” là người kể chuyện. – Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất giúp cho câu chuyện trở nên chân thực hơn, người đọc cảm thấy như đang trực tiếp tham gia vào câu chuyện. Không chỉ thế, việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất còn giúp người kể chuyện – nhân vật “tôi” dễ dàng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ của mình xoay quanh những sự việc được kể. Lựa chọn ngôi kể thứ nhất cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nổi bật bài học sâu sắc về lời ăn tiếng nói trong cuộc sống – chủ đề của đoạn trích này. Câu 2 (0,5 điểm). Một chi tiết trong truyện thể hiện sự yêu quý của mọi người dành cho con nhồng: Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt. Câu 3 (1,0 điểm). – Cách dẫn trực tiếp. – Dấu hiệu: + Người viết trích nguyên văn lời nói của con nhồng. + Lời nói được đặt vào dấu ngoặc kép. Câu 4 (1,0 điểm). – Qua câu chuyện, tác giả Nguyễn Quang Sáng gửi gắm bài học sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói. – Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng lời nói không chỉ thể hiện suy nghĩ mà còn có thể gây ra hậu quả. Con nhồng vô tư lặp lại những lời người khác dạy mà không nhận thức được ý nghĩa, dẫn đến tai họa. Điều này nhắc nhở ta không nên nói theo người khác một cách thiếu suy nghĩ. – Từ đó, mỗi người cần cân nhắc trước khi nói, chỉ nói những điều đúng đắn, tránh a dua hay bắt chước vô ý thức. – Đây là những bài học có ý nghĩa bởi nó giúp ta có những nhận thức đúng đắn hơn về giá trị của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có những hành động đúng đắn giúp cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp. – Thiết nghĩ bài học này không chỉ có ý nghĩa với cá nhân mỗi người mà còn hữu ích với tất cả cộng đồng, cả xã hội. Câu 5 (1,0 điểm). – Trong truyện ngắn “Con chim quên tiếng hót”, ở phần cuối truyện, người bà đã dặn các cháu của mình rằng: “Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!”. – Tôi hoàn toàn đồng ý với lời dặn của người bà bởi đây là một lời khuyên sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói. – Trước hết, lời dặn này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nhận thức trong giao tiếp. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, giống như con nhồng vì lặp lại lời người khác mà phải nhận lấy cái chết oan uổng. – Nếu chúng ta cẩn trọng trong lời nói, chỉ nói khi thực sự hiểu rõ, thì sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc, đồng thời xây dựng được lòng tin trong giao tiếp. Mọi người sẽ tôn trọng và lắng nghe những lời nói có suy nghĩ, từ đó tạo ra môi trường giao tiếp lành mạnh. – Ngược lại, nếu ta chỉ nói theo người khác mà không suy xét, ta có thể vô tình gây tổn thương cho người khác hoặc tự rước họa vào thân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây bất ổn trong xã hội, tạo nên những hiểu lầm, xung đột không đáng có. – Vậy nên, mỗi người cần suy nghĩ trước khi phát ngôn, không nói những điều chưa rõ đúng sai. Sự cẩn trọng trong lời nói không chỉ giúp ta tránh sai lầm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và hiểu biết hơn. Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Viết một bài văn bàn về vấn đề trách nhiệm của tuổi trẻ trước thực trạng nguồn nước sạch đang dần cạn kiệt. Hướng dẫn giải: Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: *Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận. *Thân đoạn: Phân tích nghệ thuật kể chuyện: + Truyện ngắn Con chim quên tiếng hót được kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện là đứa cháu trong gia đình, nghe bà kể lại câu chuyện về con chim nhồng. Việc lựa chọn ngôi kể này giúp câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực, tạo sự kết nối giữa người đọc và nhân vật. + Hơn thế nữa, ngôn ngữ kể chuyện trong sáng, giản dị nhưng lại vô cùng tinh tế là một trong những yếu tố quan trọng giúp câu chuyện trở nên lôi cuốn. Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng nhiều hình ảnh so sánh sinh động, giúp người đọc dễ dàng hình dung vẻ đẹp của con nhồng và diễn biến câu chuyện. Cách kể chuyện mang đậm chất dân gian, với việc lồng ghép những câu thoại ngắn gọn, tự nhiên, khiến câu chuyện mang hơi thở đời thường, dễ dàng đi vào lòng người. + Một trong những điểm sáng của truyện là nghệ thuật xây dựng tình huống đầy bất ngờ và cao trào. Ban đầu, câu chuyện diễn ra trong không khí vui vẻ, con chim nhồng thông minh, lém lỉnh mang lại niềm vui cho mọi người. Nhưng đến khi nó học theo lời chửi bậy và vô tình thốt ra trước mặt quan huyện, tình huống ngay lập tức thay đổi, đẩy câu chuyện lên cao trào với hành động giết chim của ông nội. Sự chuyển biến đột ngột này không chỉ tạo kịch tính mà còn khiến người đọc phải suy ngẫm về bài học được gửi gắm. + Ngoài ra, chi tiết đặc sắc nhất trong truyện chính là hình ảnh con chim nhồng bị ông nội giết chết. Đây là chi tiết “đắt giá” nhất, thể hiện rõ nỗi sợ hãi của con người trước quyền lực và sự nghiệt ngã của số phận. Hình ảnh đốm máu trên cây cột và cái xác chim nhồng như một miếng giẻ rách đen đã tạo nên một ám ảnh mạnh mẽ, làm bật lên sự tàn nhẫn của xã hội cũ, nơi mà con người buộc phải im lặng, hi sinh để bảo toàn tính mạng. *Kết đoạn: Khẳng định lại và nêu ý nghĩa của vấn đề + Có thể nói rằng, một trong những yếu tố làm nên sự thành công của truyện ngắn Con chim quên tiếng hót chính là nghệ thuật kể chuyện độc đáo, đầy sức gợi. + Qua đó, Nguyễn Quang Sáng không chỉ phê phán sự áp đặt và bất công của xã hội mà còn nhắn nhủ một bài học sâu sắc: Hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng chỉ nhắc lại vô thức những gì người khác dạy mà không suy xét, vì điều đó có thể dẫn đến những hậu quả không ngờ. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Trách nhiệm của tuổi trẻ trước thực trạng nguồn nước sạch đang dần cạn kiệt. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích và nêu biểu hiện: ++ Nước sạch là nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh, không chứa các chất độc hại và an toàn cho con người sử dụng trong sinh hoạt, sản xuất và nông nghiệp. + Tuy nhiên, nguồn nước sạch đang dần cạn kiệt với nhiều biểu hiện đáng lo ngại. Tại nhiều vùng trên thế giới, hạn hán kéo dài khiến các con sông và hồ nước cạn kiệt. ++ Đồng thời, ô nhiễm môi trường nước từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt khiến chất lượng nước giảm sút nghiêm trọng. Những hình ảnh dòng nước đục ngầu, bọt hóa chất nổi trắng hay những con cá chết hàng loạt đã trở thành nỗi ám ảnh của thời hiện đại. + Vai trò của nước sạch và hậu quả khi nguồn nước sạch cạn kiệt: ++ Nước sạch đóng vai trò thiết yếu trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Con người không thể sống mà không có nước, bởi nước tham gia vào các hoạt động cơ bản như uống, tắm rửa, nấu ăn, và sản xuất. Cây cối, động vật cũng phụ thuộc hoàn toàn vào nước để sinh tồn. Nước còn là nền tảng của các hệ sinh thái và chuỗi thức ăn. ++ Thế nhưng, khi nguồn nước sạch cạn kiệt, những hậu quả nghiêm trọng sẽ xảy ra. Hạn hán, mất mùa, bệnh tật lây lan từ nguồn nước ô nhiễm và xung đột tranh chấp nguồn nước là những vấn đề hiện hữu. Các dự báo cho thấy, nếu không có giải pháp cấp thiết, nhân loại có thể đối mặt với một cuộc khủng hoảng nước trong tương lai không xa. + Giới trẻ đang ứng xử với vấn đề như thế nào? (Thực trạng, nguyên nhân, quan điểm trái chiều, hậu quả) ++ Đáng tiếc thay, nhiều bạn trẻ hiện nay vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề nguồn nước sạch. Trong cuộc sống hàng ngày, không ít người có thói quen lãng phí nước, như để vòi nước chảy liên tục khi rửa tay hay rửa xe. Một số bạn trẻ còn vô ý thức xả rác, thải hóa chất trực tiếp xuống sông, hồ, gây ô nhiễm nguồn nước. ++ Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thờ ơ này là do các bạn chưa nhận thức được vai trò của nước sạch đối với đời sống. ++ Một số người vẫn mang quan niệm rằng nước là tài nguyên vô tận, “mùa mưa là nước đầy, không sợ thiếu”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nguồn nước ngọt trên Trái Đất chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước, trong đó, phần lớn tồn tại dưới dạng băng hoặc nằm sâu trong lòng đất, rất khó tiếp cận. ++ Nếu tiếp tục giữ quan điểm sai lầm và thờ ơ với vấn đề này, giới trẻ sẽ góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng cạn kiệt nguồn nước. + Trách nhiệm của tuổi trẻ: ++ Nâng cao nhận thức để giới trẻ hiểu được tầm quan trọng của nước sạch, các hoạt động tuyên truyền cần được đẩy mạnh hơn nữa thông qua trường học, mạng xã hội, và các chương trình cộng đồng. ++ Sử dụng nước một cách tiết kiệm. ++ Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. ++ Kiến nghị và thực hiện các dự án sáng tạo. => Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp này, chúng ta sẽ thấy những kết quả tích cực. Không chỉ môi trường sống được cải thiện mà ý thức cộng đồng cũng được nâng cao. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): – Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

Đề tham khảo số 6 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau: Có một miền quê (Vũ Tuấn) Có một miền mọc trắng cỏ Lau Là quê tôi, đi xa rồi luôn nhớ Khắc khoải trong tim, bồi hồi nhịp thở Mong trở về nghe khúc hát mẹ ru. Có một miền, Lau mọc trắng vần thơ Là quê hương, cha ngày đêm mong đợi Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng. Có một miền cho ngô lúa đơm bông Hạt gạo thảo thơm, vai gầy của mẹ Như cánh cò thân thương nhỏ bé Vất vả tảo tần, trong nắng, trong mưa… Có một miền mà khi tôi đi xa Luôn muốn về, những trưa hè yên ả Bát chè xanh, thắm tình quê vất vả Mẹ gánh cuộc đời, xộc xệch thời gian... Có một miền tôi chẳng thể nào quên Quê nội thân thương như bàn tay chai sạn Khóe mắt nồng cay, trong chiều chạng vạng Ơi quê nhà! Tôi gọi mãi trong tim... (In trong tập Quê hương trong tôi, Vũ Tuấn, NXB Văn Học, 2021, trang 48) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Chủ đề của bài thơ là gì? Câu 2 (0,5 điểm). Trong bài thơ, hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh nào? Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền” được sử dụng trong bài thơ. Câu 4 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ sau? Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng. Câu 5 (1,0 điểm). Từ thông điệp của bài thơ, em hãy viết một đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng trả lời câu hỏi: Người trẻ cần có trách nhiệm gì với quê hương, đất nước? Hướng dẫn giải: Câu 1 (0,5 điểm) Chủ đề của bài thơ: Tình cảm gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ da diết dành cho quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có cha mẹ và là nơi lưu giữ những ký ức thân thương. Câu 2 (0,5 điểm) Hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh: Cỏ lau trắng, khúc hát mẹ ru, những cánh đồng, hạt gạo thảo thơm, ngô lúa đơm bông, cánh cò, bát chè xanh,… (Học sinh cần tìm được tối thiểu 04 hình ảnh) Câu 3 (1,0 điểm) Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền”: – Nhấn mạnh sự tồn tại vĩnh cửu của quê hương trong tâm trí của người con xa quê. – Nhấn mạnh tình yêu thương, niềm nhớ da diết của “tôi” dành cho quê hương. – Tạo nên sự liên kết, mạch lạc giữa các khổ thơ. – Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho các dòng thơ. Câu 4 (1,0 điểm) Ý nghĩa của hai dòng thơ: – “Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi”: Thể hiện sự vất vả, lam lũ của người cha. “Áo bạc sờn” là hình ảnh gợi sự mệt mỏi, tần tảo trong công việc đồng áng. – “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng”: Nhấn mạnh sự gian khổ, nhọc nhằn mà cha phải trải qua để nuôi con lớn khôn. Hình ảnh mồ hôi của cha tuôn như mưa “mặn cả những cánh đồng” cho thấy hình ảnh người cha bán mặt cho đất bán lưng cho trời đã cực nhọc nhiều năm. – Hai dòng thơ không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh người cha hay công việc lao động vất vả của cha mà qua đó còn ẩn ý về tình thương của cha dành cho con. Đặc biệt, những lời thơ dạt dào cảm xúc cũng chính là tình cảm thương yêu, kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của người con dành cho cha. Câu 5 (1,0 điểm) – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Bàn về vấn đề: Người trẻ cần có trách nhiệm gì với quê hương, đất nước? + Người trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước trong thời đại nhiều biến động thông qua những hành động thiết thực như: giữ gìn bản sắc văn hóa, có lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thông qua những hoạt động tuyên truyền,… + Người trẻ còn cần phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, làm giàu cho quê hương và đất nước bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. + … Câu 1 (0,5 điểm) Chủ đề của bài thơ: Tình cảm gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ da diết dành cho quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có cha mẹ và là nơi lưu giữ những ký ức thân thương. Câu 2 (0,5 điểm) Hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh: Cỏ lau trắng, khúc hát mẹ ru, những cánh đồng, hạt gạo thảo thơm, ngô lúa đơm bông, cánh cò, bát chè xanh,… (Học sinh cần tìm được tối thiểu 04 hình ảnh) Câu 3 (1,0 điểm) Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền”: – Nhấn mạnh sự tồn tại vĩnh cửu của quê hương trong tâm trí của người con xa quê. – Nhấn mạnh tình yêu thương, niềm nhớ da diết của “tôi” dành cho quê hương. – Tạo nên sự liên kết, mạch lạc giữa các khổ thơ. – Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho các dòng thơ. Câu 4 (1,0 điểm) Ý nghĩa của hai dòng thơ: – “Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi”: Thể hiện sự vất vả, lam lũ của người cha. “Áo bạc sờn” là hình ảnh gợi sự mệt mỏi, tần tảo trong công việc đồng áng. – “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng”: Nhấn mạnh sự gian khổ, nhọc nhằn mà cha phải trải qua để nuôi con lớn khôn. Hình ảnh mồ hôi của cha tuôn như mưa “mặn cả những cánh đồng” cho thấy hình ảnh người cha bán mặt cho đất bán lưng cho trời đã cực nhọc nhiều năm. – Hai dòng thơ không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh người cha hay công việc lao động vất vả của cha mà qua đó còn ẩn ý về tình thương của cha dành cho con. Đặc biệt, những lời thơ dạt dào cảm xúc cũng chính là tình cảm thương yêu, kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của người con dành cho cha. Câu 5 (1,0 điểm) – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Bàn về vấn đề: Người trẻ cần có trách nhiệm gì với quê hương, đất nước? + Người trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước trong thời đại nhiều biến động thông qua những hành động thiết thực như: giữ gìn bản sắc văn hóa, có lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thông qua những hoạt động tuyên truyền,… + Người trẻ còn cần phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, làm giàu cho quê hương và đất nước bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trong hai khổ thơ sau: Có một miền cho ngô lúa đơm bông Hạt gạo thảo thơm, vai gầy của mẹ Như cánh cò thân thương nhỏ bé Vất vả tảo tần, trong nắng, trong mưa… Có một miền mà khi tôi đi xa Luôn muốn về, những trưa hè yên ả Bát chè xanh, thắm tình quê vất vả Mẹ gánh cuộc đời, xộc xệch thời gian... Câu 2 (4,0 điểm). Trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, nhiều người – đặc biệt là giới trẻ – dễ dàng buông lời xúc phạm, mỉa mai, châm chọc người khác trên các nền tảng trực tuyến. Tình trạng “bạo lực ngôn từ” đang để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về tâm lý, đặc biệt với học sinh. Từ những hiểu biết của bản thân, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bàn về tác hại của “bạo lực ngôn từ” và những giải pháp để hạn chế tình trạng này. Hướng dẫn giải: Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trong hai khổ thơ 3 và 4 ở phần đọc hiểu. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Thể thơ tám chữ, có xen những dòng thơ bảy chữ giúp tác giả bộc lộ tình cảm sâu nặng dành cho quê hương xứ sở. + Hình ảnh thơ gần gũi, bình dị gợi nhắc đến quê hương: ngô lúa đơm bông, hạt gạo thảo thơm, cánh cò, trưa hè yên ả, bát chè xanh,… Không gian được mở rộng với khung cảnh thân thuộc, chất chứa đầy niềm thương, nỗi nhớ. + Các biện pháp tu từ so sánh, liệt kê,… được kết hợp hài hòa tạo nên những tầng nghĩa sâu sắc, gợi hình, gợi cảm. + … d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Bàn về tác hại của “bạo lực ngôn từ” và những giải pháp để hạn chế tình trạng này. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: “Bạo lực ngôn từ” là việc dùng lời lẽ xúc phạm, miệt thị, châm chọc, đe dọa hoặc làm tổn thương người khác thông qua các bình luận, tin nhắn, bài viết… trên các nền tảng trực tuyến. + Thực trạng: ++) Xuất hiện phổ biến trên Facebook, TikTok, YouTube, Instagram,… ++) Các hành vi điển hình: body-shaming (miệt thị ngoại hình), dùng từ ngữ tục tĩu, chửi bới, bình luận ác ý dưới bài viết, video,… ++) Nạn nhân không chỉ là người nổi tiếng mà cả học sinh, bạn bè cùng lớp. ++) ... + Nguyên nhân: ++) Người dùng ẩn danh, không bị kiểm soát nên dễ buông lời vô ý thức. ++) Thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc, dễ hùa theo đám đông. ++) Thiếu giáo dục về văn hóa ứng xử trên mạng. ++) Thói ích kỉ, ganh ghét với người khác, muốn hạ hệ họ. + Tác hại: ++) Đối với nạn nhân: Tổn thương tinh thần, mất tự tin, trầm cảm,..; ảnh hưởng đến kết quả học tập và các mối quan hệ xã hội;… ++) Đối với cộng đồng mạng: Tạo ra môi trường độc hại, căng thẳng, mất đi tính tích cực của mạng xã hội; lan truyền sự thù ghét, thiếu lòng cảm thông giữa người với người;… ++) Đối với bản thân của người thực hiện hành vi “bạo lực ngôn từ”: Hình thành thói quen xấu, mất đi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp; tiêu cực hóa mọi vấn đề; mất đi sự tin tưởng, yêu thương của người khác nếu hành vi bị phát giác;… + Giải pháp: ++) Mỗi cá nhân cần suy nghĩ trước khi bình luận, học cách tôn trọng người khác. ++) Nhà trường, gia đình cần giáo dục học sinh về văn hóa ứng xử trên mạng từ sớm. ++) Mạng xã hội cần có quy định xử lý bình luận độc hại, công cụ lọc ngôn từ thù ghét. ++) Khuyến khích tạo môi trường mạng lành mạnh, chia sẻ tích cực. + Lật lại vấn đề: Trong một vài trường hợp, bạo lực ngôn từ có thể chỉ là sự phản kháng, đấu tranh chống lại cái xấu, cái sai trong xã hội. Nếu không có những lời chỉ trích, không có những phát ngôn mạnh mẽ, liệu có thể thay đổi được những vấn đề như lừa đảo, tham nhũng, sống ảo,… hay những bất công xã hội hay không?

Câu 1 (0,5 điểm) Chủ đề của bài thơ: Tình cảm gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ da diết dành cho quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có cha mẹ và là nơi lưu giữ những ký ức thân thương. Câu 2 (0,5 điểm) Hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh: Cỏ lau trắng, khúc hát mẹ ru, những cánh đồng, hạt gạo thảo thơm, ngô lúa đơm bông, cánh cò, bát chè xanh,… (Học sinh cần tìm được tối thiểu 04 hình ảnh) Câu 3 (1,0 điểm) Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền”: – Nhấn mạnh sự tồn tại vĩnh cửu của quê hương trong tâm trí của người con xa quê. – Nhấn mạnh tình yêu thương, niềm nhớ da diết của “tôi” dành cho quê hương. – Tạo nên sự liên kết, mạch lạc giữa các khổ thơ. – Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho các dòng thơ. Câu 4 (1,0 điểm) Ý nghĩa của hai dòng thơ: – “Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi”: Thể hiện sự vất vả, lam lũ của người cha. “Áo bạc sờn” là hình ảnh gợi sự mệt mỏi, tần tảo trong công việc đồng áng. – “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng”: Nhấn mạnh sự gian khổ, nhọc nhằn mà cha phải trải qua để nuôi con lớn khôn. Hình ảnh mồ hôi của cha tuôn như mưa “mặn cả những cánh đồng” cho thấy hình ảnh người cha bán mặt cho đất bán lưng cho trời đã cực nhọc nhiều năm. – Hai dòng thơ không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh người cha hay công việc lao động vất vả của cha mà qua đó còn ẩn ý về tình thương của cha dành cho con. Đặc biệt, những lời thơ dạt dào cảm xúc cũng chính là tình cảm thương yêu, kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của người con dành cho cha. Câu 5 (1,0 điểm) – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Bàn về vấn đề: Người trẻ cần có trách nhiệm gì với quê hương, đất nước? + Người trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước trong thời đại nhiều biến động thông qua những hành động thiết thực như: giữ gìn bản sắc văn hóa, có lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thông qua những hoạt động tuyên truyền,… + Người trẻ còn cần phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, làm giàu cho quê hương và đất nước bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống hàng ngày.

Đề tham khảo số 5 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau: Mắt người Sơn Tây Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì. Vừng trán em vương trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ em nhớ thương? Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ Em có bao giờ lệ chứa chan. Mẹ tôi em có gặp đâu không Những xác già nua ngập cánh đồng Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông. Đôi mắt người Sơn Tây U uẩn chiều lưu lạc Buồn viễn xứ khôn khuây Tôi gửi niềm nhớ thương Em mang giùm tôi nhé Ngày trở lại quê hương Khúc hoàn ca rớm lệ. Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng. Bao giờ tôi gặp em lần nữa Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ Em có bao giờ em nhớ ta? (Quang Dũng, Tuyển tập Quang Dũng, NXB Văn học, 2000) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ. Câu 2 (0,5 điểm). Xác định những từ ngữ/ dòng thơ dùng để miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5. Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài thơ. Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong hai dòng thơ sau: Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ em nhớ thương? Câu 5 (1,0 điểm). Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày về một thông điệp sâu sắc bài thơ đã gợi ra cho em. Hướng dẫn giải: I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Tôi – người con trai đi lính. Câu 2 (0,5 điểm) Những từ ngữ/ dòng thơ dùng để miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5: U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây/ Khúc hoàn ca rớm lệ. Câu 3 (1,0 điểm) Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài thơ: – Yêu mến cảnh đẹp quê hương, ấn tượng về đôi mắt người Sơn Tây, mong ước đất nước sẽ sớm trở lại khung cảnh yên bình, dẫu cho ngày đó vẫn còn xa. – Yêu quê hương một cách chân thành và sâu nặng, sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh gian khổ để đứng lên cầm súng bảo vệ quê hương, với tâm hồn bay bổng, lãng mạn của tuổi trẻ. Câu 4 (1,0 điểm) – Câu hỏi tu từ: Em có bao giờ em nhớ thương? – Hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ: + Bộc lộ cảm xúc nhớ nhung, yêu mến và hi vọng vào tình cảm của cô gái dành cho xứ Đoài, dành cho nhân vật trữ tình. + Tạo âm hưởng da diết, thiết tha cho câu thơ, tăng tính tạo hình, biểu cảm cho cách diễn đạt. + Thể hiện tình yêu thương, niềm trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của quê hương, của những con người trong kháng chiến. Câu 5 (1,0 điểm). Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày về một thông điệp sâu sắc bài thơ đã gợi ra cho em. – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày về một thông điệp sâu sắc của bài thơ. + Tình yêu quê hương, ý thức xây dựng đất nước giàu mạnh bền vững. + Trân trọng cuộc sống hòa bình, trân quý những điều bình dị trong cuộc sống đời thường. + … Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Tôi – người con trai đi lính. Câu 2 (0,5 điểm) Những từ ngữ/ dòng thơ dùng để miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5: U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây/ Khúc hoàn ca rớm lệ. Câu 3 (1,0 điểm) Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài thơ: – Yêu mến cảnh đẹp quê hương, ấn tượng về đôi mắt người Sơn Tây, mong ước đất nước sẽ sớm trở lại khung cảnh yên bình, dẫu cho ngày đó vẫn còn xa. – Yêu quê hương một cách chân thành và sâu nặng, sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh gian khổ để đứng lên cầm súng bảo vệ quê hương, với tâm hồn bay bổng, lãng mạn của tuổi trẻ. Câu 4 (1,0 điểm) – Câu hỏi tu từ: Em có bao giờ em nhớ thương? – Hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ: + Bộc lộ cảm xúc nhớ nhung, yêu mến và hi vọng vào tình cảm của cô gái dành cho xứ Đoài, dành cho nhân vật trữ tình. + Tạo âm hưởng da diết, thiết tha cho câu thơ, tăng tính tạo hình, biểu cảm cho cách diễn đạt. + Thể hiện tình yêu thương, niềm trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của quê hương, của những con người trong kháng chiến. Câu 5 (1,0 điểm). Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày về một thông điệp sâu sắc bài thơ đã gợi ra cho em. – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày về một thông điệp sâu sắc của bài thơ. + Tình yêu quê hương, ý thức xây dựng đất nước giàu mạnh bền vững. + Trân trọng cuộc sống hòa bình, trân quý những điều bình dị trong cuộc sống đời thường. Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật mà em ấn tượng nhất trong bài thơ “Mắt người Sơn Tây” ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Có ý kiến cho rằng “Càng lún sâu vào đố kị, người ta sẽ đánh mất đi lòng tôn nghiêm và giá trị của bản thân.”. Từ góc nhìn của bản thân, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bày tỏ ý kiến về tác hại của lòng đố kị và giải pháp loại bỏ thói quen xấu này. Hướng dẫn giải: II. PHẦN VIẾT Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): – Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. – Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật mà em ấn tượng nhất trong bài thơ “Mắt người Sơn Tây”. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Hình ảnh “đôi mắt”: Từ tựa đề cho đến dòng kết thúc, hầu như, hình ảnh “đôi mắt” của “người Sơn Tây” luôn có một vị trí quan trọng, tạo thành một mạch liên kết xuyên suốt tác phẩm. Nó không được lặp lại theo kiểu nguyên dạng như nghệ thuật điệp từ. Nhưng được nhấn đi nhấn lại bởi những từ ngữ cùng trường nghĩa. Để rồi sau mỗi khổ thơ, ý nghĩa của hình ảnh này có một giá trị mới đối với việc tạo thông điệp cho tác phẩm. + Tính nhạc: Trong khuôn khổ bài thơ bảy chữ, tác giả khéo léo tạo nên sự bổng trầm của thanh điệu, độ mở của âm tiết và ngắt nhịp đăng đối. Nghệ thuật phối thanh, gieo vần, cách tổ chức nhịp điệu tạo nên âm hưởng của bài thơ. + Ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm: ++) Vừng trán em vương trời quê hương, mắt em dìu dịu buồn Tây Phương xứ Đoài mây trắng: Gợi hình ảnh quê hương gần gũi, thân thuộc, nhưng chứa đựng nhiều nỗi đau, xót xa, u uất,… ++) Hoang bóng giặc, điêu tàn thôi lại nối điêu tàn, những xác già nua ngập cánh đồng: Phản ánh tội ác của giặc, cho thấy sự mất mát, đau thương của nhân dân và bộc lộ nỗi niềm xót xa của tác giả. ++) … d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Bày tỏ ý kiến về tác hại của lòng đố kị và giải pháp loại bỏ thói quen xấu này. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): – Xác định được các ý chính của bài viết. – Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: Đố kị là việc mỗi người không bằng lòng với những gì bản thân mình đang có; nhòm ngó, có thái độ ghen ghét, muốn chiếm đoạt những thứ tốt đẹp hơn của người khác; không cam tâm chấp nhận bản thân mình thua kém người khác. + Biểu hiện: ++) Người có lòng đố kị luôn mang tâm lí muốn chứng tỏ mình không thua kém người khác, thậm chí hơn người. ++) Đố kị là động cơ kích thích ý muốn hạ thấp, hãm hại người khác để thỏa lòng ích kỉ tăng lên. + Nguyên nhân: ++) Sự tham lam, ích kỉ, không muốn người khác hơn mình. ++) Sự tự ti của bản thân. ++) Áp lực của xã hội, áp lực đồng trang lứa. + Tác hại: ++) Gây ra những mâu thuẫn không đáng có với những người xung quanh, làm rạn nứt những mối quan hệ với bạn bè, người thân. ++) Tạo ra trạng thái tâm lí tiêu cực cho chính mình, khiến bản thân luôn trong tình trạng lo lắng, căng thẳng, mệt mỏi. ++) Dễ sa ngã, dễ có những hành động mù quáng, mất lí trí làm tổn thương người khác. ++) Làm xấu hình ảnh của bản thân, đánh mất lòng tin của người khác dành cho chúng ta. + Giải pháp: ++) Nhìn nhận đúng giá trị của bản thân; phát huy năng lực, sở trường của mình. ++) Phân biệt rõ đố kị và thi đua; cố gắng giành lấy chiến thắng/ thành công bằng sự nỗ lực của mình. ++) Tìm cho mình một niềm vui trong cuộc sống, tránh suy nghĩ tiêu cực, tránh để những hào nhoáng bên ngoài của người khác ảnh hưởng đến tâm lí của mình. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): – Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu‎ ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong bài văn. e. Sáng tạo (0,5 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Tôi – người con trai đi lính. Câu 2 (0,5 điểm) Những từ ngữ/ dòng thơ dùng để miêu tả “đôi mắt” trong khổ thơ thứ 5: U uẩn chiều lưu lạc/ Buồn viễn xứ khôn khuây/ Khúc hoàn ca rớm lệ. Câu 3 (1,0 điểm) Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài thơ: – Yêu mến cảnh đẹp quê hương, ấn tượng về đôi mắt người Sơn Tây, mong ước đất nước sẽ sớm trở lại khung cảnh yên bình, dẫu cho ngày đó vẫn còn xa. – Yêu quê hương một cách chân thành và sâu nặng, sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh gian khổ để đứng lên cầm súng bảo vệ quê hương, với tâm hồn bay bổng, lãng mạn của tuổi trẻ. Câu 4 (1,0 điểm) – Câu hỏi tu từ: Em có bao giờ em nhớ thương? – Hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ: + Bộc lộ cảm xúc nhớ nhung, yêu mến và hi vọng vào tình cảm của cô gái dành cho xứ Đoài, dành cho nhân vật trữ tình. + Tạo âm hưởng da diết, thiết tha cho câu thơ, tăng tính tạo hình, biểu cảm cho cách diễn đạt. + Thể hiện tình yêu thương, niềm trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của quê hương, của những con người trong kháng chiến. Câu 5 (1,0 điểm). Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày về một thông điệp sâu sắc bài thơ đã gợi ra cho em. – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Trình bày về một thông điệp sâu sắc của bài thơ. + Tình yêu quê hương, ý thức xây dựng đất nước giàu mạnh bền vững. + Trân trọng cuộc sống hòa bình, trân quý những điều bình dị trong cuộc sống đời thường.