Lê Thị Yến Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thị Yến Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1.

Yêu thương vạn vật là một giá trị nhân văn sâu sắc mà con người cần nuôi dưỡng trong cuộc sống hiện đại. Vạn vật không chỉ là con người mà còn bao gồm thiên nhiên, muôn loài và cả môi trường sống xung quanh ta. Khi biết yêu thương cây cỏ, động vật, con người sẽ hình thành ý thức bảo vệ môi trường, sống hài hòa với tự nhiên thay vì khai thác, tàn phá một cách vô trách nhiệm. Lòng yêu thương ấy còn giúp con người sống nhân ái hơn, biết cảm thông và trân trọng sự sống dù là nhỏ bé nhất. Thực tế cho thấy, những hành vi tàn nhẫn với động vật, hủy hoại thiên nhiên đều bắt nguồn từ sự vô cảm và ích kỉ của con người. Ngược lại, những cá nhân có tình yêu thương vạn vật thường sống tử tế, có trách nhiệm và lan tỏa những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, việc con người biết yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức mà còn là điều kiện cần thiết để sự sống trên Trái Đất được duy trì bền vững. Vì vậy, mỗi người cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như bảo vệ môi trường, đối xử nhân hậu với muôn loài để góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn

2.

Hoàng Cầm là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca kháng chiến, gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc – miền đất giàu truyền thống văn hóa dân gian. Bài thơ Bên kia sông Đuống được sáng tác năm 1948, trong hoàn cảnh nhà thơ đứng ở chiến khu Việt Bắc, nghe tin quê hương bị giặc Pháp chiếm đóng và tàn phá. Tác phẩm là tiếng khóc đau xót cho quê hương bị giày xéo, đồng thời là khúc ca chan chứa niềm tin vào sức sống và sự quật khởi của dân tộc

Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết “Em ơi”, mang giọng điệu tâm tình, vỗ về. “Em” vừa có thể là người con gái Kinh Bắc, vừa là hình ảnh ẩn dụ cho quê hương, cũng có thể là sự phân thân của chính nhà thơ. Từ lời gọi ấy, dòng cảm xúc dâng trào, đưa người đọc trở về với miền ký ức thanh bình của quê hương bên kia sông Đuống. Dòng sông hiện lên “lấp lánh”, bãi mía bờ dâu “xanh xanh”, “biêng biếc”, gợi một không gian trù phú, yên ả, thấm đẫm vẻ đẹp dân dã của làng quê Bắc Bộ. Những từ láy giàu sắc thái tạo hình không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn gợi sức sống tươi non của một miền quê chưa từng vướng bóng chiến tranh

Trong bức tranh ấy, hình ảnh “Sông Đuống nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” là một sáng tạo đặc sắc. Dòng sông được nhân hóa, mang dáng vẻ mềm mại, duyên dáng như người phụ nữ Kinh Bắc, nhưng tư thế “nghiêng nghiêng” còn gợi cảm giác chênh vênh, chịu đựng. Đó là vẻ đẹp của quá khứ thanh bình đang phải oằn mình trong hiện thực chiến tranh kéo dài. Đứng “bên này sông”, nhà thơ hướng về quê hương “bên kia” với nỗi đau được cụ thể hóa bằng so sánh “xót xa như rụng bàn tay”. Nỗi đau tinh thần đã trở thành nỗi đau thể xác, cho thấy quê hương không chỉ là nơi chốn địa lý mà là một phần máu thịt không thể tách rời của con người

Từ nỗi đau ấy, dòng cảm xúc của Hoàng Cầm chảy về miền ký ức tươi đẹp của văn hóa và con người Kinh Bắc. Quê hương hiện lên với lúa nếp thơm nồng, với tranh Đông Hồ mang “gà, lợn nét tươi trong”, với “đám cưới chuột” tưng bừng rộn rã. Những hình ảnh ấy là kết tinh của trí tuệ và tâm hồn dân gian, biểu tượng cho khát vọng ấm no, hạnh phúc, sum vầy của nhân dân. “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” thể hiện niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ trước bản sắc văn hóa quê hương – một bản sắc vừa cụ thể trong màu sắc, chất liệu, vừa thiêng liêng trong giá trị tinh thần

Không chỉ có văn hóa, con người Kinh Bắc cũng hiện lên với vẻ đẹp duyên dáng, phúc hậu: những cô hàng xén răng đen, nụ cười “như mùa thu tỏa nắng”, những khuôn mặt “búp sen” hiền hòa. Qua những nét phác họa đậm chất dân gian, Hoàng Cầm đã dựng nên một thế giới quê hương vừa gần gũi, vừa mang vẻ đẹp cổ kính, làm nền cho nỗi đau xót xa khi hiện thực chiến tranh ập đến

Mạch thơ đột ngột chuyển sang hiện thực tàn khốc. Giặc đến với “ngùn ngụt lửa hung tàn”, ruộng khô, nhà cháy, cuộc sống yên bình bị xóa sổ. Đỉnh điểm của nỗi đau là hình ảnh các nhân vật trong tranh Đông Hồ cũng bị cuốn vào bi kịch: “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa đôi ngả”, “Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / Bây giờ tan tác về đâu”. Hoàng Cầm đã kéo những hình ảnh biểu tượng của văn hóa dân gian ra khỏi tranh, để chúng cùng chịu chung số phận với con người. Sự tàn phá của giặc vì thế không chỉ là hủy diệt vật chất mà còn là sự hủy diệt linh hồn văn hóa, cội nguồn tinh thần của quê hương. Câu hỏi “Bây giờ tan tác về đâu” vang lên như một tiếng kêu xé lòng, ám ảnh về số phận của văn hóa dân tộc trước bão lửa chiến tranh

Tuy nhiên, bài thơ không dừng lại ở đau thương. Từ tận cùng mất mát, mạch cảm xúc vươn lên thành niềm tin và ý chí quật khởi. Hình tượng sông Đuống được chuyển hóa mạnh mẽ: từ “nằm nghiêng nghiêng” chịu đựng sang “cuồn cuộn trôi”, mang sức mạnh chủ động của cách mạng và nhân dân. Dòng sông trở thành biểu tượng cho sức mạnh thanh tẩy, cuốn trôi quân thù, mở ra tương lai mới. Những hình ảnh “nắng sắp lên”, “chân trời đã tỏ” báo hiệu ánh sáng của ngày mai. Kết thúc bài thơ là viễn cảnh “em đi trẩy hội non sông”, nụ cười chan hòa ánh sáng, biểu tượng cho sự tái sinh của quê hương và dân tộc sau đau thương

“ Bên kia sông Đuống “ là bài thơ kết tinh tình yêu quê hương sâu nặng của Hoàng Cầm. Tác phẩm vừa là tiếng khóc đau xót trước sự tàn phá của chiến tranh, vừa là bản ca ngợi vẻ đẹp văn hóa Kinh Bắc và niềm tin sắt đá vào sức sống dân tộc. Qua đó, bài thơ để lại giá trị lâu bền, nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm trân trọng, gìn giữ và bảo vệ bản sắc văn hóa quê hương

1.

PTBĐ: nghị luận

2.

Con người vô tình trước những tổn thương do chính mình tạo ra cho thiên nhiên và người khác, nên đôi khi cũng cần phải đối diện với những tổn thương

3.

Biện pháp tu từ : điệp cấu trúc - “Những...quen...".

Tác dụng:

+ Nhấn mạnh sự bao dung của thiên nhiên với con người

+ Tạo nhịp điệu và tăng tính liên kết cho đoạn văn

Biện pháp tu từ : nhân hóa - “ mặt đất tha thứ, đại dương độ lượng, cánh rừng trầm mặc... “

- Tác dụng:

+ Làm câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn hơn

+ Cho thấy sự bao dung của vạn vật đối với con người

4.

Con người quá vô tư trước những tổn thương mà mình gây ra cho người khác, vậy nên bản thân chúng ta cũng cần phải bị thương để hiểu được làm đau người khác là làm đau chính mình. Lúc ấy, ta sẽ biết yêu thương, sẻ chia, hoà vào thế giới này bằng trái tim độ lượng

5.

Bài học: Cần cẩn thận trong cách cư xử với người khác để tránh làm họ tổn thương

- Ý nghĩa: Để làm được thế, cần chú tâm với những điều đang xảy ra trong cuộc sống, biết đặt mình vào vị trí của người khác