Phạm Quang Huy
Giới thiệu về bản thân
Trong suốt những năm tháng cắp sách đến trường, em đã được học với rất nhiều thầy cô giáo, mỗi người đều để lại trong em những ấn tượng và kỷ niệm riêng. Nhưng có lẽ, người mà em yêu quý và kính trọng nhất chính là cô Hương – cô giáo chủ nhiệm lớp em năm lớp 5.
Cô Hương không chỉ là một cô giáo giỏi mà còn là người mẹ hiền thứ hai trong lòng em. Cô có dáng người nhỏ nhắn, mái tóc dài đen mượt và nụ cười luôn rạng rỡ trên môi. Mỗi lần cô cười, đôi mắt lại ánh lên sự hiền hậu và ấm áp đến lạ. Dù bận rộn với công việc, cô lúc nào cũng nhẹ nhàng, kiên nhẫn với học sinh, chưa bao giờ lớn tiếng hay quát mắng chúng em.
Em còn nhớ, có lần em làm bài kiểm tra không tốt, em buồn và khóc vì sợ cô thất vọng. Thế nhưng, thay vì trách mắng, cô lại nhẹ nhàng ngồi bên, giảng lại bài cho em từng chút một. Cô nói: “Sai không đáng sợ, quan trọng là con học được gì sau lần sai đó.” Chính những lời nói ấy của cô đã trở thành động lực để em cố gắng hơn, không ngừng vươn lên trong học tập.
Không chỉ dạy kiến thức, cô Hương còn dạy cho chúng em biết cách làm người. Cô thường kể những câu chuyện nhỏ về lòng tốt, về sự trung thực và tình yêu thương giữa con người. Nhờ vậy, lớp học của em luôn là một tập thể đoàn kết, ai cũng biết yêu thương và giúp đỡ nhau như một gia đình.
Càng lớn, em càng hiểu rằng, nghề giáo là một nghề cao quý, nhưng cũng đầy hi sinh và vất vả. Cô Hương đã dành cả tuổi trẻ của mình cho bảng đen, phấn trắng, cho những bài giảng sớm khuya và cả những lo lắng thầm lặng khi học sinh của mình chưa hiểu bài, chưa ngoan ngoãn. Em biết ơn cô rất nhiều – không chỉ vì những kiến thức cô truyền dạy, mà còn vì tình yêu thương mà cô dành cho học trò bằng cả tấm lòng.
Dù sau này có học với bao nhiêu thầy cô khác, có đi đến những chân trời mới, em vẫn sẽ luôn nhớ về cô Hương với tất cả sự kính yêu và trân trọng. Cô mãi là ngọn lửa nhỏ sưởi ấm tâm hồn em, là người đã gieo vào em những hạt giống đầu tiên của lòng biết ơn, sự nỗ lực và ước mơ vươn lên trong cuộc sống
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, có biết bao người con ưu tú đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thế nhưng, có lẽ không ai để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu, người cha già của dân tộc Việt Nam. Trong những dấu mốc thiêng liêng của cuộc đời Bác, hình ảnh Người lặng lẽ rời bến cảng Nhà Rồng vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 để ra đi tìm đường cứu nước, mãi mãi là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc.
Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên được nghe thầy cô kể về chuyến đi ấy. Một chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mới tròn 21 tuổi, với đôi mắt sáng rực niềm tin và trái tim đầy nhiệt huyết, đã bước chân lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, để lại sau lưng quê hương xứ Nghệ, rời xa vòng tay yêu thương của gia đình. Đó không phải là chuyến đi để mưu cầu cuộc sống sung túc, càng không phải để tìm kiếm vinh hoa phú quý. Đó là một cuộc hành trình vĩ đại, khởi nguồn từ tình yêu sâu nặng với đất nước đang oằn mình trong xiềng xích thực dân.
Hình ảnh Bác nơi bến cảng, trong bộ quần áo lao động giản dị, ánh mắt dõi về quê hương xa mờ qua làn nước, khiến tôi không khỏi nghẹn ngào. Người đã mang theo trong tim nỗi đau mất nước, mang theo khát vọng cháy bỏng tìm ra con đường đưa dân tộc thoát khỏi cảnh lầm than. Trên hành trình bôn ba qua nhiều quốc gia, Người đã nếm trải đủ mọi gian khổ: làm phụ bếp, thợ ảnh, thợ sơn... Nhưng chưa bao giờ Người thôi trăn trở cho tương lai dân tộc. Những đêm đông giá lạnh nơi đất khách, nỗi nhớ quê nhà và niềmđau đất nước luôn thôi thúc Người không ngừng học hỏi, tìm tòi chân lý cách mạng.
Sự kiện ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ không chỉ là bước ngoặt của riêng cuộc đời Người, mà còn là ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc. Nếu không có chuyến đi ấy, làm sao có được một Hồ Chí Minh sau này – người đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa đất nước giành lại độc lập sau hàng chục năm bị đô hộ?
Mỗi lần nghĩ đến Bác, tôi không khỏi xúc động. Người không chỉ là một lãnh tụ tài ba mà còn là biểu tượng sống động của lòng yêu nước và tinh thần hi sinh cao cả. Từ một thanh niên bình dị, Bác đã vươn lên trở thành lãnh tụ vĩ đại, để lại tấm gương sáng ngời cho bao thế hệ noi theo.
Chuyến đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ mãi là ngọn lửa thiêng liêng thắp sáng con đường cách mạng Việt Nam. Và trong tim tôi, hình ảnh Người tại bến cảng Nhà Rồng hôm ấy – nhỏ bé mà vĩ đại – sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng bất tận, để tôi sống đẹp hơn, sống có lý tưởng và trách nhiệm hơn với quê hương đất nước mình
Dân tộc Việt Nam để có được hòa bình như hôm nay đã phải trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến. Trong những cuộc chiến đó, luôn có sự hi sinh của các anh hùng, liệt sĩ. Họ là những chiến sĩ trên chiến trường, nói cách khác là nơi tiền tuyến. Ở hậu phương, trong những năm tháng chiến tranh, cũng có biết bao là sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ. Nhắc đến đây, tôi nghĩ tới nhân vật dì Bảy trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của Huỳnh Như Phương.
Nhân vật Dì Bảy là một người phụ nữ để lại trong tôi nhiều sự thương mến và cảm phục khó nói thành lời. Khi mới 20 tuổi, độ tuổi xuân thì nhất, dì đã được gả đi. Dượng Bảy lại phải đi tập kết và chiến đấu. Vậy là từ ngày cưới, cả hai vợ chồng dì chưa được ở cạnh nhau bao lâu. Họ gặp nhau chỉ qua những cánh thư. 20 năm sau, Dượng Bảy mới có thể nhờ người gửi chiếc nón bài thơ cho dì làm quà và để chứng tỏ tình cảm của mình, để an ủi những người đang chờ mong. Thế nhưng, trước khi chiến tranh kết thúc khoảng mươi ngày, dì Bảy đã chở thành người phụ nữ góa chồng. Vậy là suốt hơn 20 năm chờ đợi, biết bao thương nhớ, biếtbao buồn tủi, biết bao là những nỗi lo lắng, bồn chồn, cuối cùng dượng Bảy đã không thể cho dì được một hạnh phúc trọn vẹn.
Đến khi nghe tin bản thân trở thành góa phụ, dì Bảy vẫn cứ lầm lũi ngồi bên bậc thềm, nhìn ra xa như trông đợi điều gì. Dì Bảy đã phải hi sinh hạnh phúc cá nhân mình vì nghĩa lớn. Tôi biết, không chỉ có dì Bảy, mà còn có rất nhiều người phụ nữ trên dải đất hình chữ S này cũng chung cảnh ngộ như dì. Họ đều đã hi sinh thầm lặng, cao cả cho cuộc kháng chiến, để đất nước được thống nhất và phát triển. Chúng ta, những thế hệ hôm nay phải biết ơn và làm được điều gì để đền đáp được công ơn đó.
Dì Bảy đã cho tôi hiểu về đức hi sinh của con người. Tôi tin rằng thế hệ tôi và những thế hệ mai sau sẽ đều ghi nhớ công ơn của các thế hệ trước. Nhưng tôi cũng mong sẽ không còn ai phải chịu cảnh ngộ, phải hi sinh như dì Bảy