Nguyễn Ngân Khánh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật Đạm Tiên
Trong đoạn trích Truyện Kiều, nhân vật Đạm Tiên hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho số phận hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Khi còn sống, Đạm Tiên là một ca nhi nổi tiếng, có tài có sắc, được nhiều người ngưỡng mộ, tìm đến. Thế nhưng, cuộc đời nàng lại kết thúc sớm trong cô đơn và tủi phận. Ngôi mộ của Đạm Tiên nằm bên đường, cỏ mọc um tùm, hương khói lạnh lẽo, không người viếng thăm, cho thấy sự bạc bẽo của cuộc đời và thân phận nhỏ bé của người phụ nữ. Qua hình ảnh Đạm Tiên, Nguyễn Du đã bày tỏ niềm xót thương sâu sắc cho những con người tài hoa nhưng không được hạnh phúc. Nhân vật này không chỉ là một số phận đáng thương mà còn có ý nghĩa như một lời dự báo cho cuộc đời đầy sóng gió của Thúy Kiều sau này. Qua đó, tác giả thể hiện rõ giá trị nhân đạo khi lên tiếng cảm thông và bênh vực cho người phụ nữ trong xã hội cũ.
Câu 2 (4,0 điểm)
Bài văn nghị luận khoảng 400 chữ
Trong xã hội hiện đại ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều đang khiến không ít học sinh sao nhãng học tập và thiếu trách nhiệm với bản thân cũng như gia đình. Vì vậy, việc sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả là vấn đề rất cần được quan tâm.
Trước hết, học sinh cần biết kiểm soát thời gian sử dụng mạng xã hội. Thay vì dành hàng giờ để lướt mạng, chơi game hay xem những nội dung không cần thiết, mỗi người nên đặt ra giới hạn thời gian hợp lý và ưu tiên cho việc học tập, nghỉ ngơi. Bên cạnh đó, cần lựa chọn nội dung lành mạnh, có ích như các trang học tập, kỹ năng sống, tin tức chính thống, tránh xa những thông tin độc hại, sai lệch hoặc gây ảnh hưởng xấu đến suy nghĩ và hành vi.
Ngoài ra, học sinh cần biết sử dụng mạng xã hội đúng mục đích. Mạng xã hội có thể là công cụ hữu ích để học tập, trao đổi kiến thức, kết nối bạn bè nếu được dùng đúng cách. Tuy nhiên, không nên phụ thuộc quá mức hay coi thế giới ảo là nơi thể hiện bản thân một cách thiếu suy nghĩ. Quan trọng hơn, mỗi người cần rèn luyện ý thức tự giác và trách nhiệm, biết cân bằng giữa đời sống thực và đời sống trên mạng.
Tóm lại, mạng xã hội không xấu, điều quan trọng là cách chúng ta sử dụng nó. Khi biết kiểm soát bản thân, chọn lọc nội dung và sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, học sinh sẽ biến mạng xã hội thành công cụ hữu ích, góp phần giúp bản thân học tập tốt hơn và sống có trách nhiệm hơn.
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Hai dòng thơ sử dụng lời thoại trực tiếp của nhân vật, được dẫn bằng từ “rằng” và đặt trong dấu ngoặc kép.
Câu 3.
Tác giả sử dụng nhiều từ láy như: sè sè, dầu dầu, vắng tanh, lờ mờ, dầm dầm.
Những từ láy này có tác dụng gợi tả khung cảnh hoang vắng, buồn bã và thể hiện nỗi xót thương, đau đớn của Thúy Kiều trước số phận Đạm Tiên.
Câu 4.
Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều cảm thấy xót xa, đau đớn và thương cảm sâu sắc, đến mức rơi nước mắt.
Điều đó cho thấy Thúy Kiều là người giàu lòng nhân ái, giàu cảm xúc và biết cảm thông với nỗi đau của người khác.
Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra bài học cần sống nhân hậu, biết yêu thương và chia sẻ với những người bất hạnh trong cuộc sống.
Vì chỉ khi biết cảm thông và yêu thương, con người mới làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.
a. Xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích.
c. Đề xuất được hệ thống ý làm rõ vấn đề bài viết:
- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; vấn đề nghị luận.
- Thân bài:
+ Nội dung: Đoạn trích là nỗi cô đơn, sầu khổ, thương nhớ da diết của người chinh phụ dành cho chồng đi chinh chiến phương xa. Nỗi buồn ấy là sự tuyệt vọng, khắc khoải của người phụ nữ, dù biết chắc chồng sẽ khó có thể quay về nhưng trong thâm tâm vẫn hi vọng.
+ Nghệ thuật:
Thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính phù hợp với việc bộc bạch, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích.
Hệ thống những từ láy, biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở nên nặng trĩu tâm trạng, mở ra một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.
…
- Kết bài:
+ Khẳng định lại một cách khái quát những đặc sắc về nghệ thuật: giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ.
+ Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Sử dụng hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ độc đáo; Lời văn trau chuốt, sinh động, gợi cảm.
- Chúng ta là con người trần thế dù có được sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương
- Cuộc đời con người không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa.
- Chúng ta không thể tham lam, không thể có tất cả, khi ta không chấp nhận bằng lòng ta sẽ mất hết.
Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích phản ánh tâm trạng và sự khát khao tự do của nhân vật. Khi Từ Thức mặc áo cừu và đội nón lá, anh không chỉ thay đổi trang phục mà còn chuyển mình từ một người đàn ông bình thường sang một người hành hiệp tự do, thoát khỏi những ràng buộc của cuộc sống thường nhật.
Việc anh “không biết đi đâu mất” biểu hiện cho sự tìm kiếm bản thân, sự phiêu lưu và khám phá những điều mới mẻ. Điều này có thể thấy là một biểu tượng cho khát vọng sống chân thật và theo đuổi những điều mình đam mê, không bị ràng buộc bởi thực tại hay những quy chuẩn xã hội. Từ Thức chọn cách rời bỏ thế giới quen thuộc để hướng tới những điều chưa biết, thể hiện tâm hồn lãng mạn và tinh thần phóng khoáng của anh.
Chọn lựa này cũng có thể gợi ý rằng Từ Thức đang tìm kiếm một ý nghĩa sâu sắc hơn trong cuộc sống, vượt ra ngoài những giá trị vật chất và danh vọng. Việc anh “không biết đi đâu” có thể là một cách thể hiện rằng hành trình quan trọng hơn đích đến, và trong cuộc sống, hành trình khám phá bản thân và thế giới xung quanh là một phần không thể thiếu.

Xét tứ giác \(M N P Q\), ta có: \(M Q\) // \(N P\) và \(M N\) // \(P Q\) suy ra \(M N P Q\) là hình bình hành.
Kéo dài \(A D\) và \(B C\) cắt nhau tại \(E\).
Ta có: \(\hat{C} + \hat{D} = 9 0^{\circ}\) suy ra \(\hat{E} = 9 0^{\circ}\).
Lại có:\(M N\) // \(E D\) và \(M Q\) // \(E C\) suy ra \(M N ⊥ M Q\)
Do đó \(M N P Q\) là hình chữ nhật suy ra \(M , N , P , Q\) nằm trên một đường tròn với tâm là giao điểm của hai đường chéo của hình chữ nhật, bán kính bằng nửa đường chéo.

Vì tam giác \(A B C\) đều nên các trung tuyến đồng thời cũng là đường cao.
Suy ra \(A M , B N , C P\) lần lượt vuông góc với \(B C , A C , A B\).
\(\Delta B P C\) là tam giác vuông, có \(B C\) là cạnh huyền nên \(M P = \frac{1}{2} B C = B M = M C\) (1)
\(\Delta B N C\) là tam giác vuông, có \(B C\) là cạnh huyền nên \(N M = \frac{1}{2} B C = B M = M C\) (2)
Từ (1) và (2) suy ra \(P M = N M = M B = M C\) hay các điểm \(B , P , N , C\) cùng thuộc đường tròn, đường kính \(B C = a\), tâm đường tròn là trung điểm \(M\) của \(B C\).

Vì ba tam giác \(A D M , A E M , A H M\) có chung cạnh huyền \(A M\) nên ba đỉnh góc vuông \(D , E , H\) nằm trên đường tròn đường kính \(A M\) có tâm là trung điểm của \(A M\).
Vậy năm điểm \(A , D , M , H , E\) cùng nằm trên một đường tròn.

a) Giả sử đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\) có bán kính \(R\) suy ra \(O A = R\) \(\left(\right. 1 \left.\right)\)
Do \(B\) là điểm đối xứng với \(A\) qua \(d\) suy ra \(O A = O B\) \(\left(\right. 2 \left.\right)\)
Do \(C\) là điểm đối xứng với \(A\) qua \(O\) suy ra \(O A = O C\) \(\left(\right. 3 \left.\right)\)
Do \(D\) là điểm đối xứng với \(B\) qua \(O\) suy ra \(O B = O D\) \(\left(\right. 4 \left.\right)\)
Từ \(\left(\right. 1 \left.\right)\), \(\left(\right. 2 \left.\right)\), \(\left(\right. 3 \left.\right)\) và \(\left(\right. 4 \left.\right)\) suy ra \(B\), \(C\) và \(D\) cùng thuộc \(\left(\right. O \left.\right)\).
b) Ta thấy \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại \(O\) là trung điểm của mỗi đường, suy ra \(A B C D\) là hình chữ nhật.
c) Ta thấy \(O C = O D\) suy ra \(d\) là đường trung trực của \(C D\).
Suy ra \(C\) và \(D\) đối xứng với nhau qua \(d\).

a) Vì hình vuông \(A B C D\) có tâm \(E\) suy ra \(E A = E B = E C = E D\).
Do đó, các điểm \(A\), \(B\), \(C\) và \(D\) cùng thuộc một đường tròn tâm \(E\).
Hai trục đối xứng của đường tròn là \(A C\) và \(B D\).
b) Cạnh hình vuông bằng \(3\) cm nên áp dụng định lí Pythagore, ta có:
\(A C = \sqrt{A B^{2} + B C^{2}} = 3 \sqrt{2}\) suy ra \(E A = \frac{A C}{2} = \frac{3 \sqrt{2}}{2}\).
Vậy bán kính của đường tròn là \(R = E A = \frac{3 \sqrt{2}}{2}\) cm.