Quách Đoàn Bảo Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) Bài thơ Bến đò ngày mưa gợi lên trong em nhiều cảm xúc bâng khuâng, man mác buồn về một bến đò quê trong ngày mưa lạnh. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi niềm xót xa, thương cảm trước cảnh vật và cuộc sống con người nơi thôn quê nghèo vắng vẻ. Qua những hình ảnh giàu sức gợi như “tre rũ rợi”, “chuối bơ phờ”, “con thuyền cắm lại đậu trơ vơ”, thiên nhiên hiện lên ảm đạm, hiu hắt, dường như cũng mang tâm trạng buồn bã của con người. Không chỉ cảnh vật, con người trong bài thơ cũng lam lũ, cơ cực: vài quán hàng vắng khách đứng co ro, bác lái đò ngồi hút điếu thuốc chờ khách, bà hàng ho sặc trong hơi lạnh, người đi chợ phải “đội cả trời mưa”. Tất cả tạo nên bức tranh quê chân thực mà thấm đẫm nỗi buồn. Chủ đề của bài thơ là sự cảm thương đối với cuộc sống nghèo khó, quạnh quẽ của người dân quê trước thiên nhiên khắc nghiệt; đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ qua cái nhìn tinh tế và giàu rung cảm. Đọc bài thơ, em càng trân trọng hơn vẻ đẹp bình dị và những con người tảo tần nơi làng quê Việt Nam. --- Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên, là mảnh đất gắn bó với những kỉ niệm đầu đời thân thương. Trong cuộc đời mỗi con người, quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng và thiêng liêng. Trước hết, quê hương là cội nguồn hình thành nhân cách của mỗi người. Từ tiếng ru của mẹ, lời dạy của cha, những câu chuyện của bà, đến mái trường làng và tình làng nghĩa xóm, tất cả đã nuôi dưỡng tâm hồn ta từng ngày. Quê hương dạy ta biết yêu thương, biết sẻ chia, biết sống chân thành và có trách nhiệm. Những giá trị đạo đức đầu tiên mà con người có được thường bắt đầu từ chính nơi mình sinh ra. Bên cạnh đó, quê hương còn là điểm tựa tinh thần vững chắc trong suốt hành trình cuộc sống. Khi thành công, quê hương là nơi để ta trở về chia vui; khi thất bại hay mệt mỏi, quê hương là chốn bình yên nâng đỡ tâm hồn. Dù đi xa đến đâu, hình ảnh con đường làng, dòng sông, cánh đồng hay mái nhà cũ vẫn luôn ở trong tim mỗi người. Chính tình yêu quê hương giúp con người có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn, thử thách. Không những vậy, quê hương còn nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm cống hiến. Yêu quê hương không chỉ là nhớ thương mà còn phải biết hành động: học tập tốt, lao động chăm chỉ, giữ gìn truyền thống văn hóa, bảo vệ môi trường sống và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Nhiều người con xa quê đã nỗ lực thành công rồi quay về đóng góp cho nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những người sống thờ ơ với quê hương, quên đi nguồn cội, chỉ biết hưởng thụ cho riêng mình. Đó là lối sống đáng phê phán. Mỗi người cần hiểu rằng không có quê hương thì khó có thể có một con người hoàn thiện. Quê hương là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn, là nơi bắt đầu và cũng là nơi để trở về. Dù mai này đi đâu, làm gì, mỗi chúng ta hãy luôn ghi nhớ và trân trọng quê hương của mình, bởi quê hương chính là một phần không thể thiếu trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 1thể thơ tám chữ
Câu 2 đề tài phong cảnh nông thôn cụ thể là bến đầu quê những ngày mưa buồn
Câu 3 biện pháp tu từ pháp nhân hóa "tre rũ rượi", "chuối bơ phờ" "đứng dầm mưa"
Tác dụng làm cảnh vật trở lên có tâm hồn sinh động nhấn mạnh giữ ấm mệt mỏi buồn bã và sức nặng của cơn mưa đè nặng lên cảnh vật làm cho câu văn câu thơ tăng tính biểu cảm sinh động giàu hình ảnh hấp dẫn.
Câu 4 hình ảnh và cảm nhận
Hình ảnh :xe rũ rượi ,suối bơ phờ, sông trôi dào dạt, thuyền chơ vơ, quán hàng vắng không khách, bác lái hút điếu ,bà hàng sủ sụ ho ,người đội thúng đi chợ
Cảm nhận là một bức tranh làng quê ngày mưa hiện lên đảm đạm lạnh lẽo buồn tẻ hiu quạnh và đầy lam lũ
Câu 5 tâm trạng cảm xúc
Bài thơ gọi lên cảm xúc buồn bã hiu hắt và sự cô đơn trước cảnh sắcảm đạm đồng thời thể hiện cái nhìn thấu cảm xót xa của tác giả đối với cuộc sống lao động vất vả của người dân quê trong những ngày mưa gió
Dưới đây là **bài làm mẫu** phù hợp mức THCS/THPT, diễn đạt rõ ràng, đúng yêu cầu độ dài: --- Câu 1. Nhân vật Mai trong đoạn trích là hình ảnh tiêu biểu cho người con lao động nghèo nhưng giàu tình cảm và trách nhiệm. Mai lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn, gắn bó với vườn mai và người cha mù, nên sớm hình thành đức tính cần cù, chịu thương chịu khó. Anh sống nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn khi cưu mang cô bé Lan mồ côi, rồi cùng nhau xây dựng gia đình trong nghèo khó mà ấm áp yêu thương. Trước những biến cố của thiên tai và cuộc sống, Mai không buông xuôi số phận mà luôn trăn trở tìm cách đổi thay để lo cho cha, cho vợ con. Hành trình đi tìm hiểu nghề trồng hoa cho thấy Mai là người biết suy nghĩ, dám nhìn thẳng vào thực tế và khao khát vươn lên. Tuy nhiên, anh cũng mang nỗi day dứt, bất lực khi nhận ra giới hạn của mình trước hoàn cảnh thiếu vốn, thiếu điều kiện. Qua nhân vật Mai, tác giả khắc họa vẻ đẹp của con người lao động bình dị: sống nghĩa tình, có trách nhiệm và luôn hướng về gia đình như điểm tựa tinh thần lớn nhất. Câu 2. Trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đang xuất hiện lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thực sự thuộc về mình. Đó là việc khoe của cải vay mượn, mượn xe sang để chụp ảnh, giả tạo cuộc sống giàu sang, thành đạt trên mạng nhằm thu hút sự chú ý và ngưỡng mộ của người khác. Nguyên nhân của lối sống này trước hết xuất phát từ tâm lí thích được công nhận, thích nổi bật giữa đám đông. Bên cạnh đó, mạng xã hội vô tình tạo ra áp lực so sánh, khiến nhiều bạn trẻ nghĩ rằng giá trị bản thân phải được đo bằng lượt thích, lượt theo dõi. Sự thiếu bản lĩnh, thiếu định hướng sống đúng đắn cũng khiến một số người dễ chạy theo hình thức bề ngoài thay vì trau dồi giá trị bên trong. Lối sống khoe khoang, phô trương “ảo” mang lại nhiều hệ quả tiêu cực. Nó khiến con người sống giả tạo, đánh mất sự chân thật và lòng tự trọng. Khi quá chú trọng đến vẻ hào nhoáng bên ngoài, người trẻ dễ sao nhãng việc học tập, rèn luyện nhân cách và năng lực thật sự. Nguy hiểm hơn, lối sống này còn tạo ra những giá trị lệch lạc, khiến xã hội đề cao hình thức hơn nội dung, vật chất hơn đạo đức. Tuy nhiên, không phải bạn trẻ nào cũng như vậy. Rất nhiều người trẻ hiện nay sống giản dị, chân thành, biết nỗ lực học tập và cống hiến để khẳng định bản thân bằng năng lực thực. Điều quan trọng là mỗi người cần nhận thức đúng: giá trị con người không nằm ở những gì khoe ra, mà ở những gì ta thực sự làm được. Là học sinh, chúng ta cần sống trung thực, khiêm tốn, biết hoàn thiện bản thân từng ngày. Chỉ khi sống thật với chính mình, con người mới có được sự tôn trọng bền vững từ người khác và từ xã hội.
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Câu 2. Văn bản kể về hai cha con ông già mù sống bằng nghề trồng mai ở núi Ngũ Tây. Ông già Mai hết lòng yêu thương vườn mai và coi đó như một phần máu thịt của mình. Mai lớn lên, lấy Lan – một cô bé mồ côi được anh cưu mang, gia đình họ gắn bó trong nghèo khó. Thiên tai liên tiếp khiến cuộc sống ngày càng chật vật. Nhận ra muốn đổi đời cần có vốn, Mai trăn trở tìm cách mưu sinh. Cuối cùng, ông già Mai chấp nhận cho cưa nửa vườn mai để giúp con có vốn làm ăn. Sự hi sinh ấy giúp ông tìm lại sức sống và niềm tin vào thế hệ sau. Câu 3. Ông già Mai là người chăm chỉ, giàu tình yêu thiên nhiên, gắn bó sâu nặng với vườn mai. Ông sống nhân hậu, vị tha, sẵn sàng hi sinh điều quý giá nhất của mình vì hạnh phúc của con cháu. Ông cũng là người từng trải, coi trọng chữ “Tâm” trong cuộc sống. Câu 4. Em thích nhất chi tiết ông già Mai chấp nhận cho con cưa nửa vườn mai. Vì chi tiết này thể hiện rõ sự hi sinh lớn lao của người cha, dám từ bỏ thứ gắn bó cả đời để con có cơ hội thay đổi cuộc sống, qua đó làm nổi bật tình cảm gia đình sâu nặng và cảm động. Câu 5. Tình cảm gia đình có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân vật Mai: đó là động lực để Mai vượt qua nghèo khó, biết yêu thương, trách nhiệm với cha, vợ và con. Nhờ tình cảm gia đình, Mai không buông xuôi số phận mà luôn trăn trở tìm con đường vươn lên trong cuộc sống.
a,A=Fs=500.200=100000(J)
b,P=A/t=100000/200=500(W)
a) Động năng ban đầu của vật: Wd0=1/2.m.v^2=1/2.2.10^2
=100J. b) Trong quá trình đi lên, tốc độ của vật giảm nên động năng của vật giảm. c) Khi đạt được độ cao cực đại thì động năng của vật Wd = 0. Áp dụng định lí động năng: Wd−Wd0=Ap⇔0−100=−P.hmax=−m.g.
hmax⇒hmax=5m. d) Từ lúc ném đến khi vật rơi xuống lại vị trí ném ban đầu, công của trọng lực AP = 0. Theo định lí động năng, vì AP = 0 nên động năng của vật không thay đổi → tốc độ của vật bằng với lúc bắt đầu ném là 10 m/s.