Trần Minh Quân

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Minh Quân
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1. While I was sleeping, I heard a loud noise.

2. We were shocked when we heard the news.

3. Before my father leaves for work, he feeds the dogs and cats.  

4. After I finish my homework, I hang out with my friends.

1. She was surprised when found a golden coin in the garden.

2. I will go shopping as soon as I find my wallet. As soon as I find my wallet, I will go shopping.

3. He made a quick phone call to a client before he left the office.

4. After he mowed the lawn, he took a rest.

II

PHẦN VIẾT

4.0


Viết bài văn nghị luận về lối sống vô trách nhiệm của một bộ phận giới trẻ ngày nay.

4.0

a. Xác định được bố cục của bài viết: Nghị luận xã hội.

0.25

b. Xác định đúng chủ đề của bài viết: Nghị luận về lối sống vô trách nhiệm của một bộ phận giới trẻ ngày nay.

0.5

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp:

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: lối sống vô trách nhiệm của một bộ phận giới trẻ ngày nay.

* Thân bài:

– Giải thích: Thế nào là vô trách nhiệm?

   Thái độ thờ ơ, ỷ lại, không làm tròn bổn phận, thiếu tự giác, vô tâm, cẩu thả, không quan tâm đến công việc, nhiệm vụ của mình. Không suy nghĩ hay trăn trở về việc mình làm, mặc dù có ảnh hưởng đến người khác cũng không nhận lỗi và sửa sai.

– Đánh giá, bàn luận: Tác hại của thói vô trách nhiệm.

+ Với bản thân: không nhận được sự tin yêu, tín nhiệm từ mọi người và vì thế họ cũng thật khó để có được thành công trong cuộc sống.

+ Với những người xung quanh: tạo thành một thói xấu ảnh hưởng đến những người xung quanh. Dần dà, một tập thể sẽ trì trệ, không phát triển.

 – Dẫn chứng: Học sinh lấy dẫn chứng phù hợp, thể hiện rõ tác hại của lối sống vô trách nhiệm của giới trẻ.

– Bàn luận mở rộng:

+ Rút ra bài học: Mỗi người cần ý thức được trách nhiệm của mình với bản thân, với gia đình và với xã hội. Phải luôn thể hiện là người có trách nhiệm cao, chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, quy định của trường lớp, cơ quan.

+ Liên hệ bản thân:

  • Làm việc có kế hoạch, hoàn thành đúng thời gian, đặt lợi ích của tập thể lên hàng đầu.
  • Lưu tâm đến những công việc nằm trong bổn phận của mình.

* Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.

1.0

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

– Trình bày rõ vấn đề và nêu ý kiến của người viết về vấn đề đó.

– Nêu được lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc.

1.5

đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong bài văn.

0.25

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc; có cách diễn đạt mới mẻ.

0.5

câu 1 Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.

câu 2 Đối tượng trào phúng trong bài thơ là tác giả.

câu 3  Từ “làng nhàng” trong bài thơ có nghĩa là thuộc vào loại tạm gọi là trung bình, không có gì nổi bật.

– Từ “làng nhàng” góp phần thể hiện thái độ xem thường, mỉa mai, cười cợt chính mình của tác giả. Bên cạnh đó, từ này còn giúp bộc lộ cảm xúc buồn bã, tủi hổ của nhà thơ khi nhận thấy mình chỉ là kẻ tầm thường, vô dụng.

câu 4 Nghệ thuật trào phúng trong hai câu thơ là ẩn dụ.

– Tác dụng: Nhấn mạnh hoàn cảnh của đất nước (nước mất, bế tắc như thế cờ bí); hoàn cảnh của chính nhà thơ (chưa trọn cuộc đời làm quan đã bỏ về ở ẩn như con bạc chạy làng). Biện pháp ẩn dụ khắc họa rõ tiếng cười của tác giả tự chế nhạo mình là kẻ vô tích sự khi đất nước rơi vào cảnh khốn cùng thì bản thân chẳng thể làm gì có ích.

câu 5 Vào thời phong kiến, những người đỗ đạt trong các kì thi thường được khắc tên trên “bia xanh”, “bảng vàng”. Hai câu thơ chính là tiếng cười chua cay của tác giả. Ông tự cười cợt, khinh bỉ chính địa vị mà mình từng được ngồi. Dù có đỗ đạt nhưng chẳng thể làm gì trước cảnh nước mất nhà tan.

câu 6 Cần noi theo tấm gương học tập của Bác Hồ, ra sức học hành, tích lũy tri thức, góp phần đưa đất nước phát triển với cường quốc năm châu.

+ Cần giữ gìn, bảo vệ những giá trị truyền thống nhưng cũng cần tiếp thu sự phát triển hiện đại của khoa học công nghệ.

+ Cần có ý thức quảng bá nét đẹp văn hóa đất nước với bạn bè năm châu.

Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng với chùm thơ thu gồm: Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu. Trong đó, Thu vịnh là bài thơ thể hiện rõ nhất phong thái ung dung, tâm hồn thanh cao và nỗi buồn thời thế của tác giả. Dưới bút pháp Đường luật chặt chẽ, câu chữ tinh luyện, Nguyễn Khuyến đã vẽ lên một bức tranh mùa thu đặc trưng của làng quê Bắc Bộ, đồng thời kín đáo bộc lộ tâm trạng của người sĩ phu trước cảnh nước mất nhà tan.


Hai câu đề mở ra không gian thu trong trẻo, tĩnh lặng:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”

Màu xanh của trời thu được miêu tả bằng từ “xanh ngắt” gợi cảm giác cao vời, sâu thẳm, trong trẻo đến tuyệt đối. Hình ảnh “cần trúc lơ phơ” và “gió hắt hiu” làm cho cảnh thu trở nên nhẹ nhàng nhưng đượm chút se lạnh. Thiên nhiên đẹp mà buồn, yên mà lặng — đó chính là sắc thu đặc trưng trong thơ Nguyễn Khuyến.


Sang hai câu thực, cảnh vật được khắc họa cụ thể hơn:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.”

Dòng nước thu được so sánh với “tầng khói phủ”, gợi vẻ mờ ảo, bảng lảng đặc trưng của buổi đầu thu. Hình ảnh “song thưa” tạo khoảng trống đủ để “bóng trăng vào”, vừa gợi không gian yên tĩnh, vừa toát lên vẻ thơ mộng của cảnh thu nơi thôn dã. Những nét chấm phá ấy cho thấy con mắt tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của Nguyễn Khuyến.


Hai câu luận tiếp tục làm sâu sắc bức tranh thu:

“Mắt lão không vương việc nước nữa,

Lòng già còn nhớ đến tao đàn.”

Đây là đoạn thơ giàu giá trị tâm trạng. Nguyễn Khuyến tự xưng là “mắt lão”, “lòng già”, một cách nói vừa khiêm nhường, vừa thể hiện nỗi ngậm ngùi trước thời cuộc. Dù tự nhận là không còn vướng “việc nước”, nhưng sâu trong lòng, ông vẫn trăn trở, vẫn thiết tha với lý tưởng của kẻ sĩ. Câu thơ như tiếng thở dài của một người bất lực trước thời thế nhiễu nhương, chỉ biết tìm đến thơ ca để giữ gìn nhân cách.


Hai câu kết gói lại tâm tư thi nhân:

“Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào,

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng.“Ông Đào” là Đào Tiềm – nhà thơ ẩn dật nổi tiếng của Trung Quốc. Nguyễn Khuyến so mình với Đào Tiềm để bày tỏ nỗi thẹn vì chưa giữ trọn chí khí của bậc hiền sĩ. Hình ảnh “nước triều dâng cuồn cuộn” không chỉ tả cảnh thiên nhiên mà còn là ẩn dụ cho cảm xúc dồn nén, cho nỗi lo âu trước vận nước đang đổi thay dữ dội.


Toàn bài thơ Thu vịnh vừa có vẻ đẹp của tranh thủy mặc, vừa chất chứa những suy tư sâu lắng của một tâm hồn yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc. Nguyễn Khuyến đã mượn cảnh thu tĩnh lặng để gửi gắm nỗi buồn kín đáo, cao đẹp của một người trí thức thanh liêm. Nhờ ngôn ngữ tinh tế, bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, bài thơ trở thành kiệt tác tiêu biểu cho thơ Nôm yêu nước cuối thế kỉ XIX.”

- Ý nghĩa: Người ta có thể dùng tiếng cười trào lộng, mỉa mai, hay châm biếm sâu cay để qua đó phê phán một cách linh hoạt, sắc sảo những cái chưa hay, chưa đẹp, cái tiêu cực, xấu xa,… nhằm hướng con người tới các giá trị thẩm mĩ, nhân văn hoặc lí tưởng sống cao đẹp.

​- HS giải nghĩa từ “thiếu phụ”: người phụ nữ trẻ tuổi; thường để chỉ người đã lập gia đình.


- HS nêu được sắc thái nghĩa của từ: trang trọng, lịch sự.  

 a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: thói quen trì hoãn ở người trẻ hiện nay, tỏ rõ thái độ không đồng tình, phê phán.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

HS có thể triển khai bài làm theo nhiều hướng khác nhau; biết chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp, các luận điểm được triển hai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai luận điểm; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa bằng chứng; bằng chứng cần lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động.

- Giải thích: “Trì hoãn” là một thói quen xấu của con người, hành động theo xu hướng để chậm lại, kéo dài thời gian, mất tập trung; chần chừ không thực hiện công việc theo kế hoạch, thường dễ rơi vào tình trạng “nước đến chân mới nhảy”.

- Thực trạng: xảy ra phổ biến ở người trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên (khoảng 70-95% học sinh mắc phải, theo trang Verywell); ngay cả người trường thành, khoảng 20-25% cũng mắc phải chứng “trì hoãn” kinh niên. Biểu hiện: bài tập đến sát hạn nộp mới làm; thường xuyên trong tình trạng quá tải công việc mỗi khi gần đáo hạn; các kế hoạch đều bị lỡ dở; không tập trung khi học tập làm việc, thường xuyên bỏ dở công việc đang làm để làm việc khác…

- Nguyên nhân: lười biếng; thiếu chủ động, tự giác; không có đủ quyết tâm, kỷ luật, kiên định với mục tiêu và kế hoạch đề ra; bị sao nhãng bởi mạng xã hội, trò chơi giải trí; sắp xếp các công việc chưa hợp lí; không biết quý trọng thời gian…

- Hậu quả: gây ra nhiều vấn đề tâm lí nghiêm trọng như căng thẳng, khủng hoảng, thiếu tập trung, trầm cảm, lo âu; làm suy nhược sức khỏe; rối loạn quá trình sinh hoạt thông thường mỗi khi phải hoàn thành gấp công việc bị dồn lại; kết quả học tập, làmviệc sa sút; luôn trong tình trạng chán nản, mỏi mệt; tạo cơ hội cho nhiều thói quen xấu ăn sâu bám rễ…

- Giải pháp: quản lí chặt chẽ thời gian; sắp xếp các công việc theo trình tự ưu tiên hợp lí; chia nhỏ các công việc; rèn luyện tinh thần kỉ luật, học tập, làm việc theo giờ giấc nghiêm ngặt, không chờ đợi “có hứng” mới bắt tay thực hiện; phân bố thời gian nghỉ ngơi hợp lí; hạn chế tiếp xúc với các đối tượng có thể gây sao nhãng, mất tập trung khi đang học tập và làm việc như mạng xã hội, trò chơi điện tử…

- Khái quát vấn đề đã bàn luận. Phê phán những biểu hiện trì hoãn, lười biếng, thiếu trách nhiệm.

- Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Thể hiện những suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

HS cần liên hệ với văn bản đọc hiểu để đưa ra quan điểm về trách nhiệm và hành động của tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức:

- Khẳng định trách nhiệm lớn lao, quan trọng; cần sử dụng trí tuệ, tài năng của mình để cống hiến xây dựng xã hội tốt đẹp, đất nước giàu mạnh.

- Tích cực, hăng hái đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước, cộng đồng.

- Rèn luyện thực lực, tiềm năng thật sự của bản thân đồng thời biết tôn trọng những khả năng của người khác; học tập, làm việc chăm chỉ, siêng năng.

- Lên án, phê phán, bài trừ gian lận, không trung thực trong thi cử, học tập, làm việc.

*Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được.

- Nghĩa tường minh: miêu tả tiến sĩ đồ chơi được làm từ giấy, vẽ mực điểm son trông rất sống động, bắt mắt.

- Nghĩa hàm ẩn: Chế giễu những tiến sĩ người thật “hữu danh vô thực”, chỉ học đòi vẻ ngoài màu mè, phù phiếm còn thực chất bên trong lại ngu dốt, rỗng tuếch. Qua đó có thể thấy cảm thức xót xa, cay đắng cho thời tàn của Nho học, khi nạn mua quan bán tước nhan nhản khắp nơi, thật giả lẫn lộn.