Lê Quang Thắng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Quang Thắng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Vì sao cần phải hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước? Việc thống nhất về mặt Nhà nước là yêu cầu cấp thiết vì những lý do sau: Nguyện vọng của nhân dân: Sau nhiều năm chia cắt, nhân dân hai miền Nam - Bắc có mong muốn cháy bỏng là được sum họp trong một gia đình chung, dưới một Chính phủ thống nhất. Hoàn thiện về mặt pháp lý: Lúc bấy giờ, mỗi miền có một bộ máy nhà nước riêng (Miền Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, miền Nam là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Để đại diện cho nước Việt Nam thống nhất trên trường quốc tế, cần có một Nhà nước duy nhất. Yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội: Cần có một cơ quan quyền lực nhà nước chung để vạch ra kế hoạch phát triển kinh tế thống nhất trên quy mô toàn quốc, tận dụng nguồn lực của cả hai miền. Bảo vệ Tổ quốc: Tạo ra sức mạnh tổng hợp để giữ vững an ninh quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ. b. Nét chính về quá trình thống nhất đất nước về mặt Nhà nước Quá trình này diễn ra qua các mốc thời gian quan trọng từ cuối năm 1975 đến giữa năm 1976: Hội nghị Hiệp thương chính trị (11/1975): Đại biểu hai miền Nam - Bắc họp tại Sài Gòn, khẳng định sự cần thiết và thống nhất hoàn toàn về chủ trương, biện pháp nhằm thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung (25/4/1976): Hơn 23 triệu cử tri cả nước đi bỏ phiếu với tinh thần phấn khởi. Đây là sự kiện quan trọng nhất, bầu ra Quốc hội khóa VI - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI (từ 24/6 đến 3/7/1976): Đây là kỳ họp đưa ra những quyết định lịch sử: Đặt tên nước là: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thủ đô là Hà Nội; Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng; Quốc ca là bài Tiến quân ca. Đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Bầu các chức danh lãnh đạo cao nhất: Chủ tịch nước là Tôn Đức Thắng, Trường Chinh làm Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng Chính phủ. Ý nghĩa: Với kỳ họp này, công cuộc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước đã hoàn thành, tạo điều kiện thuận lợi để cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

a. Đặc điểm và ý nghĩa của địa hình, đất đai Đặc điểm: Địa hình: Rất phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đâm ngang ra sát biển (như đèo Hải Vân, đèo Cả). Địa hình hẹp ngang, phía tây là núi, gò đồi, phía đông là dải đồng bằng nhỏ hẹp. Đường bờ biển khúc khuỷu, nhiều vũng vịnh, bán đảo. Đất đai: Vùng đồi núi phía Tây chủ yếu là đất feralit. Vùng đồng bằng ven biển chủ yếu là đất cát pha và đất phù sa nghèo dinh dưỡng hơn so với đồng bằng sông Hồng hay sông Cửu Long. Ý nghĩa: Kinh tế biển: Bờ biển khúc khuỷu tạo điều kiện xây dựng nhiều cảng nước sâu (Cam Ranh, Dung Quất, Kỳ Hà) và phát triển du lịch biển, nuôi trồng thủy sản. Nông - lâm nghiệp: Vùng gò đồi phía Tây thuận lợi cho chăn nuôi bò thịt, bò sữa và trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp. Đồng bằng tuy hẹp nhưng vẫn là nơi tập trung dân cư, sản xuất lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Giao thông: Địa hình núi sát biển gây khó khăn cho giao thông Bắc - Nam (phải làm nhiều hầm, đèo). b. Hạn chế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Dù có nhiều tiềm năng, nhưng vùng này gặp không ít trở ngại đối với phát triển kinh tế - xã hội: Thiên tai khắc nghiệt: Đây là vùng chịu ảnh hưởng mạnh của bão, lũ lụt (thường là lũ quét, lũ ống do sông ngắn và dốc). Mùa khô kéo dài gây tình trạng thiếu nước nghiêm trọng và hiện tượng sa mạc hóa (đặc biệt ở Ninh Thuận, Bình Thuận). Tài nguyên khoáng sản: Nhìn chung không quá giàu có so với các vùng khác. Chủ yếu là vật liệu xây dựng, cát thủy tinh, vàng và dầu khí (ở thềm lục địa). Thiếu các loại khoáng sản năng lượng lớn tại chỗ để phát triển công nghiệp nặng quy mô lớn. Quỹ đất nông nghiệp hạn chế: Đồng bằng nhỏ hẹp, đất đai kém màu mỡ, dễ bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, gây khó khăn cho việc đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ. Sông ngòi: Sông ngắn, dốc, lưu lượng nước thay đổi thất thường giữa hai mùa, gây khó khăn cho việc điều tiết nước tưới tiêu và phát triển giao thông đường thủy nội địa.