Chu Ngọc Bích
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Thể thơ của bài "Đề đền Sầm Nghi Đống" là thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
câu 2 trợ từ và từ tượng hình được sử dụng trong bài thơ là:
- Trợ từ: "Kìa" (thể hiện sự ngạc nhiên, chỉ vào đối tượng).
- Từ tượng hình: "Cheo leo" (tượng hình, gợi sự chênh vênh, không vững chắc, vắng vẻ, buồn tẻ).
câu 3:
Các từ ngữ miêu tả thái độ của nữ sĩ khi đi qua đền Sầm Nghi Đống trong bài thơ là
"Ghé mắt trông ngang", "Kìa đền Thái thú đứng cheo leo", câu hỏi tu từ "Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?".
Thái độ:
Thái độ coi thường,khinh bỉ vị tướng bại trận được thờ phụng; thể hiện sự bất mãn với thân phận phụ nữ nhưng cũng đầy tự tin vào tài năng mình, xem thường cái "anh hùng" hèn nhát của nam giới thời đó.
câu 4: - Biện pháp:
- Nghệ thuật miêu tả (tượng hình): "Đứng cheo leo" gợi hình ảnh ngôi đền vắng vẻ, cô độc, không vững chãi.
- Chơi chữ (ẩn dụ sắc thái): "Trông ngang" (thay vì "trông lên") thể hiện cái nhìn coi thường, không kính trọng; "cheo leo" mỉa mai sự sa sút, hèn nhát của Sầm Nghi Đống.
- Tác dụng: Tạo ra cái nhìn trào phúng, châm biếm sâu sắc. Cảnh đền cheo leo phản ánh đúng thân phận và cái chết tủi nhục của Sầm Nghi Đống, đồng thời ngầm khẳng định tài năng, phẩm cách của người phụ nữ vượt lên trên cái "anh hùng" tầm thường đó.
câu 5:
Bài thơ là lời khẳng định tài năng, khí phách phụ nữ ngang tàng, không thua kém nam nhi, phê phán quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ, thể hiện niềm tự hào dân tộc và khát vọng giải phóng cá tính con người. Nữ sĩ mượn hình ảnh Sầm Nghi Đống để ca ngợi sự anh hùng chân chính, đồng thời vạch trần sự hèn nhát của kẻ địch và những kẻ "nam nhi" bất tài.
Mỗi con người sinh ra đều mang một sứ mệnh riêng. Chúng ta được lựa chọn mục tiêu, lựa chọn lí tưởng sống, lựa chọn cách rèn luyện trí tuệ, nhân phẩm cho bản thân mình. Nhưng hơn tất cả, chúng ta cần phải rèn luyện cho mình một tinh thần trách nhiệm và nhận thức đúng đắn, tránh xa thói vô trách nhiệm.
Trước hết, chúng ta cần hiểu thế nào là tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm chính là ý thức, hành vi luôn làm tốt và trọn vẹn công việc, nhiệm vụ được giao, có lý tưởng, mục đích sống, cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Còn thói vô trách nhiệm trái ngược trách nhiệm, đó là việc không có ý thức hoàn thành đúng công việc được giao cũng như vươn lên trên mà buông bỏ, phó mặc cho hoàn cảnh, chỉ chạy theo sở thích cá nhân của mình.
Dấu hiệu để nhận biết người có tinh thần trách nhiệm và người vô trách nhiệm cũng hoàn toàn khác nhau. Người có trách nhiệm là người luôn hoàn thành đúng hạn và làm tốt công việc được giao; không phải để người khác đốc thúc, nhắc nhở mình; biết nhìn vào thực tế, biết chấp nhận những lỗi lầm của bản thân và có ý thức sửa chữa, khắc phục những lỗi lầm đó. Ngược lại, người vô trách nhiệm thường không quan tâm, mặc kệ những công việc mà bản thân mình được giao, không hoàn thành đúng hạn công việc hoặc chất lượng công việc không được tốt; không dám nhìn nhận thực tế vào những lỗi lầm của mình.
Sống với tinh thần trách nhiệm giúp con người ta trưởng thành hơn, biết sắp xếp công việc hợp lí, biết vươn lên trong cuộc sống; được người khác tín nhiệm, tin tưởng từ đó con đường đi đến thành công trở nên dễ dàng hơn. Còn thói vô trách nhiệm mang đến cho người ta nhiều tác hại, nó làm ta mất lòng tin ở mọi người, khó thành công trong công việc và cuộc sống…
Chúng ta không được lựa chọn nơi mình sinh ra nhưng được tự do lựa chọn cuộc sống và định hướng cá nhân. Chính vì vậy, chúng ta hãy trở thành một công dân tốt để người khác học tập theo. Khi chúng ta rèn luyện được đức tính “trách nhiệm”, ta sẽ rèn luyện được nhiều đức tính quý báu khác.
Là một chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần có trách nhiệm với chính bản thân mình cũng như có trách nhiệm xây dựng một đất nước giàu đẹp văn minh. Để làm được điều đó, ngay từ bây giờ, mỗi chúng ta hãy cố gắng rèn luyện cho mình tinh thần trách nhiệm và đẩy xa thói vô trách nhiệm.
câu 1 :
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
câu 2 :
Đối tượng trào phúng được viết trong bài thơ là chính tác giả Nguyễn Khuyến.
câu 3 :
- Nghĩa của từ "làng nhàng" Tầm thường, bình thường, không đâu vào đâu, không nổi bật, bèo bọt,lận đận.
- Thái độ, cảm xúc:
- Tự trào, tự cười mình: Dùng từ "làng nhàng" để tự đánh giá con người và cuộc đời mình.
- Chán nản, bực bội: Chán ghét thực tại, bất mãn vì tài năng không được dùng, cuộc đời không như ý.
- Cam chịu, mỉa mai: Dù cay đắng nhưng vẫn chấp nhận một cách hài hước, dùng tiếng cười để giấu đi nỗi buồn.
câu 4 : - Nghệ thuật trào phúng:
- Chơi chữ (đa nghĩa):
- "Cờ đương dở cuộc không còn nước": Ván cờ dở dang không còn quân Tướng (nước) - chỉ việc thi cử dang dở, không đỗ cao.
- "Bạc chửa thâu canh đã chạy làng": Tiền bạc chưa kịp kiếm đã phải bỏ làng đi - mỉa mai thất bại, phải bôn ba xứ người.
- Tác dụng:
- Miêu tả tài tình hoàn cảnh bi hài của người trí thức đi thi.
- Tạo tiếng cười chua chát, cay đắng cho người đọc về số phận Nho sĩ xưa.
- Tố cáo xã hội phong kiến nhố nhăng, khinh bạc tài năng.
câu 5:
- Ý nghĩa câu thơ:
- "Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ": Tự suy ngẫm về bản thân, thấy mình thật đáng chán, đáng thương, tài cao nhưng không nên công danh.
- "Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng": Nhưng thực tế mình cũng có thành tích (đỗ vài kỳ thi Hương, thi Hội), có danh hiệu "cử nhân", "tú tài" (bia xanh, bảng vàng).
- Tổng thể: Một sự tự trào sâu sắc, mâu thuẫn giữa khát vọng cao lớn và thực tế tầm thường. Dù có danh, có tiếng nhưng vẫn "làng nhàng", vẫn không thể làm nên nghiệp lớn, vẫn phải chịu cảnh long đong, khiến bản thân tự thấy "ngán ngẩm", đầy chua chát.
câu 6: Từ nội dung, thông điệp của bài thơ, theo em,cống hiến của giới trẻ ngày nay không chỉ là việc lớn lao, mà là từ những hành động nhỏ, thiết thực trong học tập, công việc và trách nhiệm cộng đồng, với tinh thần, tài năng,tinh thần và đạo đức.