Nguyễn Công Khang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Công Khang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) Di tích lịch sử là tài sản quý giá của dân tộc, lưu giữ những dấu ấn văn hóa, truyền thống và lịch sử của đất nước. Vì vậy, việc hạn chế sự xuống cấp của các di tích là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Trước hết, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lí, thường xuyên kiểm tra, trùng tu và bảo tồn di tích đúng cách, tránh tu sửa tùy tiện làm mất đi giá trị nguyên gốc. Bên cạnh đó, cần đầu tư kinh phí hợp lí để bảo dưỡng, tôn tạo các công trình đã xuống cấp. Công tác tuyên truyền cũng rất quan trọng: cần nâng cao ý thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, về việc giữ gìn và bảo vệ di sản. Mỗi người khi tham quan di tích cần có ý thức không xả rác, không vẽ bậy, không phá hoại cảnh quan. Nhà trường cũng nên tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan thực tế để học sinh hiểu hơn về giá trị của di tích lịch sử. Khi mỗi người đều có trách nhiệm, các di tích sẽ được bảo tồn bền vững, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc cho mai sau. Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) Bài thơ Đường vào Yên Tử của Hoàng Quang Thuận là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ mà thơ mộng của non thiêng Yên Tử, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương, niềm xúc động và lòng thành kính của tác giả trước cảnh sắc nơi đất Phật. Trước hết, bài thơ đã khắc họa vẻ đẹp đổi thay của con đường vào Yên Tử. Câu thơ mở đầu “Đường vào Yên Tử có khác xưa” gợi sự đổi mới, khang trang hơn của cảnh vật nơi đây. Hình ảnh “vẹt đá mòn chân lễ hội mùa” vừa gợi con đường hành hương quen thuộc, vừa cho thấy sự đông vui, nhộn nhịp của dòng người trẩy hội. Qua đó, tác giả kín đáo thể hiện niềm vui trước sự gắn bó của con người với chốn linh thiêng. Thiên nhiên Yên Tử hiện lên thật hùng vĩ, tràn đầy sức sống. Hình ảnh “trập trùng núi biếc cây xanh lá” mở ra không gian núi rừng bao la với sắc xanh ngút ngàn. Câu thơ “đàn bướm tung bay trong nắng trưa” lại điểm xuyết nét mềm mại, sinh động cho bức tranh thiên nhiên. Sự kết hợp giữa nét hùng tráng của núi rừng và vẻ nhẹ nhàng của cánh bướm khiến cảnh sắc Yên Tử trở nên vừa khoáng đạt vừa thơ mộng. Không chỉ vậy, bài thơ còn làm nổi bật vẻ đẹp huyền ảo, thanh tịnh của non thiêng Yên Tử. Tác giả miêu tả “cây rừng phủ núi thành từng lớp”, tạo cảm giác núi non điệp trùng, sâu thẳm. Hình ảnh so sánh “muôn vạn đài sen mây đong đưa” rất độc đáo, khiến mây trời như những đài sen bồng bềnh giữa chốn Phật môn. Câu thơ “Trông như đám khói người Dao vậy” gợi nét gần gũi, chân thực của đời sống miền núi. Đặc biệt, hình ảnh “thấp thoáng trời cao những mái chùa” khép lại bài thơ bằng vẻ đẹp linh thiêng, cổ kính. Những mái chùa ẩn hiện giữa trời mây không chỉ làm đẹp thêm cảnh sắc mà còn gợi chiều sâu tâm linh của Yên Tử. Bài thơ thành công nhờ thể thơ thất ngôn bát cú cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh, phép so sánh độc đáo, giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết. Qua đó, tác giả đã vẽ nên bức tranh Yên Tử đẹp như chốn bồng lai, đồng thời gửi gắm tình yêu thiên nhiên, quê hương và niềm tự hào về vẻ đẹp đất nước.

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin (thuyết minh). Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là Phố cổ Hội An / đô thị cổ Hội An cùng những giá trị lịch sử, văn hóa và quá trình được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Câu 3. Câu văn trình bày thông tin theo trình tự thời gian. Tác giả lần lượt nêu các giai đoạn phát triển của thương cảng Hội An: hình thành từ thế kỉ XVI, phát triển cực thịnh vào thế kỉ XVII–XVIII, suy giảm từ thế kỉ XIX. Cách trình bày này giúp người đọc thấy rõ quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của Hội An qua từng thời kì lịch sử, từ đó hiểu hơn về giá trị lâu đời của đô thị cổ này. Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh minh họa Phố cổ Hội An. Tác dụng: Giúp người đọc hình dung rõ hơn vẻ đẹp cổ kính của Hội An. Làm cho thông tin trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp nhận. Tăng tính thuyết phục cho nội dung giới thiệu về giá trị văn hóa, lịch sử của Hội An. Câu 5. Mục đích của văn bản: cung cấp, giới thiệu thông tin về lịch sử hình thành, giá trị văn hóa – lịch sử của Hội An và khẳng định vị thế di sản thế giới của nơi đây. Nội dung của văn bản: trình bày vị trí địa lí, quá trình phát triển của thương cảng Hội An, những giá trị nổi bật về kiến trúc, văn hóa, lịch sử, vai trò giao lưu văn hóa Đông – Tây và sự kiện Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi người, nhất là thế hệ trẻ hôm nay. Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn dân tộc, chứa đựng lịch sử, văn hóa và tâm hồn người Việt qua bao thế hệ. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước hết là sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn: phát âm rõ ràng, viết đúng chính tả, dùng từ chính xác, đặt câu mạch lạc. Bên cạnh đó, mỗi người cần biết nói lời hay, ý đẹp, giao tiếp văn minh, lịch sự để thể hiện sự tôn trọng với người khác. Trong thời đại công nghệ, nhiều bạn trẻ có thói quen dùng ngôn ngữ lệch chuẩn, viết tắt tùy tiện, pha tạp tiếng nước ngoài khiến tiếng Việt bị mai một vẻ đẹp vốn có. Vì vậy, chúng ta cần có ý thức học tập, trau dồi vốn từ, yêu thích văn học dân tộc và sử dụng tiếng Việt một cách đúng đắn trong đời sống hằng ngày. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt chính là giữ gìn cội nguồn, bản sắc và niềm tự hào dân tộc. Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) Bài thơ Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân của Phạm Văn Tình là lời ca ngợi tha thiết về vẻ đẹp, sức sống bền bỉ và giá trị thiêng liêng của tiếng Việt. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm tự hào dân tộc và tình yêu sâu nặng với tiếng mẹ đẻ. Trước hết, bài thơ khẳng định chiều sâu lịch sử lâu đời của tiếng Việt. Tác giả mở đầu bằng hình ảnh tiếng Việt có từ “thời xa lắm”, gắn với buổi đầu dựng nước và giữ nước. Những chi tiết như “mang gươm mở cõi dựng kinh thành”, “vó ngựa hãm Cổ Loa”, “mũi tên thần bắn trả” đã gợi lại truyền thống hào hùng của dân tộc. Tiếng Việt vì thế không chỉ là ngôn ngữ giao tiếp mà còn là chứng nhân lịch sử, đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm. Không chỉ mang chiều sâu lịch sử, tiếng Việt còn kết tinh vẻ đẹp văn hóa và tâm hồn dân tộc. Tác giả nhắc đến “Bài Hịch năm nào”, nàng Kiều, lời Bác truyền để khẳng định tiếng Việt đã lưu giữ những giá trị tinh thần cao đẹp: lòng yêu nước, tinh thần nhân văn, ý chí vượt khó. Đặc biệt, hình ảnh “tiếng mẹ”, “tiếng em thơ bập bẹ”, “lời ru”, “câu hát dân ca” đã làm nổi bật sự gần gũi, thân thương của tiếng Việt trong đời sống hằng ngày. Tiếng Việt hiện lên như dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thuở ấu thơ. Ở khổ cuối, bài thơ thể hiện sức sống trẻ trung, mãnh liệt của tiếng Việt trong thời đại mới. Tác giả khẳng định: “Tiếng Việt ngàn đời hôm nay như trẻ lại”. Hình ảnh “bánh chưng xanh”, “bóng chim Lạc”, “nảy lộc đâm chồi” mang đậm sắc xuân, vừa gợi truyền thống vừa biểu tượng cho sự hồi sinh, phát triển không ngừng của tiếng Việt. Tiếng Việt vì thế luôn tươi mới, giàu sức sống, tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trong tương lai. Bài thơ thành công nhờ thể thơ tự do, giọng điệu tha thiết, tự hào; hình ảnh giàu sức gợi; nhiều biện pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, liệt kê. Tất cả đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của tiếng Việt. Qua bài thơ, người đọc càng thêm yêu quý, trân trọng và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội/bình luận). Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là: việc giữ gìn, đề cao tiếng Việt và lòng tự trọng dân tộc trong quá trình hội nhập với nước ngoài. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã đưa ra các lí lẽ và bằng chứng: Ở Hàn Quốc, dù kinh tế phát triển, hội nhập mạnh nhưng: Quảng cáo thương mại không đặt ở công sở, hội trường, danh lam thắng cảnh. Nếu có chữ nước ngoài thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn. Khắp nơi nổi bật chữ Hàn Quốc. Báo chí ở Hàn Quốc: Báo phát hành trong nước hầu như không dùng tiếng nước ngoài. Chỉ một số tạp chí khoa học, ngoại thương mới ghi mục lục bằng tiếng nước ngoài để hỗ trợ người đọc quốc tế. So sánh với thực tế ở Việt Nam: Nhiều bảng hiệu tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt. Một số báo chí có thói quen tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, gây lãng phí thông tin cho người đọc trong nước. Câu 4. Thông tin khách quan: “Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại ‘con rồng nhỏ’.” Ý kiến chủ quan: “Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.” Câu 5. Cách lập luận của tác giả chặt chẽ, thuyết phục: Nêu vấn đề rõ ràng từ trải nghiệm thực tế. Sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Dẫn chứng cụ thể, xác thực. Kết luận ngắn gọn nhưng giàu tính gợi mở, khiến người đọc suy nghĩ về ý thức giữ gìn tiếng mẹ đẻ và lòng tự trọng dân tộc.

Câu1:

Nhân vật bà má Hậu Giang trong văn bản đã để lại ấn tượng sâu sắc về hình ảnh người mẹ Nam Bộ giàu lòng yêu nước và đức hi sinh cao cả. Trước hết, bà má hiện lên là người phụ nữ nông dân bình dị, mộc mạc, gắn bó với mảnh đất quê hương Hậu Giang bằng tất cả tình yêu chân thành. Cuộc sống còn nhiều gian khổ, mất mát nhưng bà vẫn kiên cường, bền bỉ, không than vãn. Đặc biệt, ở bà má tỏa sáng tinh thần yêu nước sâu sắc. Bà sẵn sàng che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng, coi việc bảo vệ cách mạng như trách nhiệm thiêng liêng của bản thân. Dù phải đối mặt với hiểm nguy, thậm chí là hi sinh, bà vẫn một lòng son sắt với cách mạng. Không chỉ vậy, bà má còn mang vẻ đẹp của người mẹ Việt Nam giàu đức hi sinh, luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên nỗi đau riêng. Qua hình tượng bà má Hậu Giang, tác giả đã ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Nam Bộ nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong những năm tháng kháng chiến gian khổ.

Câu2:

Trong văn bản “Bà má Hậu Giang”, hình ảnh bà má hiện lên thật giản dị nhưng vô cùng cao đẹp. Bà là người mẹ Nam Bộ giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng để che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng. Từ câu chuyện xúc động ấy, mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay, cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của Tổ quốc. Trong những năm tháng chiến tranh, biết bao con người bình dị như bà má Hậu Giang đã không ngại hiểm nguy, hi sinh cả tính mạng để bảo vệ cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc. Chính những tấm gương ấy đã đem lại nền hòa bình, độc lập mà chúng ta đang được hưởng hôm nay. Vì vậy, sống thờ ơ, vô trách nhiệm chính là đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong thời bình, trách nhiệm của thế hệ trẻ được thể hiện trước hết qua việc học tập và rèn luyện. Thực tế cho thấy, nhiều học sinh, sinh viên đã đạt thành tích cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế, mang vinh quang về cho đất nước. Bên cạnh đó, tuổi trẻ Việt Nam còn tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện như “Mùa hè xanh”, “Tiếp sức mùa thi”, giúp đỡ người dân vùng khó khăn, thể hiện tinh thần nhân ái và trách nhiệm với cộng đồng. Trong thời gian dịch bệnh và thiên tai, nhiều đoàn viên, thanh niên đã xung phong tham gia hỗ trợ người dân, góp phần bảo vệ cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương tích cực, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống ích kỉ, lười học, vi phạm pháp luật, sa vào các tệ nạn xã hội. Những biểu hiện đó cần được phê phán để mỗi người trẻ tự điều chỉnh hành vi, sống có ích hơn cho xã hội. Tóm lại, từ hình ảnh bà má Hậu Giang giàu lòng yêu nước, thế hệ trẻ hôm nay cần ý thức sâu sắc trách nhiệm của mình đối với đất nước. Bằng việc học tập tốt, sống có lý tưởng và tích cực cống hiến, tuổi trẻ sẽ góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ song thất lục bát

Câu 2. Sự việc xảy ra là: Một tên giặc Pháp (thằng Tây) đột nhập vào túp lều tranh của bà má Hậu Giang, đe dọa, tra tấn bà để khai thác thông tin về du kích (các con bà đang hoạt động trong rừng U Minh). Bà má kiên quyết không khai, mắng chửi kẻ thù và khẳng định tinh thần bất khuất dù phải hy sinh.

Câu 3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: Đột nhập, đạp đổ liếp mành, nghênh ngang xông vào nhà. Rống hét, đe dọa chém đầu, giậm gót giày đạp lên đầu bà má. Kề lưỡi gươm lạnh toát vào hông bà. Nhận xét: Tên giặc là kẻ xâm lược tàn bạo, hung ác, mất nhân tính, đại diện cho bản chất của thực dân Pháp: cướp nước, giết dân, dùng bạo lực để đàn áp.

Câu 4. Biện pháp tu từ: So sánh (ẩn dụ so sánh). Hai dòng thơ: “Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!” Tác dụng: Làm nổi bật phẩm chất gan dạ, anh hùng, mạnh mẽ và tinh khiết, bền bỉ của các con bà má (du kích). Gợi hình ảnh cụ thể, gần gũi với thiên nhiên miền Nam (rừng đước vững chãi, rừng chàm thơm ngát), tăng sức biểu cảm, thể hiện niềm tự hào, tin tưởng vào thế hệ trẻ cách mạng.

Câu 5. Từ hình tượng bà má Hậu Giang, em suy ngẫm rằng: Nhân dân ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc luôn có tinh thần yêu nước sâu sắc, bất khuất và sẵn sàng hy sinh. Dù là người già yếu, nghèo khó, bà má vẫn kiên cường trước kẻ thù, không sợ chết, chỉ lo bảo vệ đồng bào và cách mạng. Điều này thể hiện truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, lòng trung kiên với dân tộc, góp phần làm nên sức mạnh đoàn kết để giành độc lập, tự do. Hình ảnh bà má là biểu tượng đẹp đẽ về lòng yêu nước của người Việt Nam qua các cuộc kháng chiến.

Câu 1 :

Trong truyện ngắn “Người bán mai vàng” của Nguyễn Quang Hà, nhân vật Mai hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho người lao động nghèo khó nhưng giàu nghị lực, tình thương và lòng gắn bó sâu sắc với quê hương, đất đai. Mai sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh cơ hàn, sống cùng cha già trong vườn mai vàng bên chân núi Ngũ Tây (Huế). Từ nhỏ, Mai đã quen với lao động vất vả, chăm sóc vườn mai – nguồn sống duy nhất của hai cha con. Khi nhặt được cô bé Lan mồ côi bên Thương Bạc trong đêm giao thừa lạnh giá, Mai đã nhân hậu đưa về nuôi như em gái, rồi sau đó nên duyên vợ chồng. Hành động này thể hiện tấm lòng nhân ái, giàu tình thương của Mai đối với những mảnh đời bất hạnh, đồng thời cho thấy anh là người có trách nhiệm và biết sẻ chia. Mai trưởng thành qua những gian nan của cuộc sống: thiên tai, hạn hán, nghèo đói liên miên. Dù vậy, anh không bao giờ bỏ cuộc. Cùng vợ Lan và cha già, Mai gánh nước, cắt cỏ, chăm sóc vườn mai qua những mùa khắc nghiệt. Chính tình cảm gia đình – tình cha con, tình vợ chồng – trở thành động lực mạnh mẽ giúp Mai vượt qua tất cả. Từ một chàng trai nghèo, Mai trở thành trụ cột gia đình, mang lại hạnh phúc cho người thân và hồi sinh vườn mai sau những năm tháng khô hạn. Mai không chỉ lao động bằng sức lực mà còn bằng cả trái tim, tin tưởng vào “chữ Tâm” – giá trị nhân sinh cao đẹp mà cha anh truyền lại. Qua nhân vật Mai, Nguyễn Quang Hà đã khắc họa thành công hình ảnh người lao động Huế chân chất, cần cù, giàu lòng nhân ái và nghị lực sống. Mai đại diện cho lớp người bình dị nhưng kiên cường, luôn tin rằng tình thương gia đình và lao động chân chính sẽ chiến thắng mọi nghịch cảnh. Nhân vật Mai không chỉ là biểu tượng cho sức sống bền bỉ của con người Huế mà còn gợi lên niềm tin vào tương lai tươi sáng, khi “vườn mai vàng” – biểu tượng của sự hồi sinh – được trao lại cho thế hệ sau.

Câu 2 :

Trong thời đại số hóa và mạng xã hội bùng nổ, lối sống của giới trẻ đang có nhiều thay đổi đáng kể. Bên cạnh những mặt tích cực, một bộ phận không nhỏ giới trẻ đang chạy theo lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” – những thứ không thực sự thuộc về mình. Hiện tượng này không chỉ phổ biến mà còn đáng báo động, đòi hỏi sự nhìn nhận và điều chỉnh kịp thời. Trước hết, cần hiểu rõ khái niệm và biểu hiện của lối sống này. Khoe khoang, phô trương “ảo” là hành vi cố tình thể hiện, khoe mẽ những thứ không phải là của mình hoặc không phản ánh đúng thực tế cuộc sống, nhằm tạo ấn tượng giàu có, thành công, thời thượng. Biểu hiện rõ nét nhất là trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Instagram, TikTok: đăng ảnh xe sang, túi xách hàng hiệu, du lịch đắt đỏ, bữa ăn sang chảnh… dù thực tế chỉ là thuê, mượn, dùng filter chỉnh sửa, hoặc thậm chí là ảnh cũ, ảnh của người khác. Nhiều bạn trẻ còn “sống ảo” bằng cách tạo hình ảnh cuộc sống xa hoa để nhận được sự chú ý, like, comment. Nguyên nhân dẫn đến lối sống này xuất phát từ nhiều phía. Thứ nhất là tâm lý muốn được công nhận, khẳng định bản thân trong xã hội ảo. Giới trẻ dễ bị cuốn vào vòng xoáy so sánh, sợ bị coi thường nếu không có những thứ “xịn sò”. Thứ hai, áp lực từ bạn bè và cộng đồng mạng khiến họ chạy theo trào lưu. Thứ ba, sự phát triển của công nghệ – các ứng dụng chỉnh sửa ảnh, filter, dịch vụ cho thuê đồ hiệu, xe sang – đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc phô trương “ảo”. Cuối cùng, sự thiếu giáo dục về giá trị sống chân thực từ gia đình và nhà trường khiến nhiều bạn trẻ dễ bị ảnh hưởng. Hậu quả của lối sống này vô cùng nghiêm trọng. Về mặt cá nhân, nó gây áp lực tâm lý lớn, dẫn đến tự ti, trầm cảm, thậm chí nợ nần hoặc vi phạm pháp luật để có tiền “sống ảo”. Về mặt xã hội, nó làm lệch lạc giá trị sống: coi trọng hình thức hơn nội dung, chạy theo cái “ảo” thay vì cái “thật”. Hiện tượng này còn làm suy giảm lòng tin trong cộng đồng, khi mọi người nghi ngờ tính chân thực của những gì được đăng tải, tạo ra sự so sánh, đố kỵ, khiến xã hội thiếu lành mạnh. Ví dụ đời thực minh chứng rõ nét cho vấn đề này. Nhiều trường hợp bạn trẻ vay nợ để thuê xe sang chụp ảnh đăng Facebook, sau đó không trả được nợ, rơi vào vòng luẩn quẩn. Hay những vụ việc “hot girl” khoe cuộc sống giàu sang nhưng thực tế bị lộ ra là “sống ảo”, gây xôn xao dư luận và khiến người khác thất vọng. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một mặt khác: Không phải mọi hành vi đăng ảnh đẹp hay chia sẻ thành tựu đều là khoe khoang “ảo”. Nhiều bạn trẻ đăng tải những khoảnh khắc tích cực để lan tỏa năng lượng tốt, truyền cảm hứng. Vấn đề chỉ xảy ra khi việc phô trương trở thành mục đích chính, không dựa trên thực tế. Từ những phân tích trên, chúng ta rút ra bài học sâu sắc về nhận thức và hành động. Về nhận thức, mỗi người trẻ cần hiểu rằng giá trị con người nằm ở phẩm chất, tài năng, nỗ lực thực sự chứ không phải ở vẻ bề ngoài hào nhoáng. Về hành động, hãy sống chân thực, trân trọng những gì mình có, rèn luyện bản lĩnh không chạy theo trào lưu. Gia đình, nhà trường cần giáo dục giá trị sống đúng đắn; các nền tảng mạng xã hội nên kiểm soát nội dung “ảo”, khuyến khích chia sẻ tích cực. Tóm lại, lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” chỉ mang lại sự hư ảo nhất thời. Hãy sống thật với chính mình, vì chỉ có như vậy mới tìm thấy hạnh phúc đích thực và góp phần xây dựng một xã hội nhân văn.

Câu 1: ngôi kể của văn bản trên là ngôi thứ ba

Câu 2: Truyện ngắn kể về hai cha con ông già Mai sống nghèo khó ở vườn mai vàng chân núi Ngũ Tây ( Huế). Mai nhặt được cô bé Lan mồ côi bên Thương Bạc, đưa về nuôi như con. Lan lớn lên xinh đẹp, nên duyên vợ chồng với Mai. Vườn mai gặp hạn hán, thiên tai, nhưng gia đình vượt qua nhờ tình thương và nghị lực. Ông già Mai mù, già yếu, cuối đời chứng kiến vườn mai hồi sinh, con cháu hạnh phúc. Truyện kết thúc bằng niềm tin vào sức sống bền bỉ của tình cảm gia đình và lao động, với vườn mai vàng như biểu tượng cho sự hồi sinh.

Câu 3: Ông già Mai là người lao động cần cù, giàu tình thương và chịu thương chịu khó. Dù mù lòa, nghèo khó, ông vẫn gắn bó với vườn mai – nguồn sống và niềm tin. Ông nhân hậu khi nhặt Lan về nuôi, yêu thương con trai Mai và con dâu Lan như ruột thịt. Ông có tâm hồn nghệ sĩ (cảm nhận hoa mai bằng mùi hương dù mù), giàu nghị lực vượt nghịch cảnh, và tin tưởng vào "chữ Tâm" – giá trị nhân sinh cao đẹp. Ông đại diện cho lớp người lao động Huế chân chất, bền bỉ

Câu 4: Em thích nhất chi tiết ông già Mai mù vẫn cảm nhận được hoa mai sắp nở (ngồi dựa cột, hít hà mùi hương, vuốt ve cây mai, tự nhủ "Đời mình sắp qua rồi. Đã đến đời con cháu..."). Vì sao: Chi tiết này khắc họa sâu sắc tình yêu thiên nhiên, lao động và niềm tin bất diệt vào sự sống, dù ông già yếu, mù lòa. Nó gợi cảm xúc xúc động, thể hiện sức sống bền bỉ của con người Huế gắn bó với đất, với hoa mai – biểu tượng của sự hồi sinh.

Câu 5: Yếu tố tình cảm gia đình là động lực lớn nhất giúp Mai vượt qua nghèo khó, thiên tai. Từ việc nhặt Lan về nuôi, Mai có thêm người thân, thêm trách nhiệm, nên càng chăm chỉ lao động. Tình cảm vợ chồng Mai – Lan, cha con Mai – ông già giúp họ gắn bó, sẻ chia, hồi sinh vườn mai sau hạn hán. Tình cảm ấy làm Mai trưởng thành, từ chàng trai nghèo trở thành trụ cột gia đình, mang lại hạnh phúc và sự hồi sinh cho vườn mai. Nó chứng minh "Đời không gì bằng chữ Tâm" – tình thương gia đình vượt lên mọi nghịch cảnh.

Câu 1: ngôi kể của văn bản trên là ngôi thứ ba

Câu 2: Truyện ngắn kể về hai cha con ông già Mai sống nghèo khó ở vườn mai vàng chân núi Ngũ Tây ( Huế). Mai nhặt được cô bé Lan mồ côi bên Thương Bạc, đưa về nuôi như con. Lan lớn lên xinh đẹp, nên duyên vợ chồng với Mai. Vườn mai gặp hạn hán, thiên tai, nhưng gia đình vượt qua nhờ tình thương và nghị lực. Ông già Mai mù, già yếu, cuối đời chứng kiến vườn mai hồi sinh, con cháu hạnh phúc. Truyện kết thúc bằng niềm tin vào sức sống bền bỉ của tình cảm gia đình và lao động, với vườn mai vàng như biểu tượng cho sự hồi sinh.

Câu 3: Ông già Mai là người lao động cần cù, giàu tình thương và chịu thương chịu khó. Dù mù lòa, nghèo khó, ông vẫn gắn bó với vườn mai – nguồn sống và niềm tin. Ông nhân hậu khi nhặt Lan về nuôi, yêu thương con trai Mai và con dâu Lan như ruột thịt. Ông có tâm hồn nghệ sĩ (cảm nhận hoa mai bằng mùi hương dù mù), giàu nghị lực vượt nghịch cảnh, và tin tưởng vào "chữ Tâm" – giá trị nhân sinh cao đẹp. Ông đại diện cho lớp người lao động Huế chân chất, bền bỉ

Câu 4: Em thích nhất chi tiết ông già Mai mù vẫn cảm nhận được hoa mai sắp nở (ngồi dựa cột, hít hà mùi hương, vuốt ve cây mai, tự nhủ "Đời mình sắp qua rồi. Đã đến đời con cháu..."). Vì sao: Chi tiết này khắc họa sâu sắc tình yêu thiên nhiên, lao động và niềm tin bất diệt vào sự sống, dù ông già yếu, mù lòa. Nó gợi cảm xúc xúc động, thể hiện sức sống bền bỉ của con người Huế gắn bó với đất, với hoa mai – biểu tượng của sự hồi sinh.

Câu 5: Yếu tố tình cảm gia đình là động lực lớn nhất giúp Mai vượt qua nghèo khó, thiên tai. Từ việc nhặt Lan về nuôi, Mai có thêm người thân, thêm trách nhiệm, nên càng chăm chỉ lao động. Tình cảm vợ chồng Mai – Lan, cha con Mai – ông già giúp họ gắn bó, sẻ chia, hồi sinh vườn mai sau hạn hán. Tình cảm ấy làm Mai trưởng thành, từ chàng trai nghèo trở thành trụ cột gia đình, mang lại hạnh phúc và sự hồi sinh cho vườn mai. Nó chứng minh "Đời không gì bằng chữ Tâm" – tình thương gia đình vượt lên mọi nghịch cảnh.